THÁNH AN-PHONG VỊ TRẠNG SƯ CỦA LƯƠNG TÂM[1]

GNsP (20.05.2015) – Sài Gòn – Ngay sau khi lãnh nhận sứ vụ linh mục, An-phong đã khởi sự công việc mục vụ giữa những người nghèo và bị bỏ rơi hơn cả ở Na-pô-li. Trong các thánh đường và tại các quảng trường, ngài qui tụ bên mình những người hành khất (lazzaroni), những kẻ cùng đinh trong xã hội. Vì ngài, họ sẵn lòng làm mọi chuyện. Cả chính quyền lẫn giáo quyền đều cảm thấy lo lắng. Ngài đã thu phục được con tim và tâm hồn của những con người đơn sơ này. Chính việc tiếp xúc với những kẻ nghèo hèn bình dị này đã khiến ngài lật đổ toàn bộ hệ thống luật lệ hà khắc mà trước đó các giáo sư thần học luân lý đã áp đặt cho ngài.

11Từ nay trở đi, An-phong sống trong một cuộc đối thoại liên tục, không chỉ với Chúa Giêsu, mà còn với người nghèo và những người bị thế giới này ruồng bỏ. Ngài cho phép họ thổ lộ lương tâm của mình. Chính họ đã giúp ngài hiểu rõ giá trị của lương tâm và đưa ngài tới những quyết định dựa trên nền tảng của lương tâm. Đối với An-phong, rõ ràng là cha xứ không nên bắt đầu bằng cách tra vấn những người như thế để hỏi xem họ có tuân giữ Thập Điều và bảng liệt kê các giới luật không. Về phần mình, ngài thường nói về 2 loại lòng mến: Lòng mến ơn cứu chuộc và lòng mến sự hư mất.

Khi An-phong lên miền núi Scala để dưỡng bệnh, ngài thấy dân chúng ở đây còn bị bỏ rơi hơn người nghèo ở kinh thành Na-pô-li. Họ là những người chăn cừu chăn dê, những người đốn củi và làm than trên núi.

Để có thể rao giảng Tin Mừng cho những con người hoàn toàn bị quên lãng này, An-phong đã tụ họp bên mình những người bạn cùng chí hướng. Họ gắn bó với nhau bằng ba lời khấn truyền thống và cùng nhau từ bỏ các phẩm tước cũng như địa vị danh dự trong Hội Thánh. Có thể coi đây là sự phản kháng chống lại thói ham danh tước địa vị thời bấy giờ, và cũng là cách tự giải phóng mình để phục vụ những con người bị bỏ rơi hơn cả.

LƯƠNG TÂM: TIÊU ĐIỂM ĐÍCH THỰC CỦA THẤN HỌC LUÂN LÝ

Khi vì bệnh tật không thể đi giảng, An-phong đã dồn hết năng lực cho việc tông đồ bằng ngòi bút. Trong khoảng 30 năm cuối đời, ngài đã viết 111 tác phẩm, đó là những tác phẩm sẽ được dịch ra các thứ tiếng khác với 17.000 lần xuất bản.

Vào tuổi 72, ngài đã viết cuốn Thực Hành Lòng Yêu Mến Chúa Giêsu, và cuốn sách được xem là kiệt tác của ngài. Trong tác phẩm này, An-phong đã xem xét lương tâm từ một cái nhìn Kitô giáo đích thực. Cuốn sách còn có thể được gọi bằng tên “Tập yêu mến Chúa Giêsu”. Cũng như trong nhiều tác phẩm tu đức khác, An-phong bắt đầu cuốn sách với câu nói của thánh Âu-tinh: “Hãy yêu, rồi làm điều bạn muốn”. Sau đó, theo cách mà hàng triệu triệu tâm hồn khuôn đúc nên lương tâm của mình, ngài đã phác thảo toàn bộ đời sống Kitô hữu với ngôn từ của thánh Phao-lô trong Bài ca đức mến (1Cr 13). Khi về già An-phong luôn đau yếu và gần như bị mù, một anh em trong Dòng đọc sách này cho ngài nghe, cụ già bèn hỏi: “Ai viết sách này mà hay thế?”, và ngài thêm rằng thần học luân lý cần phải được viết trong chiều hướng như thế.

