Khiếu nại, tố cáo là phạm tội “lợi dụng các quyền tự do dân chủ…” theo điều 258 BLHS

GNsP (25.04.2015) – Như tin đã đưa trên GNsP ngày 21/4/2015, ông Đỗ Đình Dũ khi thực hiện quyền Khiếu nại – Tố cáo về nhà đất đã bị 2 phiên toà sơ và phúc thẩm của Toà án huyện Hoà Vang và Tp. Đà Nẵng kết án 3 năm tù giam về tội “lợi dụng các quyền tự do dân chủ…” theo điều 258 BLHS.
Hôm nay GNsP tiếp tục đăng tải để làm sáng tỏ về vấn đề này.
——————————-
Ngày 17/12/2012, Ông Đỗ Đình Dũ- ngụ huyện Hòa Vang- TP Đà Nẵng là người đứng đơn tố cáo ông Võ Văn Thương, lợi dụng quyền hạn là chủ tịch UBND quận Cẩm Lệ làm trái qui định pháp luật, xâm hại quyền lợi nhân dân. Ngày 13/6/2014, ông Dũ lại có kiến nghị “về việc lãnh đạo TP Đà Nẵng bổ nhiệm ông Võ Văn Thương lên chức Chánh VP UBND TP Đà Nẵng trong lúc bị khiếu nại, tố cáo chưa được giải quyết”. Ông Võ Văn Thương- người bị tố cáo, khiếu nại đang là bí thư kiêm chủ tịch UBND quận Cẩm Lệ- một mặt nhân danh cá nhân- có kiến nghị xử lý vi phạm pháp luật Ông Dũ, nhưng cùng ngày 21/4/2014 này, ông Thương- lại nhân danh chủ tịch UBND quận Cẩm Lệ- có Công văn số 05/UBND-VP đóng dấu MẬT gửi Công an thành phố Đà Nẵng; đồng thời cũng gửi cho ¬¬Thường trực thành ủy, UBND thành phố, Ban nội chính thành ủy, TTTVQU, CT, các PCT UBND Quận, Công an quận Cẩm Lệ, thanh tra Quận…yêu cầu điều tra, xử lý… ông Dũ. Ngày 25/6/2014, Ông Đỗ Đình Dũ bị công an bắt giam và bị hai cấp tòa sơ thẩm (quận Cẩm Lệ) và phúc thẩm (TP Đà Nẵng) xử phạt 3 năm tù giam về tội “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm quyền và lợi ích nhà nước, …” theo khoản 2 Điều 258 BLHS.

Vụ việc bắt nguồn từ khi UBMD TP Đà Nẵng, ỦBND quận Cẩm Lệ ban hành các quyết định thu hồi đất đối với các hộ dân nằm trong khu quy hoạch của Dự án khu đô thị sinh thái Hòa Xuân, gọi là” theo chủ trương phát triển kinh tế xã hội TP Đà Nẵng”.
Ông Đỗ Đình Dũ và những người khác đã ủy quyền cho Ông Dũ, không đồng ý với các Quyết định thu hồi đất, Quyết định cưỡng chế thu hồi đất, nên đã thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo, khởi kiện… đến các cơ quan có thẩm quyền. Sáu năm đi kiện, Ông Dũ đã buộc các cơ quan chức năng phải “thay đổi”, “hủy bỏ” đến … 8 quyết định thu hồi đất của gia đình ông. Ông vẫn cho rằng chưa đúng pháp luật, trong thời gian chờ được giải quyết, Ông Dũ đã bị bắt.
Ngày 15/12/2014, Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ – TP Đà Nẵng ra bản án hình sự sơ thẩm số 50/2014/HSST tuyên Ông Dũ phạm tội “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân” theo quy định tại Điều 258 BLHS, kết án 3 năm tù. Bản án phúc thẩm số 57/2015/HSPT ngày 19/3/2015 của TAND TP Đà Nẵng tuyên “giữ nguyên bản án sơ thẩm”. Hiện Ông Đỗ Đình Dũ đang bị giam từ ngày 25/6/2014 đến nay đúng 10 tháng.
Các cơ quan tiến hành tố tụng – sau khi nhận được “đề nghị” MẬT của ông Võ Văn Thương- bí thư, chủ tịch quận- đã tiến hành vụ án “Điều 258” bằng các chứng cứ ở 5 vụ việc:
– Vụ thứ nhất: cho rằng Ông Dũ “lợi dụng việc ủy quyền” của các đương sự trong một vụ án hành chính để có bản “tài liệu” cho là “Luận cứ” gửi Tòa án để có lời lẽ xuyên tạc, vu khống…
– Vụ thứ hai : Ông Dũ đã “soạn thảo đơn khởi kiện hành chính cho các đương sự” bị cưỡng chế thu hồi đất…Và cũng như vụ trước “lợi dụng được ủy quyền” gửi bản “luận cứ” cho Tòa để “có những lời lẽ xuyên tạc, vu khống, bôi nhọ uy tín cán bộ…”.
– Vụ thứ ba : Ông Dũ có đơn tố cáo ông Võ Văn Thương- chủ tịch UBND quận Cẩm Lệ…kèm theo Đơn là các tài liệu photocopy có nội dung xuyên tạc, bôi nhọ cán bộ…
– Vụ thứ tư: Ông Dũ không được các đương sự ủy quyền, nhưng vẫn đến tham dự phiên tòa hành chính và có hành vi gây rối trật tự phiên Tòa.
– Vụ thứ năm : Ông Dũ soạn văn bản và tự cho mình là người được đại diện ủy quyền tiếp tục vu khống, xuyên tạc , bôi nhọ cán bộ…
Bản án xét thấy: “bị cáo Đỗ Đình Dũ cũng thừa nhận đã có hành vi soạn thảo văn bản, đơn khiếu nại, đơn tố cáo, đơn kiến nghị, sửa và viết thêm vào các bài báo…rồi gửi đến nhiều cơ quan, đồng thời phát tán cho nhiều người dân…”.

