Luật Bảo hiểm xã hội 2014: Bảo đảm chế độ tồn tại lâu dài

GNsP (16.5.2015) – “Lý giải cho nội dung ‘hạn chế tối đa việc hưởng Bảo hiểm xã hội [BHXH] một lần’ là ‘nhằm bảo đảm an sinh xã hội lâu dài’, nói dễ hiểu là tránh ‘vỡ quĩ BHXH’, không còn tiền trả lương cho ‘cán bộ hưu’. Như Đại tá PGS Tiến sĩ nhà giáo ưu tú Trần Đăng Thanh – ở Học viện chính trị- Bộ Quốc phòng đã từng ‘giảng dạy’ huỵch toẹt rằng ‘nội dung rất cụ thể, rất thiết thực’ trong chuyện ‘làm mọi cách để bảo vệ bằng được Tổ quốc Việt Nam XHCN’, chính là ‘bảo vệ sổ hưu cho những người đang hưởng chế độ hưu và bảo vệ sổ hưu cho những người tương lai sẽ hưởng sổ hưu’. Bảo vệ bằng được sổ hưu tức là bảo vệ được chế độ. Lấy tiền lương của người dân để trả lương cho cán bộ hưu, ‘bảo đảm bằng được sổ hưu cho cán bộ nghỉ hưu’, chính là nhằm ‘bảo đảm chế độ tồn tại lâu dài’.” Lm. Giuse Đinh Hữu Thoại, DCCT, bình luận về Luật BHXH 2014.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội vẫn chưa có quyết định có nên chỉnh, sửa ‘Điều 60 Luật BHXH 2014 về BHXH 1 lần’ trong phiên họp vào ngày 12.05, bởi vì “đa số các thành viên UBTVQH khi phát biểu đều đồng tình với ý nghĩa của Điều 60…”

Tại sao các thành viên UBTVQH hưởng ứng cao Luật BHXH 2014, còn người lao động thì không? Để hiểu rõ hơn về những uẩn khúc nào đã gây bất lợi cho người lao động trong Luật BHXH 2014, GNsP xin mời quý vị theo dõi cuộc trao đổi giữa Pv.GNsP với Lm. Giuse Đinh Hữu Thoại, Dòng Chúa Cứu Thế VN.

Lm. Giuse Đinh Hữu Thoại, DCCT

Lm. Giuse Đinh Hữu Thoại, DCCT

Pv.GNsP: Xin kính chào cha, thưa cha, trước hết, xin cha có thể cho biết BHXH là gì ạ?

Lm. Giuse Đinh Hữu Thoại, DCCT:Theo định nghĩa của Tổ chức lao động thế giới ILO thì BHXH là sự bảo vệ của cộng đồng Xã Hội với các thành viên của mình thông qua sự huy động các nguồn đóng góp vào quỹ BHXH để trợ cấp trong các trường hợp ốm đau, tai nạn, thương tật, già yếu, thất nghiệp; đồng thời chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con để ổn định đời sống của các thành viên và bảo đảm an toàn xã hội.

Tại Khoản 1 Điều 3 Luật BHXH năm 2006 và Luật BHXH năm 2014 (có hiệu lực từ ngày 1/1/2016) định nghĩa: “Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội”. Đây là một chính sách “nhằm từng bước mở rộng và nâng cao việc bảo đảm vật chất, chăm sóc sức khỏe, phục hồi sức khỏe, góp phần ổn định đời sống cho người lao động và gia đình trong các trường hợp người lao động ốm đau, thai sản, hết tuổi lao động, chết, bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, mất việc làm, gặp rủi ro hoặc các khó khăn khác…” như khoản 1 Điều 140 Bộ luật Lao động 1994 (sửa đổi bổ sung năm 2002) (“BLLĐ cũ”) qui định.

Nói dễ hiểu, BHXH là loại hình bảo hiểm do nhà nước tổ chức và quản lý nhằm trợ cấp vật chất cho người lao động và gia đình họ khi chẳng may gặp những rủi ro như ốm đau, tai nạn, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, thai sản, già yếu, chết… làm giảm hoặc mất thu nhập. Những trợ cấp (hay chế độ) này được lấy từ quĩ BHXH: hình thành từ nguồn tiền (bắt buộc đóng góp) của người lao động, người sử dụng lao động, và tiền sinh lời từ hoạt động đầu tư của quĩ, hỗ trợ của nhà nước. Quĩ BHXH độc lập với ngân sách nhà nước.

Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ đề cập đến loại hình BHXH bắt buộc và đối tượng là người lao động hưởng lương từ người sử dụng lao động là các loại hình doanh nghiệp.