Thánh An-phong đã viết bộ Thần Học Luân Lý trong nhiều năm và ngài viết cho các sinh viên thần học của Dòng. Bộ sách này nhắm đến việc bác bỏ những khuynh hướng hà khắc và vụ luật trong Hội Thánh thời bấy giờ. Cái mới trong tác phẩm của An-phong đó là ngài dành cả chương đầu tiên để nói về lương tâm. Cùng với thánh Phaolô, ngài nhấn mạnh tính thánh thiêng tuyệt đối của lương tâm: “Hành động nào không do xác tín đều là tội” (Rm 14, 23), và ngài thêm rằng: “Hành động nào ngược với lương tâm sẽ dẫn đến hoả ngục”.

Mối quan tâm hàng đầu của An-phong về lương tâm được tìm thấy trong Hiến Chế Giáo Hội Trong Thế Giới Ngày Nay của Công Đồng Vaticano II. Bản văn này được soạn thảo bởi cha Santino Capone và Bernard Häring, và được giới thiệu bởi Đức hồng y Döpfner cũng như các giám mục DCCT trong phiên bầu áp chót. Số 16 của văn kiện này viết như sau:

“Con người khám phá ra tận đáy lương tâm một lề luật mà chính con người không đặt ra cho mình, nhưng vẫn phải tuân theo, và tiếng nói của lương tâm luôn luôn kêu gọi con người phải yêu mến và thi hành điều thiện cũng như tránh điều ác. Tiếng nói ấy âm vang đúng lúc trong tâm hồn của chính con người: Hãy làm điều này, tránh điều kia. Quả thực con người có lề luật được Chúa khắc ghi trong tâm hồn. Tuân theo lề luật ấy chính là phẩm giá của con người và chính con người cũng sẽ bị xét xử theo lề luật ấy nữa. Lương tâm là điểm sâu kín nhất và là cung thánh của con người, nơi đây con người chỉ hiện diện một mình với Thiên Chúa và tiếng nói của Ngài vang dội trong thâm tâm họ. Lương tâm làm cho con người nhận biết một cách tuyệt vời luật mến Chúa, yêu người. Trung thành với lương tâm, các Kitô hữu phải liên kết với những người khác để tìm kiếm chân lý và giải quyết trong chân lý biết bao vấn đề luân lý được đặt ra trong đời sống cá nhân cũng như trong giao tiếp xã hội…

Tuy nhiên, lương tâm nhiều khi lầm lạc vì vô tri bất khả thắng, nhưng cũng không vì thế mà mất hết phẩm giá. Nhưng không thể nói như vậy khi con người ít lo lắng tìm kiếm điều chân và điều thiện, cũng như khi vì thói quen phạm tội mà lương tâm dần dần trở nên mù quáng” (GS 16).

Giống như John Henry Newman sau này, và còn hơn thế nữa, An-phong đã gặp nhiều chống đối vì lời dạy của ngài (về lương tâm). Những người kiểm duyệt sách ở Na-pô-li đã làm ngài căng thẳng đến độ ngài thổ lộ với một người bạn rằng: “Tôi hết chịu nổi rồi! Tôi chẳng còn gì để nói với họ nữa”. Sau đó, An-phong chuyển sách đến Venice để in, nơi có quan điểm khoan hòa hơn.

Hàng loạt bài viết xuất hiện để kết án và đe doạ An-phong, có một số bài nặc danh, và thậm chí còn được xúi dục bởi các nhân viên kiểm duyệt của giáo quyền. Có tới sáu lần, ngài can đảm bảo vệ lập trường của mình bằng các bài viết. Ngài không quan tâm đến chính mình, nhưng quan tâm đến sự phát triển lành mạnh của lương tâm nơi các Kitô hữu. Ngài hết lòng tôn trọng lương tâm của họ ngay cả khi họ bị hướng dẫn bởi một lương tâm sai lầm.