Sau khi xem hồ sơ vụ án, chúng tôi sơ bộ đưa ra một số ý kiến:

1. Về tội danh:
a) Điều 258 BLHS liệt kê các quyền tự do dân chủ bị lợi dụng như là “quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do hội họp, lập hội và các quyền tự do dân chủ khác”. Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam hiện hành không có quy định hướng dẫn “quyền tự do dân chủ khác” gồm những quyền nào? Hiến pháp 2013 liệt kê các quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân tại Chương II, các quyền “tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình” được quy định tại Điều 25, tách riêng với quyền khiếu nại, tố cáo được quy định tại Điều 30.
b) Cần nhấn mạnh quyền khiếu nại, quyền tố cáo được luật hóa bằng 2 văn bản cụ thể đang hiệu lực: Luật Khiếu nại 2011 và Luật Tố cáo 2011. Hai luật này quy định rõ ràng về quyền, nghĩa vụ, các trường hợp cấm khi sử dụng quyền khiếu nại, quyền tố cáo. Giả thiết cho rằng ông Đỗ Đình Dũ “lợi dụng” quyền khiếu nại, quyền tố cáo …, thì cần dựa vào các quy định Luật chuyên ngành để xử lý.
c) “Luận cứ” tại Tòa của đương sự (hay người được đương sự ủy quyền) đúng, sai… phải do Tòa án xét xử quyết định. Việc “xuyên tạc, vu khống, bôi nhọ”…cán bộ (nếu có) không phải là đối tượng của tội “Lợi dụng quyền tự do dân chủ….” theo Điều 258 BLHS.
d) Đưa ra căn cứ “bản thân bị cáo đã 3 lần bị xử phạt hành chính để xét “phạm tội trong trường hợp nghiêm trọng” theo khoản 2 Điều 258 BLHS. Nhưng 3 lần bị xử phạt hành chính- mà ông Dũ không chấp hành vì cho rằng quyết định xử phạt trái pháp luật- này lại …không liên quan đến hành vi “lợi dụng”. Lần 1 là quyết định “xử phạt hành vi gây mất an ninh trật tự”. Lần 2 xử phạt 2 triệu đồng về “khai man báo mất CMND”. Và lần 3 xử phạt 2 triệu “vì không chấp hành yêu cầu của người thi hành công vụ”.

