Dự thảo ‘Luật Tín ngưỡng, Tôn Giáo’: Vi hiến, không hợp pháp và phân biệt đối xử

GNsP (08.5.2015) – “Dự thảo ‘Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo’ đang vi hiến, không hợp pháp, cản trở việc thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người, quyền tự do Tôn giáo mà Việt Nam là thành viên, khi công khai hạn chế quyền của các Tổ chức Tôn giáo trong các hoạt động nội bộ, bình thường như tuyển sinh, đào tạo, phong chức, thuyên chuyển, đại hội đến các hoạt động lễ nghi, truyền đạo, giảng dạy. Phân biệt đối xử và ngăn cản Tổ chức Tôn giáo thực hiện các hoạt động -vốn là thế mạnh của Tổ chức Tôn giáo- như giáo dục, y tế, dạy nghề, từ thiện…” Cha Giuse Đinh Hữu Thoại, DCCT, bình luận.

Cha Thoại còn nhấn mạnh rằng, Dự thảo Luật này có những điều khoản tưởng rằng tôn trọng quyền tự do Tôn giáo khi được Luật hóa, nhưng khi áp dụng trên thực tế thì bị ngăn cấm bởi các Luật có liên quan như Luật Giáo dục, Luật Đất đai…

Dự thảo 4 ‘Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo’ được nhà cầm quyền kêu gọi đóng góp vào tháng 4.2015 được xem là một văn bản Luật thụt lùi, hà khắc, phân biệt đối xử đối với các Tổ chức  Tôn giáo.

Để hiểu rõ hơn sự vi hiến, không hợp pháp và phân biệt đối xử của Dự thảo 4 ‘Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo’ ra sao, xin mời quý vị theo dõi cuộc phỏng vấn giữa Pv. GNsP với cha Giuse Đinh Hữu Thoại –Trưởng phòng Công Lý và Hòa bình- DCCT Sài Gòn.

Pv. GNsP: Chúng con xin kính chào cha. Dạ thưa cha, vào trung tuần tháng 4.2015, nhà cầm quyền kêu gọi đóng góp dự thảo 4 “Luật tín ngưỡng, tôn giáo”, xin cha có thể chia sẻ cho chúng con biết nội dung chính của dự thảo này là gì ạ?

Cha Giuse Đinh Hữu Thoại: Nội dung chính của dự thảo ‘Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo’ được nêu rõ ngay ở Điều 1 là: “Luật này quy định về: Quyền tự do, tín ngưỡng tôn giáo; Quyền và nghĩa vụ của người có tín ngưỡng, tín đồ tôn giáo, tổ chức tôn giáo, người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam có hoạt động liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo; Và, trách nhiệm của cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo”.

Pv. GNsP: Thưa cha, cha bình luận như thế nào về ‘trách nhiệm của cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo’ được Luật này quy định ạ?

Cha Giuse Đinh Hữu Thoại: Hiện nay có ít nhất 3 văn bản góp ý về dự thảo ‘Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo’, trong đó có văn bản của Hội đồng Giám mục VN [HĐGMVN], Giáo phận Kotum, Giáo phận Bắc Ninh đã được phổ biến công khai trên các trang mạng xã hội. Cả ba văn bản này đều có chung nội dung chính là phản đối, không đồng tình với nội dung Dự thảo Luật này. Thậm chí, Quý Giám mục còn khẳng định Dự thảo Luật này thụt lùi so với sự tiến bộ của xã hội; vi phạm Hiến Pháp; trái với ‘Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền’…

Một câu hỏi đặt ra là, tại sao người cộng sản buộc phải đưa ra những ‘quy định về quyền tự do tôn giáo’ để hạn chế quyền tự do Tôn giáo vốn có của người dân? Quan niệm của họ thế nào về Tôn giáo?