Sau khi Dòng Tên bị giải thể, An-phong liên tục bị kết án là đã theo giáo lý của Dòng Tên, và bị các cơ quan đời cũng như đạo công kích. Bạn bè và thậm chí anh em trong Dòng cũng yêu cầu ngài rút lại lời dạy của ngài về lương tâm, hay ít nhất làm dịu đi để tránh cho Nhà Dòng khỏi nguy cơ bị giải tán. An-phong đã viết cho một cha trong Dòng, người sau này sẽ kế nhiệm ngài trong chức vụ bề trên cả, rằng: “Nếu phải chọn lựa giữa việc nhìn thấy Hội Dòng mà tôi yêu quý như con ngươi mắt mình bị giải tán và trách nhiệm về việc lương tâm bị hạ giá, tôi sẽ chọn giải pháp thứ nhất”.[2]

Đây là lúc đáng để chúng ta dừng lại xem xét một vài điểm trong giáo huấn của ngài về lương tâm, những điểm có liên quan đến hoàn cảnh của chúng ta hôm nay.

AN-PHONG BÁC BỎ CHỦ NGHĨA VỤ LUẬT NGỘT NGẠT

Thánh An-phong đã không mệt mỏi chống lại việc chồng chất những luật lệ thái quá trên lương tâm con người. Dựa vào lời của Chúa Giêsu, ngài lên án “những kẻ quá khích về luật” rằng: “Các người bó những gánh nặng mà chất lên vai người khác, nhưng chính các người thì không buồn động ngón tay vào” (Mt 23,4); và ngài thêm rằng: “Họ bó thêm gánh nặng vào Luật của Thiên Chúa, và như thế, biểu lộ thái độ ngạo mạn của kẻ có quyền áp đặt lên vai kẻ khác gánh nặng vượt quá sức của họ”.

An-phong đã tỏ ra vô cùng thận trọng và không bao giờ bảo điều gì là tội trọng nếu chính ngài đã không biết chắc nó là như thế. Từ việc khảo sát lập trường của các tác giả khác và từ chính kinh nghiệm bản thân, ngài khẳng định rằng: Nhiều Kitô hữu đã xa lánh đức tin và giáo huấn luân lý vì những kẻ cuồng tín của chủ nghĩa hà khắc vụ luật hơn là vì những lôi kéo của chủ trương phóng túng. (Dĩ nhiên, ngài bác bỏ hoàn toàn chủ trương phóng túng). Viện dẫn lời của giáo phụ Lactantius, ngài cảnh báo rằng: “Thật là ngu dại kẻ áp đặt lên người khác luật lệ mà chính anh ta cũng nghi ngờ”. Ở một đoạn khác, ngài viết: “Ý muốn áp đặt những nghĩa vụ không chắc chắn không phải là dấu chỉ của sự thánh thiện, mà của sự kiêu ngạo và thiếu khôn ngoan”.

Điều làm An-phong lo ngại đó là, khi quá nhấn mạnh đến các bổn phận về luật, sự nhạy cảm của lương tâm về các nhu cầu đời sau sẽ bị lu mờ.

An-phong không chỉ cảnh báo các nhà làm luật đạo cũng như đời về nguy cơ làm gia tăng các luật lệ, nhưng còn nói rất thẳng thắn rằng: Mọi người quá dễ dàng tin nhận một phán quyết như là đòi hỏi của luật luân lý tự nhiên, trong khi thực tế (nó chỉ là) một diễn dịch phức tạp từ luật đó. Ngài cho thấy có không ít những quy định khiếm khuyết bởi lẽ các thầy dạy trong Hội Thánh cũng đã mắc phải sai lầm. Ngài đã phàn nàn rằng: “Thần học luân lý đã bành trướng quá rộng và quá mơ hồ. Những gì các học giả cho là chắc chắn thì nhiều người khác lại thấy rằng không thể biện hộ được”. Chính ngài đã liệt kê danh sách các định đề mà ngài đã từng nắm giữ nhưng sau đó lại bác bỏ. Liên quan đến các quy luật được suy diễn xa xôi từ luật luân lý tự nhiên, vốn là người quen thuộc với tình trạng hoài nghi lương tâm trong các trường hợp này, An-phong ủng hộ lập trường mềm dẻo, ngài ủng hộ lối giải thích nhân từ khoan dung (epikeia, thể ý pháp).[3]

