Đức Kitô – Chóp đỉnh của mạc khải (10)

VRNs (15.04.2015) – Sài Gòn – Vấn Đề

Không dùng chữ “mạc khải” như một thuật ngữ thần học, Tân Ước trình bày rất rõ về Đức Giêsu như mạc khải tột đỉnh của Thiên Chúa. Tân Ước dạy rằng “trong những ngày sau hết này Thiên Chúa đã nói với chúng ta qua một Người Con, Đấng được Ngài đặt làm thừa tự mọi sự – và cũng nhờ Người Con ấy mà Ngài đã sáng tạo thế giới” (Dt 1, 2). Người Con Mạc Khải được mô tả là mang dấu ấn của bản tính Thiên Chúa (Dt 1, 3), là “hình ảnh của Thiên Chúa vô hình” (Col 1, 15). Bốn sách Tin mừng đã nói về Người: “Không ai đã từng thấy Thiên Chúa; Người Con duy nhất – ở trong cung lòng Chúa Cha – là Đấng mạc khải về Ngài,” (Ga 1, 18). Trong những bản văn nầy và nhiều bản văn khác, người ta thấy rõ ràng hàm chứa đặc tính ưu việt và xác định của mạc khải được ban cho nơi Đức Kitô.

Sự đồng hóa đặc biệt mạc khải với Đức Kitô dường như là một điểm gặp gỡ chung giữa các nhà thần học hiện đại. Trong Hiến Chế Mạc Khải, Vatican II đã vạch rõ một điểm nhất trí rộng rãi khi tuyên bố: “Đức Giêsu Kitô là Đấng Trung gian và đồng thời là sự hoàn thành đầy đủ của mọi mạc khải.” Trong một bản văn nòng cốt, Công Đồng đã nói về Đức Kitô như là “ánh sáng của mọi dân tộc.””

Nhiều nhà thần học đại biểu cho mỗi trong năm mẫu thức đồng ý rằng mạc khải được ban cho một cách tột đỉnh – và thậm chí một cách độc hữu – nơi Đức Kitô. Tuy nhiên, họ tỏ ra bất đồng trong cách hiểu xác quyết trên. Trong mẫu thức giáo lý Đức Giêsu được hiểu như một vị thầy dạy có thẩm quyền thần linh – một cách hiểu khẳng định hoặc về Đức Kitô của Thánh Kinh hoặc về Đức Kitô của tín lý. Trong mẫu thức lịch sử, biến cố Đức Kitô được nhìn thấy như hành động tột đỉnh nhất của Thiên Chúa trong lịch sử, tỏ lộ các thuộc tính riêng và các ý định của Thiên Chúa bằng một cách độc đáo không gì sánh với được. Trong mẫu thức kinh nghiệm, Đức Giêsu được nhận thấy là đã nhận lãnh – một cách mẫu mực và một cách trổi vượt nhất – ân sủng kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa Cha. Trong mẫu thức biện chứng Ngài được hiểu là Lời Thiên Chúa được nói lên để xét xử và để thứ tha cho kẻ có tội. Và trong mẫu thức ý thức, Đức Kitô được nhìn thấy như kiểu thức tái tạo hình tượng con người khi hình tượng đó tự mở ra để đón nhận sự siêu việt đầy sức sáng tạo của Thiên Chúa.

Trong chương nầy chúng ta sẽ cố gắng tìm hiểu xem những phương thức khác nhau nầy có thể được điều chỉnh hoặc được hòa hợp lại bằng cách vận dụng ý niệm về mạc khải xét như sự thông truyền bằng biểu hiệu hay không. Vì thế chúng ta sẽ bắt đầu bằng cách khai thác ý niệm về Đức Kitô là biểu hiệu mạc khải.

15040400

Đức Kitô Là Biểu Hiệu Mạc Khải:

Ý niệm về Đức Kitô là biểu hiệu không chiếm phần trong Kitô học cổ điển. Trong thần học hiện đại, ý niệm nầy được phổ biến bởi các tác giả như Paul Tillich và H. Richard Niebuhr, cả hai ông đều nhận thấy một sự nối kết mật thiết giữa biểu hiệu và mạc khải. Đối với Tillich, hình ảnh Thánh Kinh của Đức Giêsu xét như là Đấng Kitô là hình ảnh chứa đựng Hữu Thể Mới, và do vậy là trung gian của mạc khải tối hậu. Ý nghĩa mạc khải của Đức Kitô được làm sáng tỏ bởi hai biểu hiệu trọng tâm là Thánh giá và cuộc Phục Sinh, mà mỗi biểu hiệu ấy đều được hậu thuẫn bởi những biểu hiệu phụ theo như câu chuyện cuộc sinh hạ trinh khiết và huyền thoại về cuộc Đến Lại Lần Thứ Hai. Thánh giá và Phục Sinh, đối với Tillich, không phải là những sự kiện nhưng là những biểu hiệu đặt cơ sở trên sự kiện. Đặc tính mạc khải của chúng tùy thuộc vào khả năng mà chúng truyền tải năng lực phục vụ cho Hữu Thể Mới.

Dù không thành công trong việc xây dựng một triết học phổ quát về biểu hiệu, H. Richard Niebuhr đã bênh vực cho một Kitô học có tính biểu hiệu. Ông viết: “Đức Giêsu Kitô là một hình thức biểu hiệu với sự hỗ trợ của điều mà người ta bảo nhau là sự sống và sự chết, Thiên Chúa và con người; nhưng hơn thế nữa, Ngài là một mô thức mà họ dùng như một tiên đề, một hình ảnh, một lược đồ hay dạng mẫu trong tâm trí cung ứng hình thức và ý nghĩa cho kinh nghiệm của họ.” Trong bản văn nầy Niebuhr đề cập đến Đức Giêsu Kitô như “một ẩn dụ thiết yếu, nền tảng.””