Theo khuyến nghị của Tổ chức Lao động Quốc tế ILO tại Công ước Giơnevơ năm 1952, các chế độ BHXH phải có: Chăm sóc y tế; Trợ cấp ốm đau; Trợ cấp thất nghiệp; Trợ cấp tuổi già; Trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp; Trợ cấp gia đình; Trợ cấp sinh sản; Trợ cấp tàn phế; Trợ cấp cho người bị mất người nuôi dưỡng.

Ở Việt Nam, BHXH bắt buộc (2006) có các chế độ: Ốm đau; Thai sản; Tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; Hưu trí; Tử tuất. Ngoài ra, có Bảo hiểm Thất nghiệp (bắt buộc) với các chế độ: Trợ cấp thất nghiệp; Hỗ trợ học nghề; Hỗ trợ tìm việc làm. Đến 01.01.2015, Luật Việc làm có hiệu lực, Chương VI qui định về BH Thất nghiệp, do vậy, các qui định về BH Thất nghiệp của Luật BHXH hết hiệu lực.

Luật BHXH (2014) có thêm “BH hưu trí bổ sung do Chính phủ quy định”, được định nghĩa: “là chính sách bảo hiểm xã hội mang tính chất tự nguyện nhằm mục tiêu bổ sung cho chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội bắt buộc, có cơ chế tạo lập quỹ từ sự đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động dưới hình thức tài khoản tiết kiệm cá nhân, được bảo toàn và tích lũy thông qua hoạt động đầu tư theo quy định của pháp luật”. BH Thất nghiệp được điều chỉnh bởi Luật Việc làm – như nói ở trên.

Pv.GNsP: Thưa cha, Luật BHXH năm 2014 có điểm gì mới so với Luật BHXH năm 2006 ạ?

Lm. Giuse Đinh Hữu Thoại, DCCT: Luật BHXH năm 2014 có một vài điều mới bổ sung được xem là tích cực, có lợi cho người lao động. Tuuy nhiên, cũng có những nội dung Luật BHXH 2014 quy định xem ra gây bất lợi cho người lao động. Cụ thể:

Luật BHXH 2014 có một vài điều mới bổ sung– được xem là tích cực, có lợi cho người lao động như: Luật BHXH mới lần này đã bổ sung thêm các trường hợp hưởng chế độ thai sản như: “Lao động nữ mang thai hộ và người mẹ nhờ mang thai hộ”; và cho cả “Lao động nam đang đóng BHXH có vợ sinh con”. Đối với tường hợp “người lao động nhận nuôi con nuôi” được sửa đổi “từ dưới 4 tháng tuổi” lên thành “dưới 6  tháng tuổi”… Về thời gian “hưởng chế độ khi sinh con”, Luật BHXH 2014 qui định rõ hơn như: trường hợp chỉ có mẹ tham gia BHXH hoặc cả cha và mẹ đều tham gia BHXH mà mẹ chết sau khi sinh con thì cha hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản đối với thời gian còn lại của người mẹ. Trường hợp mẹ đóng BHXH bắt buộc nhưng chưa đủ thời gian đóng BHXH theo quy định mà chết thì cha hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản cho đến khi con đủ 6 tháng tuổi. Trường hợp chỉ có cha tham gia BHXH mà mẹ chết sau khi sinh con hoặc gặp rủi ro sau khi sinh mà không có đủ sức khỏe để chăm sóc con, có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo thẩm quyền thì người cha được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản cho đến khi con đủ 6 tháng tuổi. Trường hợp cha hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng tham gia bảo hiểm xã hội mà không nghỉ việc theo quy định  này thì ngoài tiền lương còn được hưởng chế độ thai sản đối với thời gian còn lại của mẹ.

Hay, những điều mới như thay đổi quy trình giải quyết chế độ ốm đau, thai sản… theo hướng cơ quan BHXH tiếp nhận hồ sơ từ người sử dụng lao động, giải quyết và tổ chức chi trả cho người lao động; Bổ sung trách nhiệm bồi thường theo quy định của pháp luật trong trường hợp nộp hồ sơ và giải quyết hưởng chế độ bảo hiểm xã hội chậm so với thời hạn quy định, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người hưởng. Trách nhiệm này thuộc về người sử dụng lao động trong trường hợp nộp chậm hồ sơ đề nghị hưởng BHXH và trách nhiệm của cơ quan BHXH trong trường hợp giải quyết hưởng BHXH quá thời hạn.