Quan niệm Tôn giáo của người cộng sản cho rằng ‘Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân’, là ‘hoang đường’, là ‘hư ảo’ nên sớm muộn gì Tôn giáo cũng bị diệt vong. Người cộng sản nghĩ rằng, họ phải chấp nhận sống chung với Tôn giáo bởi vì trong thời kỳ quá độ này vẫn còn một bộ phận quần chúng nhân dân –được họ xem là chưa phát triển, cuộc sống còn nhiều khó khăn, xã hội còn nhiều bất công, bóc lột…- nên xã hội còn ‘tồn tại Tôn giáo như một tất yếu khách quan’. Nói một cách khác dễ hiểu hơn, bản chất của cộng sản là vật chất, vô thần, dối trá, bạo lực… nên không thể sống chung với hữu thần, sự thật, công lý, từ bi, bác ái… –vốn là bản chất của Tôn giáo. Thái độ của người cộng sản đối với Tôn giáo được ví von như người ‘bác sỹ nhìn đâu cũng thấy vi trùng’, nghĩa là họ luôn lo lắng lo sợ các thế lực Tôn giáo luôn hiện hữu, bởi vì tín đồ tin theo Tôn giáo đông hơn nhiều so với những người tin theo một ‘tấm gương đạo đức’ của một xác chết vô hồn đang vất vưởng ở đâu đó. Chính sự sợ hãi này cộng với mọi quyền lực đang nắm trong tay thì khó mà đòi họ phải tôn trọng, phải bảo vệ, phải giành quyền tự do Tôn giáo cho người dân, vốn là cái mà họ luôn tìm cách hạn chế, tiêu diệt.

Trong một bài viết đăng trên trang báo điện tử Đảng cộng sản VN, họ xác định những hậu quả chống Tôn giáo trong quá khứ không phải là một sự ‘xâm phạm quyền tự do Tôn giáo’, không được xem đó là hành vi ‘trái pháp luật’, bởi vì các hành vi ‘đập phá nhà thờ, chùa chiền, miếu mạo; kỳ thị người có đạo…’ chỉ là những sai lầm do ‘quá nóng vội’ mà thôi, ‘do nhận thức không đầy đủ, đã có một thời kỳ chúng ta [người cộng sản] mắc phải những sai lầm nghiêm trọng trong việc đấu tranh chống tôn giáo. Chúng ta [người cộng sản] đã quá nôn nóng, cực đoan trong ứng xử với các tôn giáo cũng như với các cơ sở thờ tự của tôn giáo. Nhiều nhà thờ, chùa chiền, miếu mạo đã bị đập phá, các sinh hoạt tôn giáo bị ngăn cấm, người có đạo bị kỳ thị. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo không được đảm bảo. Chính sự nóng vội đó đã dẫn đến hậu quả xấu về mặt chính trị, tư tưởng, là cơ sở để các thế lực phản động lợi dụng chống phá cách mạng nước ta…”

Chính vì vậy, theo tôi, vấn đề chính góp ý cho Dự thảo này, không mong mỏi đòi họ phải “tôn trọng quyền tự do Tôn giáo” như người cộng sản thường rêu rao nhưng chúng ta phải chỉ ra những cái sai, cái trái pháp luật của chính nhà cầm quyền này đặt ra, buộc họ phải tôn trọng những quyền căn bản của người dân- trong đó có tự do Tôn giáo- một cách thiết thực, đúng với nội dung Hiến pháp nhà cầm quyền này ban bố.

Pv. GNsP: Thưa cha, Luật phải tôn trọng những quyền căn bản của người dân trong đó có tự do Tôn giáo một cách thiết thực, đúng với nội dung Hiến pháp của nhà cầm quyền này ban bố, nhưng dường như có sự phân biệt đối xử đối với các tổ chức tôn giáo so với các tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị, tổ chức xã hội… Vậy, sự phân biệt đối xử này sẽ ảnh hưởng như thế nào đến các hoạt động/ sinh hoạt tôn giáo ạ?

Cha Giuse Đinh Hữu Thoại: Trước hết, trong các văn bản góp ý của các Đức Giám mục đã đề cập đến vấn đề đòi hỏi Luật phải thừa nhận ‘Tổ chức Tôn giáo’ như một ‘pháp nhân’, thừa nhận như một tổ chức xã hội với đầy đủ quyền hạn. Bởi vì, trong Dự thảo Luật đã nêu ra những khái niệm xem ra có vẻ mơ hồ như: ‘Cơ sở Tôn giáo’, ‘Tổ chức Tôn giáo’, và ‘Tổ chức Tôn giáo trực thuộc’. Xem giải thích từ ngữ [tại Điều 2 Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo] thì có thể hiểu ‘Cơ sở Tôn giáo’ là đơn vị nhỏ nhất của ‘Tổ chức Tôn giáo’, ví dụ như nhà thờ là cơ sở Tôn giáo của Tổ chức Tôn giáo trực thuộc (Giáo phận), của Tổ chức Tôn giáo (Giáo hội Công Giáo). Nếu hiểu như vậy, theo Dân luật cũng như Giáo luật, tài sản của cơ sở phải thuộc quyền định đoạt của Tổ chức. Thế nhưng, theo Luật Đất đai, Cơ sở Tôn giáo mới là ‘người sử dụng đất’, là người thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với tài sản Tôn giáo’.

