Mạc khải và các tôn giáo (11)

VRNs (16.04.2015) – Sài Gòn – Vấn Đề

Trước khi chúng ta phân tích kỹ hơn về cách thế mà mạc khải của Thiên Chúa nơi Đức Kitô đến được với các Kitô hữu, chúng ta phải xem xét một vấn đề rộng hơn đã được khơi ra trong các trang cuối của chương X. Nhiều thành viên của nhân loại chưa hề biết đến Đức Giêsu Kitô và chưa hề tin vào Ngài, ít nhất là một cách minh nhiên. Mạc khải có đến với họ được không? Nếu có thì mạc khải ấy quan hệ thế nào với mạc khải của Thiên Chúa nơi Đức Giêsu Kitô mà chúng ta đang luận bàn?

Những câu hỏi này đã được tập trung thảo luận gắn liền với vấn đề các tôn giáo, nhất là những tôn giáo lớn qua nhiều thế kỷ đã thể hiện cho hàng triệu người những vai trò nói chung cũng tương tự như những vai trò của Kitô giáo đối với các Kitô hữu. Tôn giáo trong đặc nét của nó gắn liền với cầu nguyện, thờ phượng, niềm tin vào các sức mạnh cao hơn, sự từ bỏ chính mình và bổn phận đạo đức. Nếu ở bất cứ nơi nào mà mạc khải rõ ràng vượt quá phạm vi của đức tin Kitô giáo thì hẳn nó sẽ có thể được biện biệt trong các tôn giáo kia.

Xét như là một trong những tôn giáo như thế, đức tin Kitô giáo có một vị thế khá rõ ràng, đặt nền tảng trên Tân Ước. Đức Kitô và Giáo Hội được xem như là (công cuộc) thiết lập nền móng cho Lề Luật và các tiên tri. Tôn giáo của Israel cổ thời được thấy như là một sự sắp sẵn của thần linh để chuẩn bị cho Kitô giáo. Tuy nhiên, Thánh Kinh không ủng hộ một cách đánh giá cho rằng “đạo nào cũng tốt thế thôi.” Thánh Kinh vẽ lại các tôn giáo của người Ai Cập và người Canaan, người Hilạp người và người La mã, trong một ấn tượng tiêu cực đầy tính biếm họa. Từ thời các Tông Đồ, thần học Kitô giáo tỏ ra phân vân giữa việc nhìn các tôn giáo khác như là những sửa soạn có tính quan phòng cho Kitô giáo và việc xem các tôn giáo ấy như là những lầm lạc quái gở. Như chúng ta sẽ thấy, trong những thảo luận gần đây, những cách nghĩ khác nữa cũng đã nổi lên.

Để làm sáng tỏ ý định của chương này, cần đưa ra một vài quan sát có tính dẫn nhập. Điểm trước hết, rõ ràng là vấn đề ở đây đang được xem xét từ quan điểm của thần học Kitô giáo, chứ không phải từ quan điểm của một lịch sử các tôn giáo “phi liên kết.” Hơn nữa, ngay trong tư cách là những thần học gia, ở đây chúng ta cũng sẽ không tìm cách đánh giá bất cứ truyền thống tôn giáo có sẵn nào một cách chi tiết, nhưng đúng hơn là sẽ nhìn xem – trên nguyên tắc – thẩm quyền thần học Kitô giáo có cho chúng ta lý lẽ để nghĩ rằng mạc khải có hiện diện hay không có hiện diện trong những tôn giáo ngoài Thánh Kinh.

Tôi nói các tôn giáo “ngoài Thánh Kinh” vì Kitô giáo có thể vốn đã chấp nhận rằng Do Thái giáo và Hồi giáo, trong tư cách là “những tôn giáo của Sách Thánh,” đều có chứa đựng mạc khải trong mức độ mà những tôn giáo này chấp nhận những bản văn thánh mà người Kitô hữu cũng công nhận là Thánh Kinh. Mặc dù những mối tương quan giữa những niềm tin Thánh Kinh này thì có tính phức tạp và có vấn đề, ở đây những mối tương quan ấy sẽ không phải là tiêu điểm chú ý hàng đầu của chúng ta. Để đặt vấn đề của chúng ta ở đây trong hình thức rõ rệt nhất, chúng ta sẽ quan tâm xem xét sự có mặt hay không có mặt mạc khải trong các tôn giáo khác theo mức độ mà chúng không có tiếp xúc lịch sử với Do Thái giáo và Kitô giáo. Các tôn giáo Đông phương như Ấn giáo và Phật giáo đặt ra những vấn đề khó khăn đặc biệt vì những tôn giáo này không hề tuyên bố tự nhận đặt nền móng trên mạc khải thần linh; theo cách nói của Robley Whitson, những tôn giáo này “không có tính mạc khải một cách công khai.” Trái lại, Hồi giáo tự nhận là có nền tảng trên Lời Thượng Đế trong Thánh Kinh Coran, nhưng mạc khải này không được các Kitô hữu nhìn nhận là mạc khải đích thực.

Việc định nghĩa hạn từ “tôn giáo” sao cho bao gồm được mọi cái vẫn thường gọi là tôn giáo, và gạt ra bất cứ cái gì khác, thì rõ ràng là việc khó khăn, có lẽ là không thể. Trong số những tín ngưỡng chính của thế giới, Ấn giáo và Hồi giáo đáp ứng mọi điều kiện về tôn giáo theo bất cứ định nghĩa nào. Cho dù vấn đề Phật giáo là một tôn giáo có thể bị tranh cãi, và càng bị tranh cãi hơn nữa đối với trường hợp Khổng giáo. Vấn đề chính đặt ra cho chương này không tùy thuộc chặt chẽ vào những đặc tính nào làm nên một tôn giáo. Sự quan tâm của chúng ta là có hay không và bằng cách nào mạc khải được truyền thông bằng những phương thế khác hơn là những phương thế của tôn giáo của Kitô hữu và Thánh Kinh, vì thế chúng ta không cần phải giới hạn sự chú ý của mình vào các tôn giáo ấy. Chúng được tuyển chọn để xem xét đặc biệt, chỉ vì xem ra chúng có vẻ chứa đựng mạc khải hơn là những triết lý như tân phái Platon hay những ý thức hệ như Mácxít…

Hơn nữa, không được quên rằng chúng ta đang tìm hiểu về mạc khải mà thôi. Chúng ta không phải đang nhằm xác định xem có hay không có chân lý hoặc giá trị đạo đức trong những tín ngưỡng, những tôn giáo, những ý thức hệ, những triết lý hoặc những phong trào khác này, chúng ta cũng không phải đang nhằm đặt ra những qui tắc cho cuộc đối thoại có triển vọng giữa các tôn giáo, ngoại trừ trong chừng mực những giả đoán về mạc khải có thể giúp đỡ hay cản trở cuộc đối thoại như thế.

Cuối cùng, chúng ta không trực tiếp tìm hiểu xem ai có thể được cứu độ. Mặc dù mạc khải và ơn cứu độ theo giả đoán là có liên hệ với nhau, thì ở đây vẫn sẽ là không thích đáng nếu tuyên bố rằng sự có mặt của mạc khải trong một tôn giáo sẽ làm cho tôn giáo ấy thành máng chuyển ơn cứu độ, bởi vì vẫn có thể mạc khải ấy được ban cho chỉ trong tầm mức đủ cho việc xét xử. Ngược lại, sự không có mặt của mạc khải trong một tôn giáo không phải tự nó tước mất khả năng đạt được ơn cứu độ của những người thuộc tôn giáo ấy. Xét về lý thuyết thì ít nhất một người Phật tử cũng có thể đạt  được một mạc khải có sức cứu độ không phải xuyên qua truyền thống Phật giáo nhưng là xuyên qua trật tự của tạo vật hoặc xuyên qua tiếng nói của lương tâm. Hoặc giả có trường hợp làm cho người ta tin rằng người ta có thể thực hiện một hành vi của đức tin cứu độ xuyên qua một ý chí ngay lành được thúc đẩy bởi ân sủng – mà không tùy thuộc vào bất cứ mạc khải chuyên biệt nào. Việc thảo luận về những lý thuyết khác nhau về ơn cứu độ sẽ dẫn chúng ta tới một loạt những vấn đề vượt quá phạm vi của tác phẩm này.