Mặc dù cả Paul Tillich và H. Richard Niebuhr đều không tham vọng tháo gỡ những mắt xích giữa mạc khải và lịch sử hay giữa mạc khải và giáo lý, cách trình bày của hai ông về biểu hiệu tỏ ra không dính dáng mấy đến những mắt xích nầy. Lý chứng để đề cập đến Đức Kitô như là biểu hiệu, vốn bị nghi ngờ do những lý do nầy, càng bị yếu ớt hơn nữa bởi di sản của chủ nghĩa thực chứng thế kỷ 19 – vốn giải thích những biểu hiệu là không có tính tri thức.

Các biểu hiệu thường được hiểu như là những tô vẽ có tính tưởng tượng từ vô thức kiểu như những giấc mơ và những ảo tưởng. Dựa trên “khoa chú giải nghi ngờ” được đề xướng bởi Feuerbach, Marx và Freud, nhiều tư tưởng gia thời nay xem biểu hiệu như là một công cụ có tính niệm tưởng theo đó người ta làm cho mình hay kẻ khác không nắm bắt được hoàn cảnh khách quan.

Luận thuyết về biểu hiệu được phác họa ở chương trước cung cấp một số chất liệu cho một câu trả lời. Các biểu hiệu, dù thực hay chỉ ở trong tâm trí, đều có thể dẫn người ta tới một ý nghĩa dồi dào và sâu sắc mà chỉ thuần túy những dấu hiệu chỉ nam không thể làm được. Mặc dù các biểu hiệu, giống như các tuyên bố xác định, đôi khi có thể lệch lạc, nhưng không có gì trong bản tính của biểu hiệu ngăn trở nó chuyên chở chân lý. Nếu thực tại cuối cùng thiết yếu thuộc mầu nhiệm thì đặc tính xác thực của nó sẽ được đạt tới một cách tốt hơn nhờ biểu hiệu hơn là nhờ duy chỉ những ngôn từ có tính xác định và thuộc khái niệm. Do đó, khẳng định Đức Kitô là biểu hiệu thì không hề có nghĩa là chối rằng Ngài không phải là chính mạc khải của Thiên Chúa.

Một khó khăn khác nữa bật lên từ sự kiện rằng biểu hiệu thường được xem là không đồng nhất với cái mà nó biểu hiệu cho. Người ta tranh luận rằng nếu Đức Kitô là một biểu hiệu của Thiên Chúa thì chính Người không phải là Thiên Chúa. Vì thế, nói Đức Kitô là biểu hiệu là có hàm ý chối từ thần tính của Người.

Vấn đề một biểu hiệu có thể thực sự đồng nhất với điều mà nó biểu hiệu hay không là một vấn đề đòi hỏi sự phân tích cẩn thận. Một số biểu hiệu, mà chúng ta có thể gọi là “tượng trưng,” hướng tâm trí đến những gì là không thực hay vắng mặt. Một biểu hiệu ví như một bia mộ sẽ thu hút những hoài niệm về một người bạn quá cố, nhưng không làm cho người bạn ấy hiện diện đích thực. Tuy nhiên, có những biểu hiệu khác lại chỉ cho thấy sự hiện diện của điều mà chúng biểu hiệu. Trước đây chúng ta đã từng đề cập đến thân thể con người như một biểu hiệu của tinh thần con người – tinh thần ấy tự thể hiện ra nơi các hành vi và cử chỉ của thân xác. Về những biểu hiệu “hiện thực hóa” như vậy, Karl Rahner đã phát biểu: “Biểu hiệu ấy là thực tại, được thiết định bởi điều được biểu hiệu xét như một hiện thực nội tại của chính nó, nó mạc khải và công bố cho biết về cái được biểu hiệu, và chính nó chứa đầy đủ cái được biểu hiệu vốn hiện hữu trong hình thức cụ thể của nó.” Theo Rahner: “Mọi hữu thể đều có tính biểu hiệu bởi bản chất của chúng, bởi vì thiết yếu chúng phải “trình bày” chính mình để đạt được bản chất của mình.””

Trong thần học bí tích, chúng ta thường được nghe dạy rằng Đức Kitô “hiện diện thực” trong những yếu tố và những hành vi bí tích, chẳng hạn Thánh Lễ. Một bí tích được hiểu là một dấu hiệu chất thể truyền đạt cho biết sự hiện diện và năng lực thật sự của một thực tại thiêng liêng – là ân sủng của Đức Kitô trong hình thức riêng được biểu thị bởi bí tích ấy. Điều này không chỉ đúng đối với các bí tích nói riêng (chẳng hạn Bí tích Rửa Tội và Bí tích Thêm Sức) – nó vẫn đúng như vậy đối với chính Giáo Hội, như chúng ta sẽ thấy ở chương XIII, Giáo Hội là một bí tích phổ quát trong đó Đức Kitô tự hiện diện một cách năng động nhờ Thánh Thần.