2. Các “chứng cứ” không có căn cứ kết tội Ông Đỗ Đình Dũ:
a) Chứng cứ “lợi dụng” ở vụ thứ nhất cho rằng Ông Dũ được Ông Huỳnh Văn Chính ủy quyền với thời hạn ủy quyền là “đến khi hoàn tất xong vụ án hành chính”. Nhưng cơ quan tiến hành tố tụng lại lấy “thời điểm sau khi kết thúc phiên tòa phúc thẩm” đồng nghĩa với “thời hạn ủy quyền của ông Chính cho Dũ đã chấm dứt” để kết luận những việc làm sau đó của ông Dũ là …lợi dụng ủy quyền. Trước hết, khoản 2 Điều 19 Luật Tố tụng Hành chính qui định: “Bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật mà phát hiện có vi phạm pháp luật hoặc có tình tiết mới thì được xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm theo quy định của Luật này”. Như vậy, kết thúc “phiên tòa phúc thẩm” chưa phải là “hoàn tất xong vụ án hành chính”. Về pháp lý, khoản 1 Điều 145 Bộ luật Dân sự qui định: “Giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện, trừ trường hợp người đại diện hoặc người được đại diện đồng ý…”. Và khoản 1 Điều 146 BLDS qui định: “Giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của người được đại diện đối với phần giao dịch được thực hiện vượt quá phạm vi đại diện, trừ trường hợp người được đại diện đồng ý hoặc biết mà không phản đối;…”. Trong vụ việc này, giả thiết, ủy quyền chấm dứt, ông Dũ vẫn “thực hiện…”- được xem là “người không có quyền đại diện” hoặc “vượt quá phạm vi ủy quyền”- mà Ông Chính đồng ý hoặc Ông Chính biết nhưng không phản đối thì hành vi của Ông Dũ là không sai. Và việc “không có ủy quyền” hay “vượt quá phạm vi ủy quyền” trong vụ án hành chính là quan hệ giữa “đương sự” với “cơ quan tiến hành tố tụng” vụ án. Không có ý kiến của “cơ quan tiến hành tố tụng” vụ án thì không thể “kết luận lợi dụng” (nếu có).
b) Chứng cứ- trong cả vụ thứ nhất và vụ thứ hai- cho rằng Ông Dũ không “đưa ra căn cứ nào để bảo vệ lợi ích của người ủy quyền cho Dũ” và “bản tài liệu Dũ cho là “Luận cứ” gửi đến TAND… trong đó có nội dung xuyên tạc, vu khống…”. Thứ nhất, giả thiết ông Dũ không đưa ra được căn cứ bảo vệ lợi ích cho người ủy quyền cũng không phải là “lợi dụng” bất kỳ quyền dân chủ nào. Luật Tố tụng qui định, không đưa ra được căn cứ thì “phải chịu hậu quả…” Tòa bác …Còn luận cứ “có nội dung xuyên tạc, bôi nhọ…” (nếu có), phải là “kết luận” của Tòa hành chính mà ông Dũ tham gia với tư cách ủy quyền. Cơ quan tiến hành tố tụng vụ án hình sự này – nếu có- là suy diễn.
c) Trong vụ thứ nhất, hai và bốn, chứng buộc tội cho rằng các giấy tờ mà Ông Dũ phân phát cho các hộ dân trên địa bàn bị một số hộ dân giao nộp lại cho cơ quan công an để “xử lý”. Tuy nhiên, các hộ dân nào? có đúng các tài liệu do ông Dũ phân phát hay không? cơ quan công an “xử lý” như thế nào thì không được nói tới. Và các hộ dân này có bị xâm hại thế nào? cụ thể những ai “bị hoang mang, mất niềm tin đối với chính quyền, hiểu sai chính sách, chủ trương nhà nước…” từ việc “lợi dụng” này của ông Dũ. Việc ông Dũ (vụ thứ bốn) không được ủy quyền mà “đến tham dự phiên Tòa” là không vi phạm, điều 17 Luật TTHC qui định: tòa xét xử công khai, không cần “lợi dụng” vẫn được quyền “đến tham dự”. Trường hợp ông Dũ có hành vi “gây rối trật tự phiên Tòa” thì bị xử lý theo qui định Nội qui phiên Tòa.