CON NGƯỜI TRONG MỌI HOÀN CẢNH ĐỀU ĐƯỢC MỜI GỌI NÊN THÁNH

Thánh An-phong đã giảng dạy không mệt mỏi rằng các Kitô hữu trong bất kỳ hoàn cảnh sống nào đều được mời gọi nên thánh. Nhưng, ngài cũng ghi nhận rằng, hầu hết các nhà luân lý và các cha giải tội trong thực tế đã giảng dạy cách khác. Chẳng hạn, đối với những người sống đời đôi bạn và các thương gia, họ khăng khăng cho rằng kêu gọi những con người như thế tới sự thánh thiện là chuyện không tưởng. Về phần mình, An-phong chú ý cách riêng hai vấn đề nhạy cảm: Mục tiêu của hôn nhân và luật cấm cho vay ăn lời.

Trái ngược với thánh Âu-tinh và thánh Tô-ma, những người mà An-phong vẫn luôn hết lòng kính trọng, ngài nhấn mạnh rằng hành vi vợ chồng diễn tả sự hiến mình cho nhau và đồng thời củng cố sự trung thành bất khả phân ly, tự nó là tốt và đáng quý trọng. Vợ chồng không cần phải có chủ ý thực sự để sinh con cái. Ngài tuyên bố rằng hoàn toàn là điều bình thường nếu đôi vợ chồng, vì những lý do chính đáng không muốn có thêm con cái, thì họ sẽ không nhắm đến việc truyền sinh qua hành vi vợ chồng. Từ tuyên bố này, ngài rút ra một số kết luận thực hành, tất cả chúng đều nhằm mục tiêu bảo vệ hạnh phúc vợ chồng trong hôn nhân không bị huỷ hoại, và bảo đảm họ không bị ngăn cản lãnh nhận các bí tích. Vì không có văn kiện nào của huấn quyền cao hơn lên án lập trường này của An-phong, nên ngài đã không bị tấn công kịch liệt, mặc dù quan điểm của ngài về hôn nhân tương phản với giáo huấn luân lý chung thời bấy giờ.

Thánh An-phong đã gặp khó khăn nhiều hơn với lời dạy ôn hoà của mình về luật cấm cho vay lấy lãi, là khoản luật được công bố rất trọng thể vào thời đó. Những kẻ chống đối ác ý kết tội ngài đã làm suy yếu giáo huấn của Hội Thánh. Đáp lại, An-phong cảnh cáo những kẻ quá khích đã áp dụng quá nghiêm khắc luật cấm này. Theo ngài, họ cần phải hiểu rằng: Chúa là Thiên Chúa của lòng khoan dung vô bờ hơn là của những tính toán khắc khe. Trong phần tái bút của bức thư viết cho một người bạn, ngài thêm rằng: “Thật buồn cười: Anh N., bạn của chúng ta, đang than khóc vì tôi sắp xuống hoả ngục, bởi lẽ tôi đã không theo ý quan điểm hà khắc mà anh ta đã nhặt được ở Roma!”

Thật thú vị khi theo dõi An-phong đã đánh vật thế nào với giáo huấn nghiêm khắc về việc cho vay lấy lãi. Ngài đã tiếp cận vấn đề từ nhiều hướng khác nhau. Ngài cần mẫn xem xét các tuyên bố chính thức, vì biết rằng thế nào trong đó cũng có những gợi ý làm suy yếu luật cấm này. Hiển nhiên là An-phong chống lại việc cho vay nặng lãi. Nhưng đối với ngài, chẳng có gì rõ ràng để cho rằng một mức lãi thoả thuận là cắt cổ.