Nếu điều nói trên là đúng thì chính Đức Kitô có thể được gọi là “bí tích tiên quyết nhất” của sự hiện diện cứu độ của Thiên Chúa trong thế giới. Chẳng hạn, Karl Barth gọi Người là chất thể cơ bản của “thực tại bí tích là mạc khải của Thiên Chúa,” Người là “bí tích thứ nhất, là nền tảng của tất cả những gì Thiên Chúa đã thiết lập và sử dụng trong công cuộc mạc khải của Ngài xét như một khách thể đệ II dù trước hay sau cuộc hiển tỏ của Đức Giêsu Kitô.” Nhiều thần học gia Công Giáo cũng phát biểu tương tự. Theo Henri de Lubac, Đức Kitô là bí tích của Thiên Chúa và Giáo Hội là bí tích của Đức Kitô. Edward Schillebeeckx khi đề cập đến Đức Kitô “là bí tích của cuộc gặp gỡ Thiên Chúa” đã giải thích rằng Đức Kitô “không chỉ là quà tặng (của) tình yêu Thiên Chúa cho con người được hữu hình hóa – nhưng đồng thời trong tư cách là khuôn mẫu đệ nhất, Người là sự thực hiện cao nhất lời đáp trả của tình yêu con người đối với quà tặng ấy của Thiên Chúa.””

Ngôn ngữ bí tích thường không qui chiếu nhiều đến mạc khải cho bằng là qui chiếu đến sự thông truyền ân sủng và sự thánh hóa. Đối với sự thông truyền mạc khải, biểu hiệu có lẽ là một hạn từ tốt hơnbí tích. Nếu chúng ta dùng hạn từ biểu hiệu theo một ý nghĩa chặt chẽ sát thực – tức chỉ một dấu hiệu trong đó cái được diễn tả có hiện diện thật sự – thì Đức Kitô có thể được gọi là biểu hiệu tuyệt vời nhất của Thiên Chúa. Karl Rahner đã thực sự hiểu như thế, ông viết: “Ngôi Lời, Con của Chúa Cha – trong nhân tính của Người như ta thấy – thật sự là biểu hiệu mạc khải qua đó Chúa Cha thể hiện chính Người – trong Người Con này – cho thế giới; nói rằng biểu hiệu đó có tính mạc khải vì nó làm cho hiện diện điều được mạc khải.” Ông giải thích: “Đức Kitô, vị Người Chúa, một trật vừa là chính Thiên Chúa khi được truyền đạt, vừa là sự chấp nhận của con người trước sự truyền đạt ấy, và cũng là sự thể hiện cuối cùng trong lịch sử về sự truyền đạt và sự chấp nhận này.” Do đó, trong Đức Kitô, sự thể hiện và cái được thể hiện cũng là một xét về hữu thể. Con người Giêsu Kitô vừa là biểu hiệu vừa là sự Nhập Thể của Ngôi Lời vĩnh cửu, Đấng tự truyền đạt chính mình bằng cách trở nên con người trọn vẹn mà vẫn còn thần tính trọn vẹn.

Bởi vì bất cứ biểu hiệu nào cũng có một sự liên hội của hai bình diện ý nghĩa, nên một biểu hiệu “có sức hiện thực hóa” sẽ bao gồm hai bình diện của thực tại. Nói rằng thân xác là một biểu hiệu của ngã vị có nghĩa là ngã vị không chỉ là thân xác. Để chuyên chở một ý nghĩa trội thêm, thân xác ấy phải diễn tả sự hiện diện của ngã vị tâm linh là “linh hồn.” Có thể nói tương tự về trường hợp Đức Kitô xét như là một biểu hiệu mạc khải. Nhân tính của Đức Kitô thật sự đồng nhất với chính Ngài; nhân tính đó không phải là một mặt nạ đơn thuần cho thần tính của Ngài. Nhưng Ngài còn là cái gì hơn nhân tính của Ngài nữa, và cái hơn này – theo niềm tin Kitô giáo – là thần tính của Ngài. Theo Vatican II, Đức Kitô – (và ở đây Công đồng rút ra một loại suy giữa Đức Kitô và Giáo Hội, vốn cũng có tính biểu hiệu như thế trong cơ cấu) – là một “thực tại liên hợp” đơn nhất (realitas complexa) bao gồm cả yếu tố nhân loại lẫn yếu tố thần linh. Giáo lý cổ điển về “hai bản tính” – bằng một ngôn ngữ có tính khái niệm nhiều hơn – đã trình bày những hàm súc trong đặc tính biểu hiệu của Đức Kitô xét như là mạc khải cụ thể của Thiên Chúa trong huyết nhục.

Trong những gì đã nói trước đây, chúng ta đã tập trung đến các biểu hiệu không phải chỉ có nghĩa tinh thần hay hư cấu. Bất cứ thực tại biểu hiệu nào (dù là một biểu hiệu “tượng trưng” hay một biểu hiệu “hiện thực hóa”, theo ngôn ngữ Rahner) đều là một đối tượng hay biến cố có tính quyết định đến nỗi – xét như là một chìa khóa – nó có thể đem lại sự tri thức về một thực tại sâu xa hơn mà nếu không cậy dựa vào nó thì không thể hiểu biết được, ít là không thể hiểu biết sâu sắc bằng. Toàn thể cuộc hiện hữu của Đức Kitô làm người, từ cuộc Nhập Thể đến Khổ nạn và Vinh thăng – được hiểu như là một biểu hiệu “hiện thực hóa” của Thiên Chúa, hiện diện và hoạt động nơi con người nầy. Dường như Phaolô khẳng định điều nầy khi tuyên bố: “Nơi Đức Kitô, Thiên Chúa đã giải hòa thế gian với chính Ngài.” (2Cr 5, 19).