d) Vụ thứ ba, như trên đã nêu, ông Dũ tố cáo bí thư, chủ tịch quận Cẩm Lệ Võ Văn Thương lợi dụng quyền hạn, chức vụ làm trái qui định, xâm hại tài sản nhân dân. Yêu cầu “giải quyết khiếu nại đúng pháp luật, đừng đùn đẩy hại dân…” Kiến nghị “đưa bớt cán bộ biến chất ra khỏi cơ quan công quyền để an dân”. Kiến nghị “thụ lý quá lâu mà chủ tịch UBND TP chưa ban hành quyết định giải quyết khiếu nại”. Trong khi đó, lại “bổ nhiệm ông Thương lên chức Chánh VP UB…” Và khiếu nại: “đền bù nhỏ giọt, thiếu công khai minh bạch đất tái định cư, kéo dài qui hoạch”….Với những “tiêu đề” cơ quan tiến hành tố tụng liệt kê, không có một chứng cứ nào kèm theo để buộc tội ông Dũ. Việc ông Dũ sử dụng địa chỉ của gia đình ông Nguyễn Văn Bình trong đơn cần phải xác minh rõ lý do, như để tiện liện lạc, trong khi gia đình ông Dũ đã bàn giao mặt bằng, không thể suy diễn là “lợi dụng”… Còn ông Thương- người bị tố cáo- lại có văn bản MẬT gửi công an đề nghị điều tra xử lý người tố cáo là hành vi “tiết lộ họ, tên, địa chỉ, bút tích của người tố cáo và những thông tin khác có thể làm lộ danh tính của người tố cáo; cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc giải quyết tố cáo; và cản trở việc thực hiện quyền tố cáo; đe doạ, trả thù, trù dập, xúc phạm người tố cáo” là những hành vi bị nghiêm cấm qui định tại Điều 8 Luật Tố cáo. Chưa kể, ông Thương, trong cùng một ngày, có nội dung văn bản tương tự nhau, một với tư cách cá nhân, một với tư cách chủ tịch quận, đóng dấu MẬT, đề nghị xử lý ông Dũ là hành vi “lợi dụng chức vụ quyền hạn”; Chưa kể, theo qui định tại Pháp lệnh bảo vệ bí mật nhà nước và Thông tư liên tịch 55/2005/TTLT-BNV-VPCP và Thông tư 01/2011/TT-BNV, văn bản của ông Thương ký không có đủ độ MẬT của “Bí mật Nhà nước là những tin về vụ, việc, tài liệu, vật, địa điểm, thời gian, lời nói có nội dung quan trọng thuộc lĩnh vực chính trị, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, kinh tế, khoa học, công nghệ, các lĩnh vực khác mà Nhà nước không công bố hoặc chưa công bố và nếu bị tiết lộ thì gây nguy hại cho Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Chưa kể, nếu theo ông Thương đề nghị thì ông Dũ phải bị xem xét về hành vi “vu khống”, “xúc phạm danh dự nhân phẩm”…nếu có.
e) Cáo buộc vụ thứ năm cho là “các hộ dân có tên trong đơn” không biết và không ủy quyền cho ông Dũ. Trong khi, theo Bản tự khai ngày 11/7/2014 và phần ghi (viết tay) tại Biên bản giao nhận Cáo trạng ngày 31/10/2014, ông Dũ đã trình bày rõ, khẳng định “Tôi có giấy ủy quyền ký tại UBND xã Hòa Phước…”
f) Cáo trạng buộc tội: Trong quá trình thực hiện, có một số hộ dân không đồng ý với các quyết định thu hồi đất, quyết định cưỡng chế thu hồi đất, nên đã thực hiện việc khiếu nại, khởi kiện đến các cơ quan có thẩm quyền.
Tuy nhiên, có một số hộ dân không tự mình thực hiện được việc khiếu nại, khởi kiện hoặc do bị Đỗ Đình Dũ xúi giục, kích động nên đã ủy quyền cho Dũ thực hiện việc khiếu nại, khởi kiện đến cơ quan có thẩm quyền. Nhưng lại không có chứng cứ chứng minh ai bị xúi giục, ai bị kích động và hành vi “xúi giục, kích động được thực hiện như thế nào?

Cũng cần nói tại phần ý kiến của bị can trong Biên bản giao nhận Quyết định khởi tố bị can, Lệnh bắt bị can ông Dũ viết: “Khiếu nại- Tố cáo là quyền của công dân được Hiến pháp quy định cụ thể nhưng rất tiếc việc Khiếu nại- Tố cáo của tôi không được giải quyết theo quy định pháp luật. Tài sản của dân bị một số cán bộ lợi dụng chức quyền xâm hại cũng chưa được giải quyết trả lại. Tôi bị bắt là một thiệt thòi lớn cho đất nước… Còn tại Bản tự khai ngày 11/7/2014, Ông Dũ viết: “Qui hoạch gia đình tôi hơn 6 năm chưa được tái định cư, chưa được làm nhà cho mẹ già mong đợi, nay lại bị bắt khi Khiếu nại- Tố cáo chưa được cơ quan thẩm quyền giải quyết là điều quá oan ức cho người dân vùng qui hoạch”.

Hiếu Minh

https://www.facebook.com/

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s