Kế đến, ngài cho thấy người ta được phép lấy lời vì những lý do sau: chẳng hạn nguy cơ bị quịt nợ, đồng tiền mất giá, quyền được thu lợi từ những gì cho vay v.v… Hơn nữa, dựa vào lương tâm của nhiều người, những người xem mức lời 5% của luật dân sự là công bằng, An-phong bảo rằng: Luật cấm lấy lãi của Hội Thánh, đặc biệt theo lối giải thích hẹp hòi, là một đòi hỏi quá đáng đối với lương tâm của những người biết suy nghĩ. Ở điểm này, một đàng ngài nói về “lương tâm sai lầm bất khả thắng”; đàng khác ngài chỉ cho thấy, trong vấn đề này, có không ít sai lầm được tìm thấy nơi các nhà luân lý theo chủ trương nghiêm khắc. Chúng ta có thể hiểu tại sao, trong hoàn cảnh thời bấy giờ, sự liên tục nhấn mạnh việc phải tôn trọng lương tâm trong trường hợp tế nhị này, đã làm cho những kẻ chống đối phải lo lắng.

TỰ DO VÀ LUẬT LỆ

Cũng thế, quan điểm kiên định của An-phong về ưu thế của tự do trên luật lệ không được nhận biết rõ và thiếu sức thuyết phục – vốn là các luật lệ do con người làm ra hay là những lời dạy về luật luân lý tự nhiên – đã trở nên một đề tài gây tranh cãi đặc biệt. Theo An-phong, yếu tố quyết định chính là quan niệm về Thiên Chúa và về con người. Các đối thủ có ảnh hưởng nhất của ngài đã dạy rằng “luật vĩnh cửu” hiện hữu nơi Thiên Chúa trước khi con người được tạo thành. Vì thế, họ xem mọi luật lệ thuộc về luật tự nhiên là thành phần của “luật vĩnh cửu” – ngay cả trường hợp của những áp dụng xa xôi và phức tạp – và họ khẳng định rằng người ta không thể lờ đi bất cứ phần nào của “luật vĩnh cửu” mà không phạm tội. Vì thế, người ta phải tuân giữ ngay cả những quy định pháp luật còn tranh luận, chừng nào mà ý kiến cá nhân không rõ ràng và có xác xuất lớn hơn ủng hộ sự tự do. Câu trả lời của An-phong thì hoàn toàn ngược lại.[4]

Thánh An-phong đã không chỉ đảm nhận vai trò là trạng sư của lương tâm mà còn của sự tự do. Đối với ngài, quà tặng tự do có nghĩa hoàn toàn khác với điều mà các đối thủ duy luật của ngài quan niệm. Những người theo chủ trương nghiêm khắc cho rằng tự do hệ tại ở chỗ: Chọn lựa giữa việc tuân giữ nghiêm nhặt lề luật, ngay cả một điều luật còn có thể tranh cãi, hay chọn lựa lối sống buông thả và phóng túng. An-phong đã mạnh mẽ phản kháng: Theo ngài, tự do trong hành động không chỉ có trong việc tuân giữ lề luật, mà còn trong việc hân hoan làm điều thiện, ngay cả khi luật không đòi buộc.

Đối với An-phong, tự do trên hết là sự tham dự vào tự do của Thiên Chúa để yêu thương, trong tự do của Thiên Chúa để yêu thương nhau. Chính tình yêu, chứ không phải lề luật, chiếm vị trí ưu tiên trong kế hoạch của Thiên Chúa. Thiên Chúa không tạo nên con người làm nô lệ của luật, nhưng Ngài dựng nên họ để chia sẻ chính tình yêu của Ngài. Luật lệ nhằm phục vụ mục đích này bằng cách giáo dục hướng dẫn, và nếu cần, bằng cách khuyên răn. Đối với vị trạng sư của lương tâm, không thể chấp nhận được nếu bảo rằng con người được dựng nên để tuân giữ vô số luật lệ, kể cả những luật lệ không rõ ràng.

Vì thế, đối với An-phong, việc đào tạo lương tâm cần phải bắt đầu với quà tặng của tình yêu đích thực. Tiến trình đào tạo cần phải tập chú nơi các kinh nghiệm về tình yêu cứu độ và chữa lành. Về những đòi hỏi của luật luân lý tự nhiên, ngài bảo rằng: Luật chỉ thực sự được công bố và bắt buộc khi nó chạm đến lương tâm, đến trái tim con người, nơi tất cả lề luật yêu thương được ghi khắc. “Vụ kiện” này đã kéo dài nhiều thập niên, và chính ở điểm then chốt này, thẩm quyền của vị trạng sư lương tâm đã trở nên chói sáng.