Tuy nhiên, có một khía cạnh thứ hai của biểu hiệu – thường được nhấn mạnh trong Kitô học hiện đại. Chịu ảnh hưởng bởi các công trình nghiên cứu nghệ thuật và văn chương, nhiều thần học gia xem biểu hiệu như là một tô vẽ có tính tưởng tượng của các khả năng con người. Biểu hiệu được thấy như một sự diễn tả có tính ẩn dụ và có tính thần thoại của trí khôn, không cần thiết phải tương ứng với bất cứ cái gì thực sự tồn tại. Không phủ nhận khả năng lung lạc của các biểu hiệu, đã được vạch ra bởi các “nhà chú giải nghi ngờ” – các thần học gia thời nay khẳng định rằng một biểu hiệu do trí tưởng tượng sinh ra không luôn luôn cứ phải sai lầm hay dối lừa. Dẫu nó có tính hư cấu, nó vẫn có thể mạc khải những khả năng thực sự mà nếu bằng cách thế phi biểu hiệu thì người ta không thể nắm hiểu được. Do đó, mạc khải có thể xảy ra không chỉ qua các biến cố thực mà còn qua những công trình tưởng tượng được kích khởi của con người nữa. Trong những thời kỳ Thánh Kinh các ngôn sứ và các nhà thị kiến khải huyền được Thánh Thần thúc đẩy để mơ những giấc mơ và thấy những thị kiến vén mở những khả năng mà con mắt nhân loại vốn không trông thấy được. Nước Thiên Chúa trong lời rao giảng của Đức Giêsu không phải là một sự vén mở có tính tưởng tượng, bằng những hình thức biểu hiệu, về một thế giới chỉ tồn tại trong hi vọng và trong Lời hứa đấy sao?

Một số tác giả đương thời xem Đức Kitô như là một huyền thoại hay một biểu hiệu có tính mạc khải do cộng đoàn tín hữu đúc nắn ra. Trong khi vào thế kỷ XIX các sử gia duy nghiệm có khuynh hướng nói về huyền thoại Giêsu để chống lại những tuyên nhậm của Kitô giáo, một số thần học gia thế kỷ XX lại chủ trương rằng huyền thoại chính là một mạc khải về những khả năng cao nhất của nhân tính được thần linh hóa, và do đó, về mục đích của Thiên Chúa đối với công cuộc sáng tạo.

Các phương thức biểu hiệu thực không có tính phản bác nhau. Nếu chúng ta thừa nhận rằng Đức Giêsu trong kiếp sống thực của Người là một sự biểu hiệu thực sự về sự hiện diện của Thiên Chúa và sự đáp trả của con người, thì thứ ngôn ngữ ưu việt nhất để diễn tả ý nghĩa đích thật của Đức Giêsu rõ ràng là thứ ngôn ngữ đầy ẩn dụ và huyền thoại. Vì, như chúng ta đã nói, biểu hiệu vén mở thực tại bằng cách khơi dậy một sự liên kết có tính tưởng tượng về những ý tưởng có thể xem ra bất tương ứng và vô nghĩa đối với sự suy nghĩ lang mang thuần túy.

Mục đích của chúng ta ở đây không phải là xây dựng một Kitô học đặt nền trên phương thức biểu hiệu, nhưng chỉ là gợi cho thấy rằng một Kitô học như thế có thể có trong thần học mạc khải. Sự gợi ý đó có thể được thực hiện tốt nhất nếu ở bước nầy, chúng ta trở lại với năm mẫu thức để xét xem bằng cách nào chúng có thể được soi giọi hoặc được điều hợp với sự giúp đỡ của một khoa Kitô học biểu hiệu, và bằng cách nào chúng có thể đóng góp cho một Kitô học loại nầy.

Đức Kitô Biểu Hiệu Và Đức Kitô Của Giáo Lý

Mẫu thức giáo lý, trong hai hình thức đã được tìm hiểu, thừa nhận tính qui phạm tuyệt đối của Đức Kitô, Đấng  được mẫu thức ấy diễn tả là vị thầy thần linh. Thánh Kinh được xem như một kho chứa giáo lý của Đức Kitô, bởi vì ngôn ngữ được linh hứng phản ảnh trung thành Ngôi Lời Thần linh, bởi vì chính Đức Kitô hiểu rằng Cựu Ứơc hướng đến Người, và bởi vì Tân Ước thuật lại những gì các Tông Đồ đã học được nơi Đức Kitô. Trong tư tưởng Tân kinh viện và trong một số xu hướng chính thống Tin Lành, giáo huấn của Giáo Hội được công nhận là một sự hướng dẫn không thể sai lầm hay ít nhất cũng đáng tin cậy để đến với mạc khải do Đức Kitô trao ban. Như vậy cả Thánh Kinh và Giáo Hội – dưới Đức Kitô – đều là những cơ quan (oracles) của thần linh, nhưng chính Đức Kitô – trong tư cách là vị thầy dạy thần linh trong chính ngã vị Ngài – đứng trên Thánh Kinh và Giáo Hội. Giáo lý của Tân ước và của truyền thống Kitô giáo về Đức Kitô hiểu như là Con Thiên Chúa được dùng để hỗ trợ cho thẩm quyền huấn giáo riêng của Đức Kitô. Để củng cố mạnh hơn về thẩm quyền thần linh ấy, mẫu thức này dùng đến những chứng cứ phép lạ và năng lực tiên tri, đặc biệt là phép lạ tột đỉnh nơi cuộc Phục Sinh.