Tuy nhiên, theo khoản 6 Điều 100 Bộ luật Dân sự (“BLDS”), Tổ chức Tôn giáo – có đủ điều kiện qui định tại Điều 84 BLDS là pháp nhân bởi vì hội tụ các điều kiện: Được thành lập hợp pháp; Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó; Nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập. Vậy thì theo qui định này, Tổ chức Tôn giáo được xếp vào ‘loại pháp nhân: Tổ chức khác’. Thế nhưng, như trên đã nêu, Điều 9 Luật Đất đai 2003 trước đây, hay Điều 5 Luật Đất đai 2013 mới đây, qui định “tổ chức khác…” là người sử dụng đất. Nhưng đối với Tôn giáo thì ‘Cơ sở Tôn giáo’ mới là người sử dụng đất chứ không phải ‘Tổ chức Tôn giáo’. Trong khi đó, về mặt Giáo luật thì Giáo xứ, hay Tu viện, hay nhỏ hơn như Nhà nguyện xóm giáo hoàn toàn không thể ‘có tài sản độc lập’. Phải chăng, họ cố tình tách nhỏ “quyền” của các Tổ chức Tôn giáo? Nêu ra như vậy để thấy tính chất mơ hồ ngay trong cách hiểu, cách sắp đặt của người cộng sản đối với Tổ chức Tôn giáo để họ dễ lạm quyền, ngang nhiên triệt tiêu quyền tự do Tôn giáo.

Dự thảo Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo công khai ra mặt kỳ thị, hạn chế quyền tự do Tôn giáo, đặc biệt phân biệt đối xử giữa ‘Tổ chức Tôn giáo’ với các ‘Tổ chức khác’ –như Tổ chức Kinh tế (Doanh nghiệp), hay Tổ chức Xã hội (như Hiệp hội Taxi) chẳng hạn. Điều 52 Dự thảo luật này đặt ra quyền ‘được thực hiện các hoạt động giáo dục, dạy nghề, y tế, bảo trợ xã hội’ của Tổ chức Tôn giáo. Còn theo Luật Giáo dục tại điểm C khoản 1 Điều 48 thì cho phép cá nhân và các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội-nghề nghiệp, tổ chức kinh tế được mở trường tư thục. Như vậy, Dự thảo luật có vẻ như tôn trọng quyền tự do Tôn giáo khi Luật hóa cho Tổ chức Tôn giáo ‘được thực hiện các hoạt động giáo dục’, nhưng theo quy định của Pháp luật – Luật Giáo dục thì không được. Ngay lập tức, Điều 52 Dự thảo Luật này đã vi phạm điều cấm của chính Dự thảo Luật này được quy định tại Khoản 1 Điều 6 là: nghiêm cấm các hành vi ‘phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo’.

Cũng vậy, Dự thảo Luật này cũng quy định về quyền ‘quản lý và sử dụng đất’ nhưng lại kèm theo đó là những chữ quen thuộc ‘theo quy định của pháp luật’. Theo Luật, người sử dụng đất nói chung –trong đó có cả người nước ngoài- được thực hiện các quyền chuyển nhượng, nhận chuyển nhượng, cho thuê, tặng cho, thế chấp, góp vốn… quyền sử dụng đất. Thế nhưng, ‘Cơ sở Tôn giáo’ vẫn phải thực hiện các nghĩa vụ chung của người sử dụng đất, không miễn trừ một nghĩa vụ nào, nhưng lại “không được chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê quyền sử dụng đất; không được thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất” được quy định tại Điều 181 Luật Đất đai 2013. Chỉ được nhận ‘giao đất’ từ nhà nước nhưng không được ‘nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho, nhận thuê…’ từ người sử dụng đất khác.