Vấn đề mạc khải trong các tôn giáo xem chừng có vẻ là một vấn đề rất đơn giản, với câu trả lời hoặc có hoặc không. Tuy nhiên, đa số các nhà thần học trả lời rất khác nhau. Một số vị bảo rằng nếu không có mạc khải Thánh Kinh thì người ta có thể có mạc khải tự nhiên thay vì là mạc khải siêu nhiên, hay mạc khải thông thường đúng hơn là mạc khải đặc biệt, hoặc mạc khải vũ trụ hơn là mạc khải lịch sử, hoặc mạc khải lịch sử nói chung hơn là mạc khải lịch sử đặc biệt. Nếu bất cứ một loại mạc khải nào được chấp nhận, một câu hỏi phải đặt ra thêm là mạc khải đó liên hệ thế nào với đức tin theo Thánh Kinh và theo Kitô giáo. Ở đây một lần nữa có thể có nhiều câu trả lời khác nhau. Một số người cho rằng tất cả những mạc khải khác đều đóng vai trò chuẩn bị cho Kitô giáo. Một số nghĩ rằng mọi mạc khải khác có thể chỉ là một chia sẻ thoáng sơ về những gì được ban cho trọn vẹn hơn trong mạc khải Kitô giáo. Nhưng những người khác chủ trương rằng mạc khải trong các tôn giáo khác thì khác vớibổ sung cho những gì được tìm thấy trong tôn giáo của Thánh Kinh. Rồi thì thêm những khác biệt nữa bật lên giữa một số người xem các tôn giáo như là những góc nhìn khác nhau về một mạc khải duy nhất và những người khác xem các tôn giáo khác nhau nắm giữ những mạc khải khác nhau được ủy thác vì ích lợi của tất cả. Nếu vậy thì mỗi tôn giáo – kể cả Kitô giáo – có thể học hỏi chân lý mạc khải từ những tôn giáo khác. Xem ra không ai có thể tự xưng mình giữ vai trò thiết yếu thượng phong đối với những người khác.

Sự khó khăn mà các Kitô hữu kinh nghiệm thấy trong khi trả lời các câu hỏi như trên thì tự bản chất là những khó khăn thần học. Một đàng, Kitô giáo rao giảng Đức Giêsu Kitô là trung tâm, là chóp đỉnh, là sự hoàn thành mọi mạc khải. Đàng khác, Kitô giáo là Tin mừng về kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa cho nhân loại xét như một toàn thể. Đó không phải chỉ là Tin mừng cho các Kitô hữu thôi. Bởi đó, Kitô giáo chứa đựng một căng thẳng bên trong giữa đặc thù tính và phổ quát tính. Vì thế không đáng ngạc nhiên khi thấy có một số Kitô hữu nói rằng không có mạc khải nào ngoài Đức Giêsu Kitô, và những người khác thì bảo rằng Thiên Chúa tự mạc khải Ngài cho mọi con người. Những căng thẳng như thế được thấy rõ trong cách mà các nhà thần học phát biểu về mối tương quan giữa mạc khải và các tôn giáo.

Với những nghiên cứu sau đây, người ta sẽ thấy rõ rằng các mẫu thức 1, 2 và 4 – vốn có khuynh hướng dè dặt đối với phạm trù biểu hiệu – là những mẫu thức ít xuôi chiều nhất theo sự chấp nhận mạc khải trong các tôn giáo thế giới. Mẫu thức 3 và 5 – vốn thuận thảo với phương thức biểu hiệu – dễ chấp nhận rằng mạc khải có mặt trong mọi tôn giáo, nhưng khi tuyên bố như vậy người ta luôn tương đối hóa những tuyên bố truyền thống của Kitô giáo.

15040400

Mẫu Thức Xác Định Và Các Tôn Giáo

Mẫu thức xác định trong cách đánh giá của nó về các tôn giáo, có dính dáng đến vấn đề rằng các tôn giáocó thể hay không thể đón nhận những chân lý mạc khải xác định bằng bất kỳ cách nào khác ngoại trừ nhờ mạc khải của Thánh Kinh. Vấn đề này được trả lời bằng những cách thức tương tự nhau nhưng có hơi chút khác nhau trong phái duy Tin mừng bảo thủ và trong phái tân kinh viện Công Giáo.

Những nhà duy Tin mừng bảo thủ chủ trương rằng người ta chỉ có thể đạt được mạc khải đặc biệt xuyên qua Thánh Kinh, nhưng trên cơ sở một số bản văn Thánh Kinh như Cv 14,17; Cv 17,22-31; Rm 1,18-20; Rm 2,15, họ chủ trương rằng Thiên Chúa có thể dấu chứng về Ngài nơi tất cả mọi người, và những dấu chứng ấy làm thành một loại “mạc khải thông thường.” Tuy nhiên, mạc khải thông thường này không có sức cứu độ. Bản Lausanne Covenant, một bản tuyên xưng đức tin do Hội Đồng Quốc Tế về Phúc âm hóa Thế giới ấn hành năm 1974, đã tuyên bố:

Chúng tôi nhìn nhận rằng tất cả mọi người đều có nhận thức về Thiên Chúa nhờ mạc khải thông thường của Ngài trong thiên nhiên. Nhưng chúng tôi phủ nhận điều đó có thể cứu độ đối với những người chà đạp chân lý bằng sự bất chính của mình. Chúng tôi cũng tẩy chay và xem như sự lăng mạ Đức Kitô và Tin mừng mọi thứ chủ nghĩa hỗn hợp ngụ ý rằng Đức Kitô ngỏ lời một cách bình đẳng như nhau qua mọi tôn giáo và mọi ý thức hệ.””

Waldron Scott, khi chú giải bản văn này, giải thích rằng quả thực Thiên Chúa tự mạc khải chính Ngài trong thiên nhiên, và ánh sáng này có thể được phản ảnh tốt trong các tôn giáo. “Tuy nhiên người ta từ khước nhận thức mà họ có được. Họ không nhìn nhận Thiên Chúa trong sự thực. Họ lợi dụng tín ngưỡng của họ để tránh khỏi Thiên Chúa.” Gordon Clark chủ trương rằng sự mâu thuẫn giữa các tôn giáo ngoại giáo chứng minh “những hậu quả tối tăm của tội lỗi trên trí khôn con người khi tâm trí cố khám phá Thiên Chúa và ơn cứu độ trong thiên nhiên.” Vì thế chủ trương duy Tin mừng bảo thủ, trong khi vận dụng sự khác biệt giữa mạc khải thông thường và mạc khải đặc biệt, đã có khuynh hướng nhìn những tôn giáo ngoài Thánh Kinh không phải là tôn giáo mạc khải mà chỉ là một “câu trả lời chệch choạc đối với mạc khải của Thiên Chúa.””

Tư tưởng tân kinh viện đặc biệt tạo ra sự khác biệt không phải giữa mạc khải thông thường và mạc khải đặc biệt nhưng là giữa tôn giáo tự nhiên và tôn giáo mạc khải, dùng một cách nhìn lạc quan quân bình của tư tưởng duy Tin mừng bảo thủ. Ta có thể trích dẫn Gerardus van Noort để minh họa cho quan điểm này:

Có 2 loại tôn giáo: tôn giáo tự nhiên và tôn giáo siêu nhiên. Tôn giáo tự nhiên nảy sinh chủ yếu từ chính bản chất của Thiên Chúa và của con người, được tri thức và được điều hợp bởi lý trí, và dẫn tới một mục đích tự nhiên. Tôn giáo siêu nhiên dựa trên một loại mạc khải nào đó. Tuy nhiên, đừng quên rằng tôn giáo siêu nhiên không phá hủy hoặc thay chỗ cho tôn giáo tự nhiên, nhưng là tăng cường và hoàn thiện nó.””