Phương thức biểu hiệu không đòi phải có một cái nêm (để được giữ) giữa biểu hiệu và giáo lý, cơ hồ bất cứ gì được giáo lý chấp nhận đều phải được rút ra từ biểu hiệu. Trong lý thuyết biểu hiệu được trình bày ở chương trước, biểu hiệu đã được thấy như cái gì có tính tri thức. Nó không chỉ dấy lên ý tưởng, nó còn được phản ảnh và được kéo dài trong ý tưởng. Trong tư cách là một hình thức truyền đạt hàm súc và linh hoạt, biểu hiệu có thể được tách ra và được phân tích trong những câu tuyên bố xác định. Những giáo thuyết Kitô học về Thánh Kinh và về Giáo Hội đã xuất hiện, xét phần lớn, nhờ việc suy tư về những biểu hiệu Kitô giáo. Từ thuở phôi thai của Kitô giáo, các biểu hiệu của đức tin đã được hiểu trong khuôn khổ một bối cảnh có tính giáo lý bao gồm giáo huấn của Thánh Kinh Do Thái và giáo huấn của chính Đức Giêsu.

Tuy nhiên, chúng ta sẽ chuyển từ lý thuyết xác định tới mức độ mà nó làm cho giáo lý trở thành hình thức chủ yếu nhất của mạc khải. Phê bình Origen ở điểm này, Yves Congar chỉ ra rằng mạc khải của Đức Giêsu “không chỉ được chứa đựng trong giáo huấn của Ngài mà thôi, mà có lẽ chúng ta phải nói rằng nó được chứa đựng chủ yếu trong hoạt động của Ngài.””

Rồi Congar thêm: “Việc Ngôi Lời đi vào trong xác thịt của chúng ta, việc Thiên Chúa chấp nhận thân phận tôi tớ, việc rửa chân cho các môn đệ, tình yêu vâng phục cho đến cái chết trên Thập giá – tất cả đều có ý nghĩa một mạc khải và là một mạc khải của Thiên Chúa: “Philip, ai thấy Thầy là thấy Cha.””

Lời của Đức Giêsu thì rõ ràng là có tính mạc khải. Như Vatican II đã nói với chúng ta, Người đã mạc khải không chỉ bằng những việc làm của Người, những dấu chỉ và những điều kỳ lạ của Người, cái chết và cuộc Phục Sinh của Người, nhưng Người mạc khải bằng những lời nói của Người nữa. Một trong bốn giòng chính của Kitô học Tân Ước, như được Helmut Koester phân tích, là một Kitô học Khôn ngoan được thấy rõ trong những chất liệu Tin mừng lấy từ truyền thống Q. Trong truyền thống này, những lời nói của Đức Giêsu được xem là có thẩm quyền thần linh, nhưng chúng ta vẫn không có mạc khải xác định cách chặt chẽ – bởi vì Đức Giêsu ưa dạy dỗ bằng dụ ngôn và nghịch lý. Vì thế sẽ là sai lầm khi nói đến Đức Giêsu như một vị thầy dạy có thẩm quyền theo lược đồ của mẫu thức xác định.

Con đường dẫn từ những thực tại có tính biểu hiệu là cuộc đời Đức Kitô và ngôn ngữ ẩn dụ của những bản tuyên xưng sơ khai tớinhững trình bày đầy tính khái niệm của thần học hệ thống là một con đường dài đằng đẵng và quanh co. Những tín điều đầu tiên, như nhiều tác giả đã ghi nhận, được công thức hóa trong ngôn ngữ nặng tính tuyên xưng và thờ phượng. Việc đề cập đến Đức Giêsu như người Con được sinh ra từ đời đời, đồng bản tính với Chúa Cha, không phải dùng ngôn ngữ khoa học của siêu hình học – nhưng như Ian Ramsey cho thấy – là để trình bày, trong phụng tự, một sự vén mở. Những diễn tả có tính tín điều như “Thiên Chúa bởi Thiên Chúa, ánh sáng bởi ánh sáng,” dù một cách nào đó có chiều hướng trừu tượng, vẫn có tính ngoại lý và có tính gợi mở hơn là có tính xác định.

Jean Galot, một nhà bảo vệ quyết liệt tính chính thống truyền thống, đã thừa nhận rằng các tín lý Kitô học bắt rễ từ những hình ảnh nguyên thủy thuộc Thánh Kinh. Ông nói: “Sự kiện hai khẳng định rõ nhất về hành động Nhập Thể trong Thánh Kinh (Ph 2, 6 – 7; Ga 1, 14) đến với chúng ta từ những bản thánh ca đầu tiên há chẳng có ý nghĩa lắm sao?” Chính thi ca được gợi hứng từ sự gắn kết với Đức Kitô trong đức tin và tình yêu đã tỏ ra thành công nhất trong việc nắm hiểu và trình bày hành động vô hình vốn điều động cuộc đời trần thế của Đấng Cứu Thế.” Từ đó Galot rút ra kết luận rằng thần học phải duy trì sự tiếp xúc mật thiết với sự truyền đạt có tính thẩm mỹ, vì chính sự nhận hiểu cái đẹp sẽ mở mắt chúng ta nhận hiểu tình yêu thần linh. “Nếu chúng ta tự hỏi tại sao một số xác quyết của thần học trừu tượng đã gợi lên không chỉ sự dửng dưng mà còn gợi lên sự khó chịu nữa, thì phải chăng chúng ta không được phiền trách những sự diễn đạt quá khô khan – chẳng còn chút cảm tính nào – về một mầu nhiệm chan hòa sự sống và có sức làm si mê chúng ta?” Galot khẳng định đúng đắn rằng sự phân tích thuộc khái niệm của thần học phải thường xuyên quay lại với cái tinh khôi của các bản văn Thánh Kinh để múc lấy sự trẻ trung và sống hoạt của nó.