LƯƠNG TÂM SAI LẦM KHÔNG THỂ TRÁCH CỨ

Chúng ta đã trích dẫn lời của Công Đồng Vaticano II: “Lương tâm nhiều khi lầm lạc vì vô tri bất khả thắng, nhưng cũng không vì thế mà mất hết phẩm giá” (GS 16). Đây chính là điều mà An-phong đã liên lỉ giảng dạy, và nó đã khiến cho ngài phải chịu nhiều lăng mạ xỉ nhục. Ngài xác quyết rằng, trong trường hợp lương tâm sai lầm bất khả thắng, cha giải tội phải tôn trọng lương tâm của hối nhân và phải xét là vô tội. Điều này có một ý nghĩa đặc biệt nơi toà cáo giải.

Hối nhân có quyền lãnh nhận ơn xá giải, miễn là không có lý do hiển nhiên để từ chối ban ơn ấy. An-phong nhìn thấy một quá trình phức tạp đàng sau hiện tượng gọi là “lương tâm sai lầm không thể trách cứ”. Đây không chỉ là vấn đề dốt nát kiến thức, nhưng còn là tình trạng không có khả năng nhận thức một bổn phận. Có những vấn đề mà con người trong một giai đoạn phát triển nào đó không thể thấu hiểu. Hiện tượng này còn xuất hiện nơi có gợi ý cho rằng, vài quy định hợp pháp nào đó của Hội Thánh không bắt buộc trong một hoàn cảnh cá biệt – vì thế, có vấn đề thể ý pháp (epikeia), có sự linh hoạt trong việc áp dụng luật. Vì con người không được tạo ra cho lề luật, và luật lệ có mặt chỉ để giúp con người phát triển một cách đúng đắn.

Tất cả chuyện này không có ý nói rằng, trong vai trò mục tử của mình, An-phong đã đầu hàng tình trạng lương tâm sai lầm. Giống như Công Đồng Vaticano II, ngài không ngừng khuyến cáo người ta phải nghiêm túc tìm kiếm chân lý, và phải nỗ lực thanh tẩy lương tâm khỏi tình trạng tội lỗi. Nhiệm vụ của nhà thần học luân lý không chỉ để giải nố lương tâm. Quan tâm căn bản của ngài là nhằm giúp cho lương tâm con người phát triển trong chiều hướng lành mạnh và mẫn cảm. An-phong chỉ nhắm làm điều đó. Tuy vậy, một lần nữa, ngài xác tín rằng: Bất kỳ sự áp đặt quá đáng nào về luật, và đặc biệt mọi nỗ lực bóp méo lương tâm kẻ khác hay ngờ vực bất công, đều có thể làm tổn thương và làm cản trở sự phát triển lành mạnh của lương tâm.

Có thể nói, với sự can đảm quên mình để bảo vệ lương tâm con người và giúp nó phát triển một cách lành mạnh trong tự do sáng tạo và vui mừng, chỉ điều này thôi cũng đã đủ để An-phong được tôn phong là Vị Thánh Bổn Mạng của các nhà thần học luân lý và các cha giải tội. Ngày 26/4/1950, Đức Thánh Cha Piô XII đã phong tặng tước hiệu này cho An-phong – một người đã tự buộc mình từ bỏ mọi địa vị và tước hiệu danh giá trong Hội Thánh.

KÝ ỨC HAY SỰ HỒI TƯỞNG

Một đóng góp đáng chú ý khác của An-phong trong việc đào luyện lương tâm và nhận thức, đó là việc ngài nhấn mạnh tầm quan trọng của ký ức, của sự hồi tưởng. Sức khoẻ tinh thần và thể lý của con người tuỳ thuộc việc người ta làm gì với ký ức của mình. Ký ức có thể biến thành một đống đồ tạp nhạp bỏ đi nếu bị nhồi nhét bằng những phế liệu vô dụng. Nó có thể trở nên hang trộm cướp khi bị ám ảnh bởi những hồi tưởng oán thù ghen ghét, chúng dai dẳng xuất hiện để đầu độc các mối tương giao của con người. Chúng làm suy yếu tự do để làm điều thiện, làm cho con người đui mù trước sự thiện nơi kẻ khác, và làm thui chột khả năng hướng tới sự thiện. Hơn nữa, các hoài niệm tiêu cực này làm vẩn đục lương tâm và ru ngủ con người trong sự bướng bỉnh, ngoan cố.