Sự kiện tất cả mọi người, từ những người sơ khai nhất đến những người văn minh nhất, luôn luôn thực hành tôn giáo có thể được giải thích – theo Đức Ông van Noort – “chỉ trên các cơ sở rằng mọi người đều theo những chỉ bảo của lý trí lành mạnh.” Những các tôn giáo thực tế tồn tại -ông nhìn nhận – đều mang những dấu vết của sự hư hỏng do tội lỗi. Người ta nhận thấy các tôn giáo ấy “đều mang những dạng lệch lạc như bái vật thuyết, hồn linh thuyết, nhị nguyên thuyết, vật tổ thuyết…””

Một số nhà tân kinh viện, gồm cả van Noort, nhấn mạnh ý niệm về tôn giáo tự nhiên bằng cách cũng nại đến mạc khải nguyên sơ. Trên cơ sở Thánh Kinh họ chủ trương rằng các mạc khải được thực hiện cho những cụ thủy tổ loài người và cho các tổ phụ vào thời kỳ trước Môsê. Họ chủ trương rằng dò tìm lại mạc khải nguyên thủy này là cách giải thích tốt nhất cho sự cao quí và sự nguyên tuyền của tôn giáo được nhận thấy trong một số dân tộc sơ khai, ngay cả trong thời đại chúng ta hôm nay. Hậu thuẫn cho chủ trương này, nhiều tác giả đã đưa ra những phát hiện của Wilhem Schmidt, S.V.D, nhà nhân loại học văn hóa Vien, trong biên khảo của ông mang tựa đề Der Ursprung der Gottesidee (12 tập, 1921-1955).

Các nhà nhân loại học và các sử gia hiện nay tỏ vẻ rất hồ nghi về luận đề ấy, chủ yếu đối với quan điểm của Schmidt cho rằng các dân tộc sơ khai nổi bật trong tư tưởng độc thần của họ. Dẫu sao đi nữa, mẫu thức xác định cũng quá hẹp hòi trong  việc giả định rằng mạc khải bên ngoài những tôn giáo Thánh Kinh hẳn phải dựa hoặc vào sự suy luận của lý trí từ trật tự của tạo vật hoặc vào một loại mạc khải tích cực nguyên sơ nào đó được truyền lại trong một truyền thống xa xăm. Đối lập lại những lý thuyết khác mà chúng ta sẽ khảo sát, mẫu thức này không màng bao nhiêu đến những công cuộc của Thiên Chúa trong lịch sử và trong kinh nghiệm của những người không biết đến Tin mừng.

Mạc Khải Xét Như Lịch Sử Và Các Tôn Giáo

Mẫu thức hai, tức mẫu thức mạc khải xét như lịch sử, cũng phải được thảo luận trên hai hình thức: lịch sử cứu độ và lịch sử phổ quát. Oscar Cullmann, trong khi minh họa phương thức thứ nhất, chủ trương rằng giòng lịch sử cứu độ, từ đầu cho đến thời kỳ Đức Giêsu Kitô, càng ngày càng co lại với một thiểu số tiêu biểu, cho đến Đức Giêsu thì chỉ còn một cá nhân đơn độc đại diện cho toàn thể. Kể từ cuộc Phục Sinh của Đức Giêsu thì ơn cứu độ và mạc khải lại được mở rộng ra từ trung tâm điểm của nó nơi Đức Giêsu. Công cuộc rao giảng truyền giáo của Giáo Hội đem lại ý nghĩa cho toàn bộ giai đoạn lịch sử từ Phục Sinh cho đến Quang Lâm. Giáo Hội, xét như là nơi gìn giữ mạc khải, là “khí cụ của hoạt động cứu độ thần linh.” Theo Cullmann, Giáo Hội không đương đầu với những người ngoại giáo trên thế giới vốn đã chấp nhận mạc khải, nhưng trái lại Giáo Hội chỉ đương đầu với những người khước từ mạc khải. Ông giải thích Cv 17, 22 tt. Và Rm 1, 18 tt. như là giáo huấn dạy rằng “các dân ngoại sau Abraham, cũng như trước đó, đóng cửa tâm hồn trước mạc khải của Thiên Chúa trong công cuộc sáng tạo.””

Jean Daniélou, người đưa ra một phương thức lịch sử cứu độ được điều hợp, nhận ra rằng có thể có chỗ nào đó cho mạc khải trong các tôn giáo ngoài Thánh Kinh. Ông chủ trương rằng ngay cả trước khi trao ban mạc khải có tính lịch sử cho tôn giáo Thánh Kinh, Thiên Chúa đã tự mạc khải chính Ngài một cách phổ quát xuyên qua vũ trụ, qua lương tâm và tinh thần con người. “Giao ước vũ trụ” giữa Thiên Chúa và Nôe như được chương 9 Sáng Thế Ký cho thấy – theo Daniélou – mở rộng ra  cho cả nhân loại. Ông khẳng quyết rằng “tôn giáo vũ trụ không phải là tôn giáo tự nhiên, nếu hiểu tôn giáo tự nhiên là một cái gì ở ngoài trật tự siêu nhiên… Giao ước vũ trụ cũng là một giao ước ân sủng, nhưng nó vẫn chưa hoàn hảo, hiểu theo ý nghĩa rằng ở đó Thiên Chúa tự mạc khải chính Ngài chỉ qua vũ trụ.” Ông vạch ra rằng Kinh Thánh tự nó đề cao sự thánh thiện của nhiều người “ngoại giáo” như Abel, Enoch, Daniel, Nôe, Giop, Menkisêđê, Lot, và nữ hoàng Sheba. Tuy nhiên, theo ông, cũng phải chấp nhận rằng tôn giáo tự nhiên được tìm thấy luôn luôn – theo những hình thức chúng ta được biết – là trong một điều kiện ít nhiều lệch lạc. Vì thế ông cảm thấy mạnh dạn để đối lập rõ ràng giữa Kitô giáo Công Giáo và mọi tôn giáo khác:

Như vậy, sự khác biệt chủ yếu giữa Công Giáo và mọi tôn giáo khác là ở chỗ các tôn giáo khác phát xuất từ con người. Các tôn giáo ấy là những cố gắng đáng nể và thường rất hay, vươn lên rất cao trong công cuộc kiếm tìm Thiên Chúa. Nhưng trong Công Giáo có một chuyển động ngược lại, đó là Thiên Chúa đi xuống với thế giới, để thông truyền sự sống của Ngài cho thế giới. Câu trả lời đối với những gợi ý của toàn thể vũ trụ nằm trong tôn giáo Do Thái – Kitô giáo. Công Giáo, tôn giáo đích thực, bao gồm hai yếu tố này. Đó là tôn giáo mà trong đó ân sủng của Thiên Chúa đáp ứng tiếng kêu cầu của con người. Trong các tôn giáo khác ân sủng không hiện diện, cũng không có Đức Kitô, và cũng chẳng có ân huệ của Thiên Chúa. Sự sai lầm và ảo tưởng của chủ nghĩa hỗn hợp nằm ở chỗ tin rằng phổ quát tính là một mẫu số chung của mọi tôn giáo.””

Vì thế, cả Cullmann lẫn Daniélou xem ra đều không tín nhiệm ý kiến cho rằng mạc khải có trong các tôn giáo ngoài Kitô giáo. Tuy nhiên cái khái niệm về lịch sử cứu độ vốn đòi hỏi phải giới hạnmạc khải có tính lịch sử trong các dân tộc Thánh Kinh cũng là một khái niệm rỗng tuếch. Ngay cả trước giao ước Nôe – thì theo Ben Sirach – Thiên Chúa đã làm một giao ước trường tồn với Adam và Eva (Sir 17, 10). Giao ước nầy được nối tiếp bằng một loạt các giao ước khác với Abraham, với Môsê, với David và cuối cùng là với Đức Giêsu Kitô. Mỗi giao ước đều có thể được giải thích là có liên quan đến một mạc khải của sự quan tâm và những dự phóng của Thiên Chúa đối với dân Ngài. Những giao ước nối tiếp nhau không vô hiệu hóa nhau vì – theo Phaolô – các ơn huệ của Thiên Chúa là cái gì không thể rút lại (Rm 11, 29). “Giao ước mới và vĩnh cửu” trong Đức Giêsu (1Cr 11, 25; Dt 8, 13; 12, 24) có thể được xem như là một tiêu chuẩn theo đó mọi giao ước khác được cân nhắc và được giải thích. Lịch sử của các giao ước ấy xem ra có thể cung cấp nền tảng cho một thần học Thánh Kinh rộng rãi hơn về lịch sử cứu độ so với thần học của các tác giả như Cullmann và Daniélou, trong khi vẫn không hề tương đối hóa mạc khải Kitô giáo. Nhiều tác giả gần đây như Hans Kung, Raimundo Panikkar, Heinz Robert Schlette, Eugene Hillman, và Donald Dawe đã khẳng định rằng tất cả các dân tộc đều thuộc về một giao ước vũ trụ có tính cứu độ, nhưng sự phù hợp của khẳng định này đối với thần học mạc khải vẫn chưa được làm sáng tỏ.