Rõ ràng, đây là những quy định pháp luật nhằm hạn chế công khai cho Tổ chức Tôn giáo. Chưa kể đến những chữ cụ thể như ‘chấp thuận’, ‘không chấp thuận’ đầy rẫy trong Dự thảo Luật này  đi sâu vào từng chi tiết, từng mọi ‘hoạt động Tôn giáo’… làm cho tôi có cảm giác như Dự thảo Luật này thực chất là ‘nhà tù’ cho Tôn giáo hơn là ‘tự do’ Tôn giáo.

Khi so sánh giữa Tổ chức Tôn giáo với các tổ chức khác là khập khiễng. Nhưng lại có một sự phân biệt đối xử giữa Tổ chức Tôn giáo với các tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị, tổ chức xã hội… điển hình như đối với Tổ chức Kinh tế sau khi đăng ký thì chỉ cần đăng ký thay đổi khi sửa đổi điều lệ, thay đổi người đại diện theo pháp luật, vốn thành viên, cổ đông sáng lập… Và, Luật Doanh nghiệp chỉ quy định ‘đăng ký’ mà không kèm theo nội dung ‘được sự chấp thuận’, hay ‘không chấp thuận thì phải trả lời bằng văn bản’. Những hoạt động sản xuất- kinh doanh, Đại hội, thuyên chuyển cán bộ-công nhân viên, giám đốc… được xem là ‘công việc nội bộ’ của tổ chức, không cần phải đăng ký và không cần có ‘sự chấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền’ nào. Giả thiết, ‘Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo’ thừa nhận công khai Tổ chức Tôn giáo là pháp nhân, nhưng người cộng sản lại hạn chế hoạt động của các tổ chức Tôn giáo thì việc công nhận là pháp nhân hay không cũng không phải là vấn đề chính. Doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân, nhưng được hoạt động, điều chỉnh theo Luật Doanh nghiệp thì tổ chức kinh tế này vẫn có đầy đủ quyền, nghĩa vụ tương ứng…

Pv. GNsP: Thưa cha, qua những gì cha phân tích cho thấy, Dự thảo 4 ‘Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo’ thụt lùi so với pháp lệnh tín ngưỡng tôn giáo năm 2004 như Đức cha Giáo phận Bắc Ninh đã lên tiếng. Vậy thì, thưa cha, nếu như cha được tham gia đóng góp ý kiến thì cha sẽ góp ý điều gì cho nhà cầm quyền?

Cha Giuse Đinh Hữu Thoại: Trước hết, tôi xin được nhấn mạnh đến các kiến nghị của HĐGMVN trong bản ‘nhận định và góp ý Dự thảo 4 Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo’: “Thứ nhất, không đồng ý Dự thảo 4 Luật tín ngưỡng, tôn giáo. Thứ hai, soạn lại một bản Dự thảo khác phù hợp với xu thế tự do, dân chủ và mang tầm vóc của xã hội tiến bộ. Thứ ba, bản Dự thảo mới phải được tham khảo ý kiến từ các tổ chức tôn giáo. Đặc biệt, các tổ chức tôn giáo phải được công nhận tư cách pháp nhân và được pháp luật bảo vệ”. Các kiến nghị này đã nói lên tất cả.

Ấn tượng của tôi đối với văn bản góp ý của hai Đức cha Giáo phận Kotum là: “Phản ứng đầu tiên chúng tôi nhận được của những người xung quanh là: “Góp ý vô ích thôi!”. “Người ta đã quyết định rồi, góp gì nữa!”. “Đến như bản Hiến Pháp quan trọng thế mà có ai góp ý được gì đâu. Ngay cả bản góp ý của HĐGMVN đâu có được lắng nghe!”.

Và, sự khẳng khái của iáo phận Bắc Ninh trong văn bản góp ý là: “Bản dự thảo 4 đi ngược lại với quyền tự do về tín ngưỡng và tôn giáo, không bắt kịp đà tiến của xã hội. Xã hội loài người nói chung và Việt Nam nói riêng vận hành và phát triển theo hướng dân chủ tự do. Tuy nhiên, nhìn chung Dự thảo 4 đi ngược lại với Tuyên Ngôn Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc và Hiến Pháp Nước CHXHCN Việt Nam sửa đổi năm 2013. Chúng tôi nhận thấy Dự thảo 4 này là một bước thụt lùi so với pháp lệnh tín ngưỡng tôn giáo năm 2004”.