Phê bình của Galot về tính duy niệm khô khan của chính thống kinh viện, do đó, đã hậu thuẫn cho những chống đối vốn được đưa ra từ một quan điểm rất khác của Frans Jozef van Beeck, người đã nói đến “sự bất lực của Kitô học cổ điển trong việc phán đoán đầy đủ về cuộc sống và cái chết của Đức Giêsu” – bởi vì nó giả ước rằng ý nghĩa đích thực bao gồm trong các ý niệm. Phương thức biểu hiệu – không phủ nhận giá trị của những xác định và khái niệm – cung ứng một khung ý nghĩa phong phú hơn và khả dụng hơn.

Đức Kitô Biểu Hiệu Và Đức Kitô Của Lịch Sử

Trong mẫu thức giáo lý, các việc làm và công cuộc của Đức Giêsu thường được xem là không có tính mạc khải tự thân chúng, nhưng được xem là những chất liệu phục vụ cho giáo huấn mạc khải hay là những dấu hiệu chứng minh cho giáo lý mạc khải. Mẫu thức lịch sử tiến bộ hơn mẫu thức giáo lý khi cho rằng các biến cố như cuộc khổ nạn và Phục Sinh là những biến cố mang một ý nghĩa và một sứ điệp từ Thiên Chúa.

Giáo lý (duy) thực về Đức Kitô hiểu như biểu hiệu hay bí tích của Thiên Chúa, được trình bày trong những trang đầu chương này, rõ ràng đòi hỏi một sự nhận hiểu có tính lịch sử về mạc khải. Cuộc đời của Đức Giêsu trong xác thịt là sự tự truyền đạt một cách thực tiễn, ngã vị và không thể rút lại của Thiên Chúa đối với thế giới – và do đó, là sự thể hiện cao nhất về những gì mà Thiên Chúa chọn lựa để làm ân huệ nhưng không cho những người khác. Đặc thù hơn, chúng ta có thể nói rằng sứ điệp thứ tha của Đức Giêsu, được củng cố bởi hành vi của Người, đã thể hiện tình yêu vô điều kiện của Thiên Chúa dành cho tội nhân. Những việc làm kỳ diệu của Người, trong bối cảnh giáo huấn của Người, là những biến cố dấu chỉ cho thấy sự xuất hiện của Nước Thiên Chúa qua sự hiện diện đích thân của người Con Yêu Dấu của Người. Cuộc khổ nạn, xét như một thực tại biểu hiệu, diễn tả đặc tính hy tế của tình yêu cứu độ của Thiên Chúa. Cuộc Phục Sinh biểu hiệu cho – ở đây cũng lại do chính thực tại của nó – chiến thắng của tình yêu cứu độ ấy trên tất cả những gì có thể chống lại tình yêu đó, kể cả sự chết.

Như đã ghi nhận ở chương IV, trong phương thức mạc khải xét như là lịch sử có một cuộc tranh cãi bên trong nội bộ giữa những người tìm cách thiết định mạc khải theo phương pháp lịch sử thông thường và những người – trong đức tin – chấp nhận lịch sử Thánh Kinh có một tính chất đặc biệt. Pannenberg – thần học của ông có tính lịch sử rộng rãi hơn – đã theo phương thức thứ nhất. Ông chủ trương rằng đức tin không thể thiết định bất cứ biến cố quá khứ nào mà sử gia không thể nắm được. Sự kiện Phục Sinh của Đức Giêsu, xét như là mạc khải tột đỉnh, “không được làm cho chắc chắn bởi đức tin mà chỉ bởi sự khảo cứu lịch sử, trong mức độ mà sự chắc chắn ấy có thể đạt được hoàn toàn nhờ những vấn nạn loại này.””

Phương thức kia thì chủ trương rằng các biến cố của lịch sử cứu độ được nhận hiểu trong đức tin, bằng cách chấp nhận một sự chú giải có thẩm quyền ngôn sứ, chẳng hạn sự chú giải của Thánh Kinh. Phương pháp này, trong khi bảo vệ sự chắc chắn của mạc khải một cách tốt hơn, thì có khuynh hướng làm cho sự nối kết giữa các biến cố và ý nghĩa (dường như có tính phụ thuộc) của chúng thành một sự trách cứ của trường phái Pannenberg nhằm đến những thần học gia nầy.

Ý niệm về lịch sử có tính biểu hiệu có thể được áp dụng một cách có phê phán để chống lại cả hai trường phái nói trên, và trong một mức độ nào đó có thể làm trung gian dung hòa hai trường phái ấy. Các biến cố biểu hiệu, như chúng ta đã nói không đòi hỏi một cách bức bách một sự diễn dịch theo biểu hiệu, nhưng là mời chào một sự diễn dịch như thế. Ý nghĩa không phải là một suy diễn từnhững đặc nét của các biến cố được đưa ra như những giả ước luận lý, nhưng là một tri thức đạt được bởi một chủ đề đã được giải quyết đúng đắn – mặc nhiên dựa vào sự ăn khớp của các giải đáp. Để diễn dịch đúng đắn các biến cố mạc khải thì một ân sủng hay một sự linh hứng có tính tiên tri là một khả năng rất có giá trị – và trong một số trường hợp, đó là một khả năng không có không được. Tuy nhiên sự diễn dịch ấy không nhắm một cách ngoại tại đến các biến cố. Nếu các biến cố có tính biểu hiệu thì theo một ý nghĩa nào đó chúng đã chứa đựng ý nghĩa trong đó rồi. Như Pannenberg nói: Thiên Chúa nói bằng ngôn ngữ của các biến cố, nhưng – như Pannenberg đã quên nói rằng – sự truyền đạt ấy được diễn dịch tốt nhất bởi những con người mà trong tư chất tôn giáo của họ có một ơn quan hệ đặc biệt với Đấng mạc khải. Ngôn sứ là người ưu tuyển nhất để đọc “các dấu chỉ của thời đại” và qua đó để nhận ra bàn tay của Thiên Chúa trong các biến cố lịch sử. Một khi đã có được sự diễn dịch có tính ngôn sứ thì những người tìm hiểu – đã được giải đáp thỏa mãn về mặt tôn giáo – có thể đi vào trong truyền thống đức tin và nhận hiểu một số biến cố như là những hành động tự diễn tả của Thiên Chúa trong lịch sử. Phải khẳng quyết đối lập lại Pannenberg rằng người sử gia với kỹ năng của trường lớp chuyên môn thông thường thì không có khả năng để phán đoán về ý nghĩa tôn giáo của các biến cố quá khứ và không thể được yêu cầu để định đoạt xem – bằng phương pháp của sử học – rằng Thiên Chúa có mạc khải chính Ngài trong các biến cố ấy hay không. Trong những biến cố như cuộc Phục Sinh chẳng hạn, tính khả tín của biến cố được đan chéo với ý nghĩa tôn giáo của nó đến nỗi các dữ kiện của biến cố rõ ràng là sẽ bị tranh cãi giữa những người có nhãn giới tôn giáo khác nhau.