Ý niệm về mạc khải xuyên qua lịch sử phổ quát, được bênh vực bởi Pannenberg và trường phái của ông, dường như đem lại nhiều hứa hẹn cho việc nhận ra mạc khải trong các tôn giáo ngoài Thánh Kinh. Nếu tự đầu tiên Thiên Chúa được nhận thức không phải chỉ nơi lịch sử của một dân đặc tuyển mà là nơi lịch sử thế giới – thì hẳn là Ngài đã tự vén mở chính mình cho tất cả mọi người. Tuy nhiên, Pannenberg phi bác ý tưởng về mạc khải trong rất nhiều tôn giáo. Khởi đi từ tiên đề Hegel rằng lịch sử phổ quát là một mạc khải gián tiếp của Thiên Chúa, ông nhìn nhận rằng ý nghĩa của lịch sử phổ quát chỉ được nhận hiểu ở điểm chung cuộc. Sự nhìn nhận như vậy dường như loại trừ mọi mạc khải trong lịch sử vì lịch sử không công nhận sự kiện mà duy chỉ các Kitô hữu thừa nhận, đó là kết cuộc của lịch sử phổ quát đã xảy ra một cách tiên báo rồi nơi cuộc Phục Sinh của Đức Giêsu từ cõi chết. Vì thế Pannenberg đồng ý với Barth rằng mạc khải – hiểu là sự tự vén mở của Thiên Chúa độc nhất – chỉ xảy ra nơi Đức Kitô, nơi Người thần linh đã đột nhập vào giòng chảy không ngừng của lịch sử.

Trong khi giành mạc khải cho Đức Kitô, Pannenberg cũng chấp nhận một chỗ đặc biệt cho đức tin của người Israel. Ông nói rằng lịch sử các lời hứa của Israel thật độc đáo vì nó mở ra đón nhận sự hoàn thành trong tương lai, và quả thật nó đón nhận chính sự hoàn thành nơi Đức Giêsu. “Khác với và ngược với các dân tộc khác và tôn giáo của họ, Israel, được soi sáng bởi kinh nghiệm đặc biệt của mình về Thiên Chúa, đã học hiểu sự thực về hiện sinh con người là một lịch sử hướng tới một mục đích chưa tỏ hiện.” Ngược lại, những huyền thoại của các tôn giáo thì liên hệ đến thời kỳ nguyên thủy và do đó đóng cửa đối với tương lai. Tuy vậy, những tôn giáo khác này không phải là những sự chế tạo thuần túy. Chúng thể hiện một cách lộn xộn cùng một thực tại đã tự mạc khải trong Đức Giêsu. Cuộc đối thoại tôn giáo có thể cố làm cho các tôn giáo ấy cởi mở ra đón nhận sự thay đổi có tính lịch sử riêng của các tôn giáo ấy, và do đó cũng sẵn sàng đón nhận sự thể hiện rõ ràng của Thiên Chúa trong Đức Kitô. Đồng thời cuộc đối thoại như thế có thể tránh cho Kitô giáo khỏi e ngại mà bám chặt vào những hình thức quá khứ của nó và có thể phát huy những năng lực cảm thụ bất tận của nó.

Trong khi Pannenberg, với ý niệm về mạc khải xuyên qua lịch sử phổ quát của ông, đã giới hạn mạc khải cho biến cố Đức Kitô, thì Rahner – trong khi kết hợp thuyết phổ cập về lịch sử với một phương thức có tính biểu hiệu về mạc khải – đã có thể nhận ra mạc khải trong tôn giáo như thế. Rahner khẳng định rằng nhờ mầu nhiệm Nhập Thể mà cả gia đình nhân loại được thiết lập làm dân Thiên Chúa và được gắn kết trong một mối quan hệ siêu nhiên với Thiên Chúa. Tất cả mọi người, nam cũng như nữ, đều được mời gọi vào hồng phúc vĩnh cửu trong Đức Kitô, Đấng trao ban ân sủng của Người ở mọi nơi và mọi thời. Mọi hành vi tốt lành tự nhiên đều được nâng lên trật tự siêu nhiên nhờ ân sủng cứu độ của Thiên Chúa.

Trong quan điểm nhân loại học biểu hiệu của ông, như đã được bàn đến ở chương IX, Rahner chủ trương rằng ân sủng – khi được đón nhận – không bao giờ còn bị treo trong một “siêu giới” (metaempirical sphere), ở ngoài khả xúc tính (tangibility) của lịch sử. Trái lại, ân sủng sẽ đương nhiên “cố gắng khách thể hóa chính mình trong những diễn tả rõ ràng về tôn giáo, như trong phụng vụ và các hội đoàn tôn giáo, và trong những phản kháng thuộc một loại “có tính ngôn sứ” chống lại bất cứ nỗ lực nào của con người nhằm khép kín mình trong một thế giới phạm trù riêng của mình – và chống lại bất cứ sự giải thích sai lạc nào (tựu trung có tính đa thần) về kinh nghiệm đầy đủ đối với ân sủng căn bản này. Vì tôn giáo là con đường thông thường trong đó mối quan hệ của người ta với tuyệt đối được triển hệ hóa (thematized), nên ân sủng siêu nhiên ắt hẳn phải biểu lộ được chính nó trong các tôn giáo, ngay cả khi những tôn giáo ấy có kèm theo những lệch lạc bởi tội lỗi và sự yếu đuối của con người.

Trong khi chủ trương đặc tính cứu độ và mạc khải của các tôn giáo nói chung, Rahner không tương đối hóa mạc khải của Thánh Kinh và Kitô giáo. Trong ngữ nghĩa học của ông, tôn giáo của Cựu và Tân ước làm nên lịch sử “đặc biệt” của mạc khải và ơn cứu độ, được dẫn dắt một cách không sai lạc tới Đức Kitô, nơi Người, Thiên Chúa và thế giới đi vào trong một “mối thống nhất hoàn toàn và không thể vượt qua được.” Đức Kitô, Ngôi Lời Nhập Thể, là biểu hiệu tôn giáo tuyệt đối, nơi Người, những khát vọng của nhân tính về một sự tự thông truyền rõ ràng và không thể rút lại của Thiên Chúa đã được hoàn thành. Các tôn giáo có thể được giải thích như là những diễn tả của một “hoài niệm có sức khám phá” vốn một cách nào đó báo trước về ân huệ tột đỉnh của Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô.

Thần học biểu hiệu của Rahner trong tư cách là sự tự diễn tả của ân sủng đã giúp ông xây dựng được một thần học về lịch sử cứu độ gán vai trò quan trọng không những có tính cứu độ mà còn có tính mạc khải cho những tôn giáo ngoài Thánh Kinh. Về phương diện này Rahner đi quá những đại biểu điển hình của mẫu thức mạc khải xét như lịch sử.

Mạc Khải Xét Như Kinh Nghiệm Và Các Tôn Giáo

Các thần học gia thuộc mẫu thức thứ ba chủ trương rằng một kinh nghiệm mạc khải về Thiên Chúa tiềm ẩn nơi mọi tôn giáo, và rằng những tôn giáo khác nhau không phải vì có những mạc khải khác nhau mà vì việc biểu hiệu hóa khác nhau về cùng một mạc khải. Trong khi không khẳng định rằng mọi kinh nghiệm về Thiên Chúa đều nguyên thuần hay sâu sắc như nhau, hoặc rằng mọi biểu hiệu đều có sức diễn tả như nhau, những thần học gia này xem những khác biệt giữa các tôn giáo là cái gì có tính tùy phụ đúng hơn là có tính thiết yếu. Những mạc khải thuộc các truyền thống khác nhau thì khác nhau trong cấp độ đúng hơn là trong thứ loại.

Friedrich von Hugel, mặc dù khởi đi từ mẫu thức thứ ba qua sự bám chặt của ông vào những nét có tính lịch sử và có tính thiết định của Kitô giáo, đã đặc biệt nhấn mạnh đến yếu tố thần bí. Ông chủ trương rằng Thiên Chúa được mạc khải qua kinh nghiệm trong mọi tôn giáo, nhưng kinh nghiệm này được nhận thấy “ở mức sâu xa nhất và nguyên tuyền nhất của nó” nơi Đức Kitô. Ông viết rằng trong số “những Nhà Mạc Khải và những Cuộc Nhập Thể vĩ đại của tình yêu đi trước của Đấng khác, thì Đức Giêsu Kitô giữ địa vị cao nhất và độc đáo nhất.””