Ngoài những nội dung trên, tôi đề nghị phải xem lại những nội dung được xem là vô thưởng vô phạt nhưng có thể ảnh hưởng đến quyền của người dân. Cụ thể:

Tại khoản 1 Điều 3 giải thích từ ngữ ‘Tín đồ: là người tin theo một tôn giáo và được tổ chức Tôn giáo thừa nhận’. Cụm từ ‘được tổ chức Tôn giáo thừa nhận’ xem là hợp lý nhưng không đúng thực tế. Bởi vì, Tổ chức Tôn giáo sẽ thừa nhận tín đồ như thế nào? Dự thảo Luật không đề cập đến hình thức ‘thừa nhận tín đồ’ này. Trên thực tế, có những người tin theo một Tôn giáo nhưng vì lý do này hay vì lý do khác mà họ không tham gia các hoạt động cụ thể nào của Tổ chức Tôn giáo, hoặc ngược lại. Như vậy, họ không phải là tín đồ và không được thực hiện quyền của tín đồ Tôn giáo hay sao?

Khoản 3 Điều 4 qui định: “Người đang bị giam, giữ được đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân theo qui định pháp luật và nội qui nơi giam, giữ”. Quyền tự do Tôn giáo được chính Hiến pháp và Dự thảo Luật này khẳng định: “Mọi người có quyền…”, một khi pháp luật hay nội qui không đáp ứng nhu cầu Tôn giáo của người bị giam, giữ là đang không coi những người này là NGƯỜI! Khẩu hiệu của người cộng sản luôn đề ra là ‘sống và làm việc theo pháp luật’, vì vậy đã làm theo đúng qui định pháp luật rồi thì không cần phải theo nội qui, vì nội qui không phải là ‘văn bản qui phạm pháp luật’ (theo qui định Điều 1 và Điều 2 Luật Ban hành văn bản qui phạm pháp luật).

Dự thảo nêu ra rất nhiều trường hợp ‘không chấp thuận… và nêu lý do’, kể cả UBND cấp xã cũng có quyền, trong khi những điều kiện và tiêu chuẩn đã quy định trong pháp luật. Việc qui định như vậy dẫn đến lạm quyền, hách dịch… của cán bộ, khi cho mình quyền ‘chấp thuận’ hay ‘không chấp thuận’, miễn là ‘có lý do’. Cần lập lại những nội dung như: “Nghiêm cấm cơ quan đăng ký kinh doanh và các cơ quan khác gây phiền hà đối với tổ chức, cá nhân trong khi tiếp nhận hồ sơ và giải quyết việc đăng ký doanh nghiệp; Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp không được ban hành các quy định về đăng ký doanh nghiệp áp dụng riêng cho ngành hoặc địa phương mình”. (khoản 3, 4 Điều 5 Nghị định số 43/2010/NĐ-CP của Chính phủ về Đăng ký Doanh nghiệp).

Nguyên tắc xây dựng, ban hành văn bản qui phạm pháp luật, được khoản 1, 5 Điều 3 Luật Ban hành văn bản pháp qui nêu rõ là: “Bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của văn bản quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật. Không làm cản trở việc thực hiện điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên”. Có thể thấy rõ, Dự thảo ‘Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo’ đang vi hiến, không hợp pháp, cản trở việc thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người, quyền tự do Tôn giáo mà Việt Nam là thành viên, khi công khai hạn chế quyền của các Tổ chức Tôn giáo trong các hoạt động nội bộ, bình thường như tuyển sinh, đào tạo, phong chức, thuyên chuyển, đại hội đến các hoạt động lễ nghi, truyền đạo, giảng dạy. Phân biệt đối xử và ngăn cản Tổ chức Tôn giáo thực hiện các hoạt động -vốn là thế mạnh của Tổ chức Tôn giáo- như giáo dục, y tế, dạy nghề, từ thiện…

Pv. GNsP: Xin chân thành cám ơn cha Giuse ạ.

Pv. GNsP

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s