Pannenberg phân biệt lý thuyết của riêng ông về mạc khải gián tiếp qua lịch sử với mọi lý thuyết mạc khải bằng biểu hiệu khác. Ông viết: “Khi một biểu hiệu được giả định là có chứa một nội dung thần linh thì đó là mạc khải trực tiếp trong mức độ mà nó cất giấu đi ý nghĩa sơ nguyên và không có tính biểu hiệu của nó để phục vụ cho tính biểu hiệu của nó. Theo ý nghĩa này thì mạc khải ngộ đạo là trực tiếp, cho dù tinh thần thần linh được truyền đạt trong hình thức biểu hiệu.””

Tuy nhiên chính Pannenberg, khi trình bày vấn đề về Đức Kitô là mạc khải cuối cùng như thế nào, đã tiến sát gần hơn tới một chủ trương có tính biểu hiệu. Ông cho rằng trong cuộc Phục Sinh của Đức Kitô, “sự phân biệt giữa trung gian mạc khải và chính Thiên Chúa đã biến mất.” Thần tính của Đức Kitô có nghĩa là “sự hiện diện có tính mạc khải” của Thiên Chúa ở nơi Người. Trong lịch sử của Đức Giêsu, chung cuộc cuối cùng của mọi sự đã xuất hiện một cách dự báo, bằng cách thế đối nghịch với sự xuất hiện, và vì thế đó là một sự xuất hiện có tính nghịch lý. Pannenberg chấp nhận rằng từ góc nhìn của chúng ta trong lịch sử, chúng ta không thể thấy rõ cái gì đã xảy ra nơi cuộc Phục Sinh của Đức Giêsu. Bao giờ chưa tới cánh chung thì “chúng ta vẫn còn phải vui lòng ăn nói bằng hình thức hoàn toàn hợp lẽ – nhưng vẫn chỉ là những hình thức có tính ẩn dụ và biểu hiệu – về cuộc Phục Sinh của Đức Giêsu và về ý nghĩa chứa đựng trong đó.” Theo Pannenberg, sứ điệp Phục Sinh dựa vào “ẩn dụ thuần túy về sự sống lại của kẻ chết, cũng như dựa vào yếu tố dự báo vốn cung ứng cơ sở cho những tuyên bố (doxological) về vị Thiên Chúa được mạc khải nơi Đức Giêsu – là những tuyên bố vốn có tính ẩn dụ.””

Mặc dù một số những tuyên bố nầy qui chiếu đến sự chuyển tải mạc khải hơn là sự kiện nguyên thủy của nó, thì theo những tiên lượng của Pannenberg – thật khó mà biết được làm thế nào những chứng nhân nguyên thủy có thể đón nhận mạc khải nếu không phải bằng một kiểu vén mở có tính biểu hiệu. Giá như Pannenberg đã gán một tầm quan trọng hơn cho những gì có tính biểu hiệu, thì hẳn là ông đã làm phong phú thêm cho những bàn luận của ông về Mầu nhiệm Phục Sinh bằng cách gắn tầm quan trọng lớn hơn cho những đặc nét riêng tư của Đấng Phục Sinh, hơn là chỉ bằng cách tập chú vào sự kiện trơ trụi của cuộc Phục Sinh ấy.

Đức Kitô Biểu Hiệu Và Kitô Học Theo Mẫu Thức Kinh Nghiệm

Như chúng ta đã thấy, trong mẫu thức kinh nghiệm có những khác biệt đáng kể trên quan điểm về nhu cầu trung gian và vai trò trung gian của Đức Giêsu. Đa số các thần học gia của khuynh hướng này xem Đức Giêsu là Đấng có một ý thức độc đáo không thể vượt qua được về sự kết hiệp với Thiên Chúa. Họ cũng chủ trương rằng các Tông Đồ – xuyên qua Đức Giêsu – có những kinh nghiệm mạc khải làm chuẩn mực cho cộng đoàn Kitô hữu. Chúng ta đã nhận thấy những quan điểm của các tác giả như Sabatier và Tyrell về những điểm nầy.