Evelyn Underhill, nhà nghiên cứu kiên trì về văn chương thần bí, đã xác tín rằng thần bí thuyết đã tìm thấy được minh họa tốt nhất của nó nơi Kitô giáo. Nhưng bà thêm rằng minh họa ấy không phải là thực tại:

Dù vậy, những cố gắng nhằm hạn định chân lý thần bí – tức sự thấu hiểu trực tiếp về Bản Chất Thần linh – bởi những định thức của bất cứ một tôn giáo nào, thì cũng vô ích như cố gắng đồng hóa một kim loại quí với cái khuôn đúc nó thành đồng tiền. Khuôn mà các nhà thần bí dùng thì vô số kể… Nhưng nguyên liệu vàng mà từ đó vô số loại tiền được đúc ra thì vẫn chỉ là một loại kim khí quí; vẫn luôn là một Phúc Kiến về Chân, Thiện, Mỹ vốn cũng là một. Vì thế bản thể của nó phải luôn được phân biệt với những tùy thể mà qua đó chúng ta nắm bắt được bản thể: vì bản thể này có một tầm quan trọng tuyệt đối chứ không phải một tầm quan trọng có cấp độ.””

Đối với William Ernest Hocking cũng thế, mạc khải là “yếu tố thường nghiệm trong tri thức tôn giáo.” Theo ông, không có tôn giáo nếu không có một nền tảng trong mạc khải, và do đó mỗi tôn giáo phải có thể được ý niệm lại từ ánh sáng của những cấu tố có tính mạc khải trong các tôn giáo khác. Ông gợi ý rằng trong một cuộc tái phối kết mới mẻ như thế, “ý niệm về Đức Kitô được mở rộng để bao gồm Thánh Thần tự do Đấng đang đứng và vẫn đứng ở cửa lòng mọi người, và là Đấng – bằng nhiều cách đa dạng – vẫn xuất hiện cho những ai mở lòng ra, vừa như  một lời vô ngã vừa như một sự hiện diện ngã vị.” Theo Hocking hình dung thì trong niềm tin thế giới sắp tới, danh Đức Giêsu Kitô sẽ không còn bị câu nệ nữa.

Nơi nhiều thần học gia gần đây, một cố gắng tiếp cận các tôn giáo ngoài Thánh Kinh đã được thực hiện trên cơ sở giáo huấn về tình phụ tử của Đức Kitô xét như là Ngôi Lời phổ quát. Paul Tillich, chẳng hạn, đã chủ trương rằng mọi tôn giáo sống động đều dựa trên những kinh nghiệm mạc khải về cùng một thực tại thần linh hằng hữu, được biểu hiệu hóa một cách khác nhau nơi mỗi tôn giáo. Trong một trong những tác phẩm cuối cùng của ông, Tillich đã cố tìm cách cho thấy rằng biểu hiệu Phật giáo về Niết bàn và biểu hiệu Kitô giáo về Nước Trời là hai phương cách để diễn tả sự phân ranh giữa sự thực cuối cùng và  những điều kiện hiện sinh thực tế. Tillich tin rằng xuyên qua một cuộc đối thoại ba chiều, các tôn giáo Đông phương, các tôn giáo Tây phương và – có thể nói – những tôn giáo thế tục mới có thể làm phong phú cho nhau và tinh luyện nhau. “Sâu xa trong mỗi tôn giáo sống động đều có một điểm mà ở đó tôn giáo ấy đánh mất vai trò quan trọng của mình, và đó là điểm mà tôn giáo ấy hướng đến để vượt qua nét đặc thù của mình, nâng nó lên tới sự tự do thiêng liêng để kiến thị được sự hiện diện thiêng liêng trong những diễn tả khác về ý nghĩa cuối cùng của cuộc hiện sinh con người.””

Sự kết hợp một chủ nghĩa tuyệt đối về mạc khải với một chủ nghĩa tương đối về các biểu hiệu tiếp tục được nhấn mạnh bởi các học giả tên tuổi trong thời đại chúng ta. J.Hick, chẳng hạn, khẳng quyết rằng vì Thiên Chúa là Thiên Chúa của toàn thể thế giới nên chúng ta phải giả định rằng toàn thể đời sống tôn giáo của nhân loại là một phần của mối quan hệ thường xuyên và phổ quát của con người đối với Thiên Chúa. Tất cả các truyền thống tôn giáo lớn đều dựa trên những kinh nghiệm có tính mạc khải về Đấng Tuyệt đối, nhưng phản ảnh tuyệt đối một cách khác nhau theo quan điểm của những điều kiện lịch sử và văn hóa khác nhau. Yếu tố thống nhứt trong mọi tôn giáo là Thiên Chúa, Đấng mà các tôn giáo đều qui về. Nhiều loại suy khác nhau về thực tại thần linh có thể đều đúng cả, mặc dù được trình bày trong những tỉ đối bất toàn của con người. Dẫu có thể chúng ta không có khả năng đem lại một tôn giáo độc nhất cho thế giới, thì hoàn cảnh mới do sự thông tin liên lạc rộng khắp hoàn cầu tạo ra có thể đưa đến “một sự thâm nhập ngày càng tăng của các truyền thống tôn giáo và đưa đến một sự xích lại gần nhau hơn cho các truyền thống.””

Do đó, trong mẫu thức này, mạc khải được phân biệt rõ ràng với biểu hiệu. Mạc khải được hiểu là cái có tính thống nhất và thuộc thần linh, còn hệ thống biểu hiệu được hiểu là có tính phân tán và thuộc con người. Đức Giêsu Kitô được nhìn như là một biểu hiệu Kitô giáo, rất có ý nghĩa đối với các Kitô hữu, nhưng thiếu giá trị phổ quát về kinh nghiệm về Thiên Chúa – Đấng mà biểu hiệu nầy hướng chỉ.

Những giới hạn của mẫu thức này đối với thần học trong phạm vi Kitô giáo đã được đề cập đến ở những chương trước. Ở đây có thể thêm rằng cái cố gắng tách biệt kinh nghiệm về mạc khải ra khỏi biểu hiệu và ý niệm sẽ gây cản trở cho cuộc đối thoại giữa các tôn giáo. Chẳng hạn như Hick không nhận thức rằng có một yếu tố có sức diễn dịch trong mọi kinh nghiệm về mạc khải. Vì thế sự cố gắng vượt qua những yếu tố lịch sử và văn hóa có thể đưa đến một sự giảm giá chẳng hay ho gì. Chính tư tưởng hữu thần có thể bị đe dọa vì nó bị khuôn đúc quá nhiều bởi những biểu hiệu và những cơ cấu khái niệm của tôn giáo Thánh Kinh và triết lý Hilạp, và không được rộng rãi chấp nhận nơi các tôn giáo Đông phương. Nếu được thâu nhận rộng rãi thì cố gắng giải gỡ những nét đặc thù về văn hóa sẽ triệt tiêu qui thần thuyết cũng như qui Kitô thuyết xét như một nền tảng để đối thoại. Bình diện chung, do đó, sẽ teo lại một cách thậm tệ.

Mạc Khải Xét Như Có Tính Biện Chứng Và Các Tôn Giáo

Cảnh giác trước những khuynh hướng giảm giá nơi thần học tự do và thần học duy tân, các nhà thần học biện chứng, với Karl Barth làm nguyên súy, đã bênh vực cho một phương thức tiếp cận các tôn giáo thiên về tính tranh luận và phê phán hơn là thương thảo và gièm pha. Đối với những thần học gia này thì Đức Kitô trong tư cách là Lời của Thiên Chúa đứng ở vị trí phán xử mọi thành tựu của con người, gồm cả tôn giáo trong mức độ tôn giáo được hiểu là được triển khai từ con người. Từ một quan điểm về sức mạnh, các tác giả thuộc mẫu thức bốn chủ trương rằng qui phạm tối cao của mọi thần học, kể cả thần học của các tôn giáo, phải là Đức Giêsu Kitô – trong Người, Thiên Chúa đã tự vén mở rõ ràng.