An-phong xem ký ức, như ngài đã xem lương tâm, là đền thánh bên trong tâm hồn con người – miễn là nó chứa đầy những tâm tình biết ơn. Ngài cho rằng, hoạt động mục vụ trước hết phải nhắm đến việc chữa lành ký ức, và nhờ vậy giúp phục hồi tương quan thân tình với Thiên Chúa, với tha nhân và với chính bản thân.

An-phong là con người, là kiệt tác của một lòng biết ơn tuyệt vời. Trung tâm điểm của lòng đạo đức và hoạt động mục vụ của ngài chính là việc cử hành Hy Lễ Tạ Ơn, Thánh Thể. Trong lời cầu nguyện, trong việc rao giảng và bút tích của mình, ngài luôn bộc lộ tâm tình biết ơn sâu thẳm, và mời gọi các tín hữu của mình nuôi dưỡng ký ức về những điều kỳ diệu Thiên Chúa đã làm với lòng biết ơn.

Tư tưởng của ngài luôn vươn tới chiều kích sâu rộng của mầu nhiệm Nhập Thể: Chúa trở nên người giữa chúng ta. Đó là trung tâm, là cao điểm của lịch sử yêu thương giữa Thiên Chúa và con người. Chúng ta hãy để mình được lôi cuốn vào dòng lịch sử thánh này, và do đó được cuốn vào trong lịch sử thế giới trong chiều kích của những hoài niệm tạ ơn.

Ký ức của An-phong là cung thánh sâu thẳm của ngài, nơi vang dội hồi chuông tán dương mạc khải về tình yêu cứu chuộc của Thiên Chúa trên thập giá. Như thế và chỉ như thế, ngài đã tìm thấy lối vào niềm hoan lạc Phục Sinh, vào niềm hy vọng chắc chắn rằng các lời Thiên Chúa hứa sẽ được thực hiện. Lương tâm của người tin được nuôi dưỡng bởi điều này: Đó là nhận biết mình được cứu độ trong ánh sáng của các kỳ công yêu thương của Thiên Chúa. Lương tâm được cứu chuộc là sự trải nghiệm của lòng biết ơn vì mình được bước vào gia đình tuyệt diệu của Thiên Chúa, được mời gọi công bố tình yêu của Ba Ngôi Thiên Chúa cho con người và cho thế giới.

An-phong là người kiên trì cổ võ việc cầu nguyện. Chính việc cầu xin, tạ ơn và ca ngợi biểu lộ lòng biết ơn đối với tình yêu của Thiên Chúa và lòng tin vào các lời hứa cứu độ của Ngài. Cầu nguyện như thế là sự biểu hiện của một ký ức lành mạnh và thánh thiện. Người vô ơn là kẻ bệnh hoạn, lệch lạc và mù loà trong ký ức, trong ý thức và trong lương tâm của mình. Chính nơi điều này mà tôi nhận ra phần đóng góp riêng của thánh An-phong cho một cách hiểu xác đáng hơn về bí tích Hoà Giải. An-phong không đồng tình với truyền thống Tây phương vốn xem cha giải tội giống như một quan toà, và đã tiếp nhận quan niệm trị liệu của bí tích Hoà Giải phổ biến trong Giáo Hội Đông phương. Đối với ngài, cha giải tội phải là hình ảnh sống động và điển hình của Thiên Chúa giàu lòng thương xót, và là trợ tá của Đấng Chữa Lành thần linh đã làm người. Do vậy, cha giải tội cũng có thể trở nên “Bậc thầy của lề luật”, nhưng là của lề luật được ghi khắc trong trái tim con người.

Mục tiêu hiển nhiên của thánh An-phong là nhằm đào tạo các cha giải tội biết tôn trọng lương tâm của các Kitô hữu, và với sự trợ giúp của ân sủng Thiên Chúa, nhằm chữa lành các ký ức đã trở nên bệnh hoạn. Vì thế, việc xưng tội phải là nghi lễ tán tụng lòng khoan dung dịu dàng của Thiên Chúa, một nghi lễ có thể và phải để lại dấu ấn trên lương tâm, trên hành vi và trên toàn bộ cuộc sống con người.