Vì những khẳng quyết của nó về sự cảm nghiệm trực tiếp Thiên Chúa, mẫu thức này trao cho biểu hiệu một chỗ quan trọng. Theo các tác giả này, mạc khải không thể được diễn tả ngoại trừ bằng một cách gián tiếp. Những người được đặc ân đón nhận mạc khải diễn tả kinh nghiệm của họ không phải qua những tuyên bố có tính dữ kiện hay có tính khái niệm, nhưng là bằng những ngôn ngữ và cử chỉ đầy tính biểu hiệu có thể tạo những cơ hội cho kẻ khác được trải qua những kinh nghiệm tương tự. Chúng ta nhớ lại rằng những nhà duy tân chấp nhận Thánh Kinh và những tín điều của Giáo Hội không phải như là những gì chứa đựng giáo lý mạc khải nhưng là như những chỉ nam có tính biểu hiệu cho kinh nghiệm Kitô giáo về Thiên Chúa. Những người thuộc phái tự do như Hermann, dẫn đường cho học trò của mình là Tillich, chủ trương rằng Thiên Chúa đụng chạm đến linh hồn xuyên qua hình ảnh Thánh Kinh của Đức Giêsu. Đối với Hermann, mạc khải Kitô giáo xảy ra trong sự thay đổi trong nội tâm qua đó người tin – được hình ảnh này tác động – tiến đến chia sẻ đời sống nội tâm của Đức Giêsu.

Kitô học biểu hiệu được trình bày trong chương này có thể điều chỉnh mẫu thức kinh nghiệm ở một vài điểm còn bị bàn cãi. Một số đại biểu của mẫu thức kinh nghiệm cho thấy một quan tâm rất lớn về việc tái tạo đời sống nội tâm của chính Đức Giêsu, cơ hồ như mạc khải của Người chỉ chứa đựng ở đấy mà thôi. Chúng ta không có ý muốn phủ nhận đời sống kết hiệp của Người với Thiên Chúa là một mẫu mực và Người đã đón nhận mạc khải và ánh sáng thần nhiệm. Nhưng, với những chất liệu mà chúng ta có được, thật khó mà tái tạo lại những kinh nghiệm thuộc ý thức của Đức Giêsu. Nơi Ngài cái chủ yếu có nghĩa mạc khải là những gì nổi bật lên trong đời sống công khai, trong cái chết và trong cuộc sống lại từ cõi chết của Người. Những biến cố bên ngoài nầy có giá trị mạc khải đầy đủ của chúng cho dù có thể có những quan điểm linh tinh về nội dung của ý thức cá nhân của Đức Giêsu.

Mạc khải mà chúng ta đón nhận tiên vàn và bao hàm trong một kinh nghiệm trực tiếp về sự kết hiệp của chúng ta với Thiên Chúa. Bất cứ kinh nghiệm nào như thế, trong tự thân của nó, thật quá mỏng mảnh và hay thay đổi không thể đóng vai trò làm cơ sở cho một đời sống đức tin của cá nhân, chưa kể là cho mộtcộng đoàn đức tin và lời chứng ổn định. Theo cách hiểu của Thánh Kinh và truyền thống, mạc khải Kitô giáo là một hiện tượng có thể được đại chúng tiếp cận, luôn luôn có trọng tâm của nó Đức Kitô thực của lịch sử.

Không như chủ nghĩa kinh nghiệm thần bí, chủ trương thực tiễn biểu hiệu có thể đem lại tính khách quan, tính tương ứng và tính thường hằng của mạc khải Kitô giáo. Trong tư cách là sự truyền đạt bằng biểu hiệu, mạc khải có một cơ cấu bí tích hai bình diện trong đó dấu chỉ có thể nắm hiểu được liên kết với ý thức thần nhiệm. Cơ cấu này tương ứng với cơ cấu tinh thần – thể xác của ngôi vị con người. Thần linh, không phải là một đối vật, không thể được trực tiếp nắm hiểu. Trí khôn con người không thể biết  những gì siêu việt nếu không nhờ đến một dấu chỉ bên ngoài – một dấu chỉ có thực về mặt xã hội và lịch sử. Vì thế mạc khải có hai chiều kích – mà chúng ta có thể gọi theo ngôn ngữ của Rahner là: chiều kích siêu việt và chiều kích phạm trù. Cái biểu hiệu mà qua đó Thiên Chúa tự Ngài hiện diện thì không phải đơn thuần là một dữ kiện bên ngoài, nhưng còn là một thực tại có vẻ có tính bí tích nữa. Nhờ tác động của Thánh Thần, nó trở thành – như nó vốn – trong suốt đối với thần linh.

Người ta được phép đề cập về Đức Kitô biểu hiệu, nhưng biểu hiệu ấy không được giảm trừ đến chỉ còn là một cơ hội thuần túy cho mạc khải, dù có tính nguyên thủy hay phụ thuộc. Biểu hiệu ấy là một yếu tố nội tại trong tiến trình và trong kết quả. Đức Kitô biểu hiệu, hơn nữa, không phải là một cái gì biệt lập khỏi cộng đoàn, nhưng trước hết đó là một biến cố thực làm cho cộng đoàn hiện hữu. Nếu cộng đoàn có thể truyền đạt và diễn dịch biểu hiệu này, thì đấy chỉ vì tiên vàn biểu hiệu này đã hình thành nên và nâng đỡ cộng đoàn.

Đức Kitô Biểu Hiệu Và Đức Kitô Được Công Bố

Ở chương IX chúng ta đã thấy những thần học gia biện chứng – lo bảo vệ tính ưu việt tuyệt đối của Đức Kitô trong mạc khải – đã tránh né như thế nào đối với phạm trù biểu hiệu, một phạm trù mà họ cho là dường như quá chung chung. Sợ rằng nếu Đức Kitô được xem như biểu hiệu thì tính độc đáo thần linh của Người có thể bị đặt vấn đề, họ thích phạm trù “Lời của Thiên Chúa” hơn. Phạm trù này nhấn mạnh đến sự tự do thần linh, đặc tính ngã vị của mạc khải, và sự vắng mặt của bất