Barth, trong Thư gửi Rôma và trong tập thứ nhất của tác phẩm “Tín lý Giáo Hội” của ông, đã trình bày một cách khéo léo quan điểm của ông rằng mạc khải đứng đối lập mọi tôn giáo, nhưng qua việc thẩm đoán, nó sẽ sửa chữa và biện minh – sao cho trong Đức Kitô – có thể có một “tôn giáo đích thực” được bảo lưu như được tinh luyện bằng lửa. Trong khi phi bác mọi lliên tục tính dễ dãi giữa Đức Kitô và các tôn giáo, thần học biện chứng của Barth chấp nhận một loại Aufhebung (kết thúc và biến thái) của Hegel đối với tôn giáo mà ánh sáng Đức Kitô được dùng để soi dọi vào. Nhưng ông cảm thấy bị bắt buộc phải vạch ra cho thấy rõ ràng là Phật giáo Amida và Ấn giáo Bhakti – cho dẫu là tiên báo thực sự của Kitô giáo (Pauline) và Kitô giáo Thệ phản – vẫn thiếu một điều thiết yếu để làm tôn giáo đích thực, đó là danh Đức Giêsu Kitô.

Cả trong những tập cuối tác phẩm “Tín lý Giáo Hội” của ông – trong đó ông nhấn mạnh những hiệu quả xa của hành động giải hòa của Đức Kitô – Barth vẫn duy trì một thái độ dè dặt. Ông tuyên bố rằng những tôn giáo – như Hồi giáo chẳng hạn – gây cho người ta ấn tượng có tính nhân bản và đạo đức.

Những cuộc truyền giáo vừa giả thiết trước rằng chúng sẽ được đánh giá cao và được nghiêm túc đón nhận – hoàn toàn không có xen vào sự tự tôn thái quá của người Âu, vừa vẫn giả thiết rằng chúng sẽ không được phép làm bất cứ áp lực nào trên Tin mừng nhưng chính Tin mừng sẽ đối lập lại chúng bằng tất cả tính độc đáo và mới mẻ hoàn toàn của Tin mừng – không hề có chuyện thương thảo nhượng bộ hoặc cố gắng tìm ra những điểm chung v.v… Các cuộc truyền giáo sẽ mất giá trị và vô ích nếu người ta không theo đuổi chúng trong tinh thần chấp nhận hẳn hoi hai giả thiết này, nghĩa là theo đuổi với một nhiệt tình thực sự nhưng cũng với một sự thiếu hụt thực sự không kém để được gọi là những tôn giáo đúng nghĩa.””

Emil Brunner, người đã phát triển một thần học “tranh biện” (eristic) về các tôn giáo, đã khẳng quyết rằng chỉ những tôn giáo có tính tiên tri của vùng Cận Đông mới có thể được nhận thấy là có chính thức tự nhận mình có mạc khải. Nhưng những tôn giáo có tính tiên tri sống động khác, Do Thái giáo và Hồi giáo, từ khước những tuyên bố của Kitô giáo, vì thế đặt ra một sự chọn lựa. Tuyên bố của Kitô giáo tự nhận mình là mạc khải của Thiên Chúa xuyên qua mầu nhiệm Nhập Thể làm cho Kitô giáo hoàn toàn phân biệt với Do Thái giáo và Hồi giáo. Theo cái nhìn của đức tin Kitô giáo, Đức Kitô vừa là sự hoàn thành vừa là sự phán xử  mọi tôn giáo. Người hoàn thành các tôn giáo bởi Người là chân lý, là trạng sư, là hi tế, và là bữa ăn mà các tôn giáo ấy tìm kiếm vô vọng. Nhưng Người cũng phán xử mọi tôn giáo bởi vì Người làm bật lên sự sai lầm trong các giáo thuyết của các tôn giáo ấy và chủ nghĩa nệ luật mê tín và dã man trong việc thực hành các tôn giáo ấy. Vốn được gọi vào hiện hữu nhờ sự tự thể hiện của Thiên Chúa trong công cuộc sáng tạo, tôn giáo luôn luôn bị làm cho sai lạc bởi lòng kiêu căng và ích kỷ của con người.

Thần học biện chứng về các tôn giáo, như được Barth và Brunner đề ra, đã được Hendrik Kraemer áp dụng vào khoa truyền giáo. Tác phẩm của ông, “Sứ điệp Kitô giáo trong một thế giới phi Kitô giáo,” được viết theo yêu cầu của Hội đồng truyền giáo Thế giới, đã gây ảnh hưởng lớn tại Hội nghị Tambaram ở Ấn Độ năm 1938, và vẫn còn nhiều ảnh hưởng trong những Hội đồng Thế giới ngày nay. Kraemer chủ trương rằng sứ điệp của Thiên Chúa, vốn không vào khuôn với bất kỳ tôn giáo hay triết học nào, rất nên được loan báo thẳng thắn, dù bao giờ cũng bằng một cách thế khả niệm và thuộc về những kẻ đã được Phúc âm hóa. Trong khi không phủ nhận tất cả những dấu hiệu của mạc khải trong các tôn giáo, Kraemer đã tập chú vào Đức Kitô xét như sự mạc khải duy nhất đầy đủ của Thiên Chúa về chính Ngài. Nói chung ông đánh giá những tôn giáo ngoài Kitô giáo như là những kết quả đạt được của con người.

Thần học biện chứng phải được khen ngợi vì sự khẳng quyết của nó rằng các Kitô hữu phải dùng những nguồn mạch đầy đủ của đức tin của mình để tác động trên cuộc gặp gỡ giữa các tôn giáo. Chấp nhận giáo huấn của Tân ước như nó vốn vậy, và chấp nhận những tín lý về Chúa Ba Ngôi và về Kitô học mà không hề mập mờ, thần học này trung thành với sự phong phú vô song của sự vén mở của Thiên Chúa qua Lời Nhập Thể của Ngài. Các thần học gia này thật đúng đắn khi nhắc nhở chúng ta về tầm quan trọng của những dấu hiệu và những chứng từ công bố Đức Giêsu là Chúa Tể vũ trụ. Song dù ân sủng của Thiên Chúa nơi Đức Kitô có một hiệu năng cứu độ phổ quát – như Barth dường như nhìn nhận – người ta vẫn có thể hoàn toàn nghi ngờ rằng mọi tôn giáo nhân loại, trong mức độ là hậu quả của ân sủng, có thể mang một chứng từ vô ngôn hay gián tiếp về Lời của Thiên Chúa trong Đức Kitô. Ở điểm này, lý thuyết của Rahner về “hoài niệm có sức khám phá” và thần học về Lời của Tillich và những người khác hẳn có thể bổ sung và – một cách nào đó – hiệu đính những tuyên bố đầy tính tranh cãi của Barth, Brunner và Kraemer.

Mạc Khải Xét Như Yù Thức Mới Và Các Tôn Giáo

Mẫu thức thứ năm, như ta thấy, hiểu mạc khải một cách linh động nơi tác động của nó trên ý thức con người. Mạc khải được xem như một hiệu lệnh thần linh đòi người ta vượt lên trên những nhãn giới hiện tại của mình. Bởi vì hiệu lệnh này luôn luôn có liên hệ hỗ tương với hoàn cảnh thực tế cũng như với tính năng động căn bản của tinh thần con người, cho nên mạc khải xảy ra mỗi thời kỳ lịch sử mỗi mới mẻ trong cách thế. Vào thời đại chúng ta, nhiều nhà thần học trong số nầy khẳng định, mạc khải đưa ra một tiếng mời gọi người ta gác qua những giới hạn có tính khép kín về mặt văn hóa và cởi mở ra đón nhận hoạt động của Thánh Thần trong những nền văn hóa xa lạ. Sẵn sàng chấp nhận những trào lưu mới trong kinh nghiệm thế tục và tôn giáo, Teilhard de Chardin, Gregory Baum và Paul Knitter đã đề nghị những tái xét căn bản về Kitô giáo truyền thống, với những hàm ý chủ yếu tạo điều kiện cho cuộc đối thoại giữa các tôn giáo.