Như thế, trong “vụ kiện” của lương tâm chống lại sự an toàn giả hiệu và sự bảo đảm dựa trên việc giữ luật nghiêm nhặt, thánh An-phong đã hoàn toàn xứng đáng là vị trạng sư của lương tâm và tự do. Bởi lẽ chính ngài đã được giải thoát khỏi các khuynh hướng này ngang qua kinh nghiệm về những kỳ công của lòng biết ơn. Hơn nữa, trong sứ mạng mục tử của mình, ngài đã khám phá ra một phương thế tốt hơn để đào luyện các lương tâm, tốt hơn những gì mà các kẻ quá khích đã làm đối với chủ trương duy luật nghiêm khắc.

Toà giải tội của An-phong luôn đông đúc. Chẳng ai ra về mà không được an ủi bảo ban. Và ngài có thể thưa với Chúa rằng ngài chẳng bao giờ từ chối ban ơn xá giải cho bất kỳ ai. Nhiều quan điểm khác của thánh An-phong có thể đã “lỗi thời”. (Trong thực tế, ngài đã loại bỏ nhiều định đề mà trước đó chính ngài đã tiếp nhận từ người khác mà không phê phán). Nhưng, với vai trò là trạng sư của lương tâm và là người bênh vực ưu quyền của tự do trên các quy định pháp lý, ngài đã để lại cho chúng ta một di sản trường tồn. Chỉ với điều đó thôi cũng đáng cho chúng ta tưởng nhớ đến ngài với lòng biết ơn.

Lòng nhiệt thành của An-phong đối với những người bị bỏ rơi, và lòng khoan dung của ngài trong việc cử hành bí tích Hoà Giải, bắt nguồn từ xác tín rằng tất cả mọi người đều được mời gọi nên thánh. Điều này khiến cho con người mọi thời sẽ không ngừng tôn vinh tình yêu cứu độ của Thiên Chúa ngang qua việc cầu nguyện và tạ ơn.

Bernard Häring, C.Ss.R.

Lê Đình Phương, CSsR dịch

—–

[1] Bernard Häring, C.Ss.R., “Saint Alphonsus De Liguori – Advocate of The Defence of Conscience”, in Reading in Redemptorist Spirituality, Vol. 4, Rome 1991, 60-70. Bài này được ghi lại từ một buổi phát thanh của đài Bavaria bên Đức. Bản dịch Anh ngữ do Cha Michael Bailey, C.Ss.R., Tỉnh Dublin, thực hiện.

[2] Thà mất Nhà Dòng hơn là hành động trái với lương tâm! Chú thích của người dịch.

[3] Theo New Catholic Dictionary, epikiea (Hy Lạp: epieikes, Anh ngữ: reasonable, hợp lý, phải chăng) là một cách giải thích nhân từ và khoan dung về luật, coi luật như không có hiệu lực trong trường hợp ngoại lệ vì những tình huống mà người làm luật không hề dự kiến trước. Trong thực tế, người làm luật không thể tiên liệu hết mọi trường hợp có thể rơi vào điều luật, và do đó người ta có lý để cho rằng nếu người làm luật biết được những tình huống đó ông sẽ cho phép. Ví dụ: một người mẹ cho là mình có thể bỏ lễ Chúa Nhật khi không còn ai khác để chăm sóc con nhỏ. Tuy vậy, người ta không được phép áp dụng lối giải thích này (epikeia), bất luận phiền phức đến đâu, nếu sự vi phạm làm cho hành động không có giá trị pháp lý. Ví dụ: không thể cho rằng hôn nhân thành sự vì một bất lợi nghiêm trọng khi có ngăn trở tiêu hôn. Nguồn: http://www.catholic-forum.com/saints/ncd03052.htm. Chú thích của người dịch.

[4] Xem bài “Lương tâm theo tư tưởng của Thánh An-phong De Liguori”, tr. 13. Chú thích của người dịch.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s