Tuy nhiên, cũng có những nội dung Luật BHXH 2014 qui định xem ra gây bất lợi cho người lao động:

Thứ nhất, theo qui định đối tượng tham gia BHXH bắt buộc mở rộng đến “Người làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng”. Trước đây, BLLĐ cũ qui định: “Đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động dưới ba tháng, thì các khoản BHXH được tính vào tiền lương do người sử dụng lao động trả để người lao động tham gia BHXH theo loại hình tự nguyện hoặc tự lo liệu về bảo hiểm…”. Như vậy, thoạt nhìn, thấy người lao động này ‘có lợi’ vì được hưởng BHXH. Nhưng thực ra, họ làm việc theo mùa vụ (ví dụ : sinh viên đứng bán hàng dịp Tết Nguyên đán; thợ làm bánh trung thu mùa Tết trung thu chẳng hạn), trước đây họ được nhận trọn vẹn tiền lương. Nay theo luật mới, phải trích 8% vào quĩ hưu trí và tử tuất… Để rồi, hết mùa Tết, hết mùa Trung thu, trở về trường học, được ‘bảo lưu’ đóng BHXH cho đến năm đủ tuổi hưu (nữ 55 tuổi; nam 60 tuổi).

Thứ hai, liên quan đến “tiền lương tháng đóng BHXH”, Luật BHXH 2006 qui định: “Đối với người lao động đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH là mức tiền lương, tiền công ghi trong hợp đồng lao động”. Còn Luật BHXH 2014 qui định: “Đối với người lao động đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội là mức lương và phụ cấp lương theo quy định của pháp luật về lao động. Từ ngày 01 tháng 01 năm 2018 trở đi, tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội là mức lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác theo quy định của pháp luật về lao động”. Để hiểu rõ hơn, phải quay trở lại định nghĩa về tiền lương qui định tại BLLĐ cũ và BLLĐ 2012 là: “Tiền lương bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác”. Cũng theo qui định BLLĐ thì “các chế độ phụ cấp, trợ cấp, nâng bậc, nâng lương và các chế độ khuyến khích đối với người lao động được thoả thuận trong hợp đồng lao động, thoả ước lao động tập thể hoặc quy định trong quy chế của người sử dụng lao động”. Như vậy, có thể thấy rõ, mức lương của người lao động phải được ghi rõ trong hợp đồng lao động, còn các chế độ phụ cấp, trợ cấp,khuyến khích… thì có thể qui định trong Thỏa ước lao động, hoặc trong qui chế của người sử dụng lao động. Ví dụ, người lao động có mức lương 3 triệu đồng/tháng (ghi trong hợp đồng lao động), sẽ được hưởng thêm hàng tháng phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niên, đi đường…) chẳng hạn là 1 triệu 500.000 đồng/tháng (theo Qui chế), được hưởng thêm 500.000 đồng trợ cấp ăn trưa (theo thỏa ước tập thể). Nếu trước đây, người lao động chỉ phải đóng 8% trên mức lương ghi trên hợp đồng lao động là 3 triệu đồng, thì nay phải đóng 8% trên mức lương và phụ cấp lương là 5 triệu.

Thứ ba, một nội dung mới cũng chính là nguyên nhân dẫn đến cuộc đình công của người lao động tại Công ty TNHH Pouyuen quận Bình Tân, Sài Gòn vào những ngày cuối tháng ba vừa qua là Điều 60 của Luật BHXH 2014 qui định về hưởng “BHXH một lần”. Nói dễ hiểu là người lao động đóng BHXH để được hưởng lương hưu. Thế nhưng, khi chưa đến tuổi nghỉ hưu, vì lý do nào đó- như không lao động nữa chẳng hạn, muốn được hưởng chế độ BHXH một lần, thì có được giải quyết không? Qui định của Luật BHXH 2014 đã gây bất lợi và gây phẫn nộ cho người lao động.

Pv.GNsP: Vậy thưa cha, nội dung Điều 60 Luật BHXH 2014 khác gì so với Luật BHXH 2006? Và đã gây bất lợi như thế nào cho người lao động ạ?

Lm. Giuse Đinh Hữu Thoại, DCCT: Trước hết, Điều 55 Luật BHXH qui định: “Người lao động … được hưởng bảo hiểm xã hội một lần khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: i) Đủ tuổi hưởng lương hưu theo quy định tại khoản 1 Điều 50 của Luật này mà chưa đủ hai mươi năm đóng bảo hiểm xã hội; ii) Suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên mà chưa đủ hai mươi năm đóng bảo hiểm xã hội; iii) Sau một năm nghỉ việc nếu không tiếp tục đóng bảo hiểm xã hội và có yêu cầu nhận bảo hiểm xã hội một lần mà chưa đủ hai mươi năm đóng bảo hiểm xã hội; iv) Ra nước ngoài để định cư…”

Như vậy, theo qui định này, giả định, người lao động tham gia BHXH được 05 năm (từ năm 18 tuổi đến năm 23 tuổi chẳng hạn), với mức lương trung bình đóng BHXH là 03 triệu đồng/tháng. Sau đó lập gia đình, có con, nghỉ việc, không tham gia BHXH nữa, thì sau một năm, tức năm 24 tuổi sẽ được nhận trợ cấp BHXH một lần bằng 1,5 tháng lương trung bình đóng BHXH (4 triệu 500.000 đồng)  nhân với 5 năm = 22 triệu 500.000 đồng.

Thứ hai, nay, theo qui định Điều 60 Luật BHXH 2014: “Người lao động … mà có yêu cầu thì được hưởng bảo hiểm xã hội một lần nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây: i) Đủ tuổi hưởng lương hưu theo quy định … mà chưa đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội … không tiếp tục tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện; ii) Ra nước ngoài để định cư; iii) Người đang bị mắc một trong những bệnh nguy hiểm đến tính mạng như ung thư, bại liệt, xơ gan cổ chướng, phong, lao nặng, nhiễm HIV đã chuyển sang giai đoạn AIDS và những bệnh khác theo quy định của Bộ Y tế; iv) Trường hợp người lao động quy định tại điểm đ và điểm e khoản 1 Điều 2 của Luật này khi phục viên, xuất ngũ, thôi việc mà không đủ điều kiện để hưởng lương hưu.

Như vậy, với ví dụ trên, để nhận được 22 triệu 500.000 đồng này, người lao động nữ sẽ phải chờ thêm 32 năm nữa; nếu là lao động nam sẽ phải chờ thêm 37 năm nữa theo quy định độ tuổi hưu.

Do đó, người lao động bức xúc là vì vậy, mà nguyên nhân chính, là họ e ngại tình trạng ‘lạm phát’, đồng tiền mất giá, liệu sau 30 năm nữa, 22 triệu 500.000 đồng (lấy từ tiền lương của người lao động) sẽ còn lại trị giá bao nhiêu?  Một ví dụ điển hình khác mà theo  Báo Tuổi trẻ phản ánh trường hợp bàLê Thị Bích Thủy (ngụ Bình Thạnh, Sài Gòn) có khoản tiền gửi 270 đồng (tương đương gần 2 chỉ vàng thời điểm gửi) tại Quỹ Tiết kiệm thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam từ năm 1983. Đây là sổ tiết kiệm không kỳ hạn có lãi và có thưởng. Sau 30 năm, tức vào đầu tháng 10 năm 2014, bà Thủy đến cơ sở Bạch Đằng, hiện là Kho bạc Nhà nước quận Bình Thạnh để lãnh tiền tiết kiệm theo quy định. Bà được biết kho bạc không còn có nghĩa vụ thanh toán mà phải qua Ngân hàng Công Thương (Vietinbank) để giải quyết. Ngân hàng đã tính ra số tiền gốc (bà Thủy gửi 270 đồng vào năm 1983) và lãi của khoản tiền gửi tiết kiệm của bà đến ngày 30/11/2014 là 4.385 đồng (tức chưa mua được một cây kem Vinamilk). Đó là tính có “lãi và thưởng”.

Còn nếu lấy trường hợp người lao động chỉ ký kết hợp đồng lao động có thời hạn hai tháng, mức lương 3 triệu/tháng chẳng hạn, thì thời gian chờ đợi để được giải quyết “BHXH một lần” số tiền 48.000 đồng có thể là …40 năm! Và sau 40 năm, số tiền 48.000 đồng sẽ là bao nhiêu?

Lý giải cho nội dung ‘hạn chế tối đa việc hưởng BHXH một lần’ là ‘nhằm bảo đảm an sinh xã hội lâu dài’, nói dễ hiểu là tránh ‘vỡ quĩ BHXH’, không còn tiền trả lương cho ‘cán bộ hưu’. Như Đại tá PGS Tiến sĩ nhà giáo ưu tú Trần Đăng Thanh – ở Học viện chính trị- Bộ Quốc phòng đã từng ‘giảng dạy’ huỵch toẹt rằng ‘nội dung rất cụ thể, rất thiết thực’ trong chuyện ‘làm mọi cách để bảo vệ bằng được Tổ quốc Việt Nam XHCN’, chính là ‘bảo vệ sổ hưu cho những người đang hưởng chế độ hưu và bảo vệ sổ hưu cho những người tương lai sẽ hưởng sổ hưu’. Bảo vệ bằng được sổ hưu tức là bảo vệ được chế độ. Lấy tiền lương của người dân để trả lương cho cán bộ hưu, ‘bảo đảm bằng được sổ hưu cho cán bộ nghỉ hưu’, chính là nhằm ‘bảo đảm chế độ tồn tại lâu dài’.

Pv.GNsP

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s