Teilhard de Chardin xác tín rằng cuộc gặp gỡ hiện nay giữa các tôn giáo không thể hoàn tất triển vọng của nó trừ phi khoa phê bình tôn giáo của chủ nghĩa nhân bản thế tục được liên hội đến. Tuy nhiên, chủ nghĩa nhân bản thế tục – do thiếu tiêu điểm siêu việt được cung cấp bởi mạc khải – nên không thể đem lại loại đức tin cần thiết để nhân loại đứng được trong buổi bình minh của kỷ nguyên hành tinh. Các tôn giáo Đông phương, thấm đẫm một ý nghĩa thần bí về sự thống nhất phổ quát, đã đem lại một tiêu điểm siêu việt, nhưng lại không đem lại nổi ý nghĩa cho nỗ lực của con người và cho tiến trình tiến hóa. Kitô giáo trong những hình thức thông thường của nó (đôi khi Teilhard gọi là Kitô giáo “paleo”) đã khổ sở do một số những tính phi thế tục tương tự như vậy. Do đó ông đòi hỏi phải có một “Tân Kitô giáo,” một “tân thần bí thuyết,” một cái gì mà “chúng ta vẫn chưa gọi tên” để phục vụ trong tư cách là một “trục nòng cốt độc quyền” mà các tôn giáo có thể giao hội.

Một cuộc giao hội của các tôn giáo trên một Đức Kitô toàn thể là Đấng làm thỏa mãn tự căn bản tất cả các tôn giáo: tôi cho đấy dường như là cuộc trở lại duy nhất có khả năng của thế giới, và đấy là hình thức duy nhất trong đó người ta có thể ý niệm về một tôn giáo của tương lai.””

Không giống như những chủ trương nhất nguyên sai lạc ảnh hưởng trên các hình thức phiếm thần của Đông phương và Tây phương, một Kitô luận phổ quát (pan Christism) – theo Teilhard – có thể kết hợp cái nhìn của Đông phương về mối thống nhất phổ quát với cái nhìn của Tây phương về phẩm giá và sự tự do của cá nhân. Mặc dù đây đó có những ghi nhận rằng Đức Kitô phải được diễn dịch lại theo một cách thế sao cho có thể “liên kết những khía cạnh của thần linh như được thần Siva của Ấn Độ trình bày,” Teilhard thường đề cập đến những giới hạn hơn là đề cập đến những đóng góp của “con đường Đông phương.” Khi được hỏi rằng một Phật tử và một tín đồ Ấn giáo – ai trong hai sẽ trở thành một Kitô hữu, ông trả lời: “Tốt hơn cả là bạn hãy cố gắng mang cả chân lý của tôn giáo trước đây của bạn theo bạn, và thay đổi nó nếu có thể, dù dĩ nhiên là đôi khi không thể làm được điều này.””

Baum, như ta đã thấy, mô tả sự chấp nhận mạc khải như “một cuộc đi vào với một ý thức mới và một định hướng mới về thế giới.” Đức Giêsu “cho chúng ta biết hiệu quả cứu độ của Thiên Chúa trong toàn thể đời sống con người.” Tôn giáo, như Marx và Freud đã vạch ra, có thể là một bức màn che mắt chúng ta không thấy được trách nhiệm trong xã hội, nhưng phụng tự tôn giáo cũng có thể bảo vệ chúng ta khỏi quyền lực sự dữ là tình dục, tiền bạc, quốc gia, và những triết lý xã hội. Trong khi không chủ trương rằng những tôn giáo ngoài Thánh Kinh có tính thần linh, chúng ta vẫn có thể tìm thấy trong các tôn giáo ấy một cái gì đó “cung ứng sự cứu độ cho con người, giải gỡ con người khỏi tà thần, nâng con người lên tới sự hiểu biết cao hơn, tạo cho họ đức tin (vào) một thực tại ân phúc siêu việt, và đẩy họ vào tình yêu thương và sự quan tâm đến người khác.”

Kitô học về Lời, vốn xem các tôn giáo khác chỉ như là những dự bị cho Kitô giáo, không còn phù hợp nữa, đó là quan điểm của Baum. Ông tuyên bố rằng Giáo Hội phải từ bỏ những tuyên bố tuyệt đối của mình, những tuyên bố rõ ràng gieo mầm cho chống đối và đụng chạm. Mỗi tôn giáo phải cố gắng tự giải phóng mình, với sự giúp đỡ của những tôn giáo khác, khỏi những ngẫu tượng của mình.

Như vậy cuộc truyền giáo của Giáo Hội có thể được hiểu như một cuộc đối thoại tiếp tục với các tôn giáo khác, một cuộc đối thoại nhằm mục đích giải phóng các thành phần liên hệ – bao gồm cả chính Giáo Hội – khỏi sự bóp méo có tính ý thức hệ về chân lý. Qua trao đổi và hoạt động người ta có thể học biết làm cách nào để gắn bó chính mình vào những yếu tố đích thực, có sức đem lại sự sống và tính nhân bản trong các truyền thống tôn giáo của mình.””

Baum khẳng định rằng một lý tưởng như thế sẽ làm cho người ta thuộc mỗi tôn giáo dễ dàng kết thân với những người thuộc tôn giáo khác, chia sẻ những kinh nghiệm trọng yếu, cảm thấy hiệp nhất trong cùng một cuộc phấn đầu căn bản, “và không bao giờ nghĩ rằng có ai đó sẽ chuyển từ tôn giáo này sang tôn giáo khác.””

Ở Hoa Kỳ, một người Công Giáo La mã khác là Paul Knitter trong một số bài báo gần đây đã thách thức cái nhìn cho rằng Kitô giáo gắn chặt các thành viên của mình vào tính chung quyết và tính thượng tôn của mạc khải (của) Thiên Chúa nơi Đức Kitô. Ông chủ trương rằng một luận thuyết như thế thì không thể đúng đắn để diễn tả một phương thức hiện đại tiếp cận Thánh Kinh và một phương pháp tái xét trong thần học. Nó cũng là tai họa cho cuộc đối thoại giữa các tôn giáo. Đi theo một thần học nhất quán có tính ý thức, ông lập luận rằng mạc khải và ơn cứu độ xảy ra khi cá nhân người ta được “hút vào” một thế giới do thần thoại và biểu hiệu xây dựng nên.

Những biểu hiệu thần thoại thì cứu độ. Những sự kiện lịch sử thì không… Chỉ khi chúng ta được nắm bắt bởi -và tìm thấy chính mình đang đáp trả với tất cả hữu thể của mình trước một biểu hiệu, thần thoại hay câu chuyện thì lúc ấy mới chính là lúc chúng ta đang gặp gỡ thần linh, đang đụng chạm và đang được đụng chạm bởi “Nền Tảng của Hữu Thể” và đang cảm nghiệm ân sủng.””

Knitter khẳng định rằng biểu hiệu và thần thoại có sức cứu độ không phải vì chúng tương ứng với một thực tại khách quan được tiên báo trước nào đó, nhưng vì chúng đi vào trong một hiện hữu riêng tư nhất của con người, ở đó chúng làm mới lại toàn bộ bản ngã. Nếu thừa nhận điều này thì Kitô giáo sẽ không còn xem biểu hiệu về cuộc Nhập Thể là một thuật trình có tính sự kiện nữa. Đó là một thần thoại với cùng ý nghĩa như những câu chuyện về sự sinh hạ và sự vinh thăng kỳ diệu của Đức Phật và Đức Krishna. “Nếu quả đúng là sự cứu độ hệ tại ở biểu hiệu thần thoại, chứ không bởi những sự kiện lịch sử, thì Kitô giáo được đặt chủ yếu trên cùng một bình diện với các tôn giáo khác.” Knitter thêm: “Những nhận thức ấy sẽ mở ra những con đường mới mẻ cho cuộc đối thoại hiện nay giữa các tôn giáo thế giới.””

Ở chương X chúng ta đã bình luận về quan điểm cho rằng biểu hiệu ngang hàng với thần thoại, xét như là một sản phẩm của trí tưởng tượng sáng tạo, và rằng giáo lý về Sự Nhập Thể – vốn có tính thần thoại – không thể được hiểu như là một công bố có tính tri thức về chính Đức Giêsu. Việc chủ trương rằng ơn cứu độ được ban cho bởi một thần thoại như vậy – đúng hơn là bởi hành động cứu độ của Thiên Chúa trong Chúa Con Nhập Thể của Ngài – đã chuyển đổi tận căn bản trung tâm của đức tin Kitô giáo. Nhiều thần học gia hiện đại – những vị mà tôi hội nhập chính mình vào – phủ nhận rằng: một sự chuyển vị như thế là không cần thiết để phục vụ cho những phát triển tốt đẹp trong phương pháp chú giải hoặc phương pháp thần học. Không lâu trước đây, Charles Davis đã có lý khi viết: “Một cách thẳng thắn, bản thân tôi không hiểu bằng cách nào mà phổ quát tính và chung cuộc tính của Đức Kitô có thể bị phủ nhận mà không làm phá sản cái truyền thống ý nghĩa Kitô giáo.” Đối với một Kitô hữu, để nói được như Davis nói ở đây thì phải không phủ nhận Đức Kitô là một biểu hiệu – hoặc câu chuyện Đức Kitô theo một ý nghĩa nào đó là một thần thoại, nhưng phải ngụ ý rằng thần thoại hay biểu hiệu đó có sức vén mở ý nghĩa nội tại trong chính biến cố Đức Kitô.

Phải chăng một Kitô hữu có thể xác nhận rằng chính vị Chúa Thần linh mà các Kitô hữu tôn thờ nơi Đức Giêsu cũng được tôn thờ – dưới những biểu hiệu khác – bởi các tín đồ của thần Krishna và của Đức Phật? Sự trung thành với tuyên tín Kitô giáo xem ra không cho phép một ý nghĩ nào rằng có một Chúa nào khác ngoài Đức Giêsu (cf. 1Cr 8, 6). Tôi nhất trí với Lucien Richard để tẩy chay một “Kitô học cứng nhắc” thái quá trong việc xem câu chuyện Đức Giêsu là “việc lịch-sử-hóa một mẫu thức vốn được thấy là tác động ở mọi nọi.” Đàng khác, chẳng cần phải phủ nhận rằng Lời vĩnh cửu không thể tự thể hiện cho các dân tộc khác xuyên qua các biểu hiệu tôn giáo khác. Raimundo Panikkar, người đưa ra một “Kitô học phổ quát,” đã tiếp nối với một truyền thống Kitô giáo lâu đời về thần học về Lời có lịch sử từ mãi thời Thánh Tử đạo Justinô. Dựa trên các căn bản Kitô giáo, có thể chủ trương rằng ngôi vị thần linh nơi Đức Giêsu không bị triệt tiêu bởi sự xuất hiện có tính lịch sử ấy. Các biểu hiệu và thần thoại của các tôn giáo khác có thể hướng chỉ đến Đấng mà người Kitô hữu nhìn nhận là Đức Kitô.

Có sẽ là ích lợi cho cuộc đối thoại giữa các tôn giáo nếu các Kitô hữu phải bỏ tuyên nhận rằng Đức Kitô là qui phạm phổ quát và xác định? Rõ ràng là không thể có đối thoại nếu các Kitô hữu đòi hỏi – như một điều kiện để tham gia – rằng Đức Kitô phải được chấp nhận bởi tất cả mọi người như chuẩn mực tối cao của chân lý. Trong một cuộc đối thoại giữa các tôn giáo thì những xác tín riêng của bất cứ bên nào cũng không thể được giả định trước là đúng hay sai. Đối với các Kitô hữu, việc tiên thiên giũ bỏ tuyên nhận truyền thống của mình có thể sẽ làm tổn thương cho cuộc đối thoại, bởi vì sự giũ bỏ như vậy sẽ cản trở họ đóng góp những gì là tiềm năng quan trọng nhất của họ.

Những Kitô hữu xác tín rằng mình có Đức Giêsu Kitô là mạc khải rõ ràng có thể đi vào cuộc đối thoại giữa các tôn giáo với đầy đủ ý thức rằng mình có cái gì đó để đóng góp. Nhưng phải chăng họ có thể tham gia đối thoại như vậy với kỳ vọng sẽ học hỏi được cái gì đó? Theo các nguyên tắc được nêu trước ở chương này thì câu trả lời là họ hoàn toàn có thể. Họ có thể hi vọng tìm thấy những dấu hiệu và những biểu hiệu của ân sủng thần linh và của sự cao cả của con người trong bất cứ truyền thống tôn giáo quan trọng nào. Đây không phải là một sự chuẩn nhận thuần túy chính thức. Người Kitô hữu không thể đặt giới hạn cho những mức thánh thiện và mức nhận thức mà ân sủng Thiên Chúa có thể ban cho những người không nhận ra Đức Kitô là Lời Nhập Thể.

Trong tư cách là một biểu hiệu sống động và Nhập Thể, Đức Giêsu Kitô kiện toàn những gì là lành mạnh và chất vấn những gì là khiếm khuyết trong mọi tôn giáo, bao gồm cả Kitô giáo. Cũng như mọi người, các Kitô hữu phải nhận Người làm chuẩn mực. Người không tước bỏ bất cứ những gì có ý nghĩa mạc khải của các tôn giáo khác, và các tôn giáo cũng không tước bỏ ý nghĩa mạc khải nơi Người. Ngay cả khi đặt vấn đề về tính tương ứng của các biểu hiệu tôn giáo khác, Đức Kitô có thể đặt chúng trong một khung qui chiếu mới mẻ và rộng rãi hơn. Như Carl Hallencreute đã nói:

Vì khi gặp gỡ Đức Kitô các biểu hiệu của người tín ngưỡng được liên hệ với “thực tại thánh” ấy bằng một cách mới mẻ – đó là thực tại mà các biểu hiệu ấy qui chiếu trong khuôn khổ riêng biệt của mình. Các biểu hiệu ấy cùng được đem tới chính trọng tâm của chúng và được “qui kết” đến nỗi chúng có thể trở thành những cách diễn tả mới về sự phong phú của Đức Kitô.””

Sự tái lập bối cảnh này có thể hữu ích cho mọi tôn giáo kể cả Kitô giáo. Khi phương Tây, một “văn hóa Kitô giáo,” tương đối tách biệt và không mấy tiếp xúc với các tôn giáo khác, có thể tự xây dựng Kitô học về các biểu hiệu đậm tính Kitô giáo, nhưng cục diện lịch sử thế giới hiện nay xem ra đòi phải có sự tiến bộ hơn nữa. Cuộc gặp gỡ hiện nay giữa các tôn giáo có thể có ý nghĩa tích cực cho việc giải thích những gì là được mạc khải trong Đức Kitô. Nói theo ngôn ngữ của Gabriel Fackre:

Có một bản năng lành mạnh trong mọi mẫu thức hưởng ứng tư tưởng đa nguyên mới bằng cách tái lập giáo lý Kitô giáo về sự cứu độ trong một dáng vẻ phổ quát hơn. Giáo lý phát triển để đáp ứng những khung cảnh mới trong đó cộng đoàn Kitô hữu tìm thấy chính mình. Những cú sốc có nhiều sẽ càng có thể tác động đến những truyền thống thần học đã được đón nhận của chúng ta đến nỗi chúng ta được dẫn tới một nhận thức sâu xa hơn trong đức tin căn bản. Nhưng giáo lý phát triển như thế bao giờ cũng phát triển theo những quĩ đạo của đường nhắm nguyên thủy. Nó bộc lộ rõ ràng hơn những cái vốn tiềm mặc và nó liên kết chặt chẽ với chuẩn mực căn cơ của Tin mừng Đức Giêsu Kitô.””

Chúng ta không thể tiên báo chính xác những gì chúng ta có thể học hỏi được từ cuộc đối thoại xem ra mới chỉ khởi đầu. Tuy nhiên, không có lý do gì để cho rằng cuộc đối thoại ấy sẽ làm suy giảm tầm quan trọng có tính mạc khải của Đức Giêsu Kitô. Có thể là trong ánh sáng của những biểu hiệu mạc khải khác, ý nghĩa phổ quát và trường cửu của Đức Kitô sẽ được thể hiện càng hùng hồn hơn. Ngay cả dù vốn là sự tự vén mở tột đỉnh và rõ ràng của Thiên Chúa, Đức-Kitô-biểu-hiệu vẫn không thể được trân trọng thích đáng trong thời đại chúng ta ngoại trừ là trong bối cảnh của nhiều biểu hiệu khác, gồm cả những biểu hiệu của các tôn giáo ngoài Thánh Kinh. Nếu người ta tránh được sự thay đổi có chiều hướng phân hóa, thì cuộc gặp gỡ hiện nay của các tôn giáo hoàn toàn có thể dẫn đến một sự phong phú cho thuyết biểu hiệu Kitô giáo, và do đó, cho thần học mạc khải.

Lm. Lê Công Đức dịch từ

nguyên tác Models Of Revelation

của Avery Dulles, S.J.

do nhà Image Books – New York xuất bản, 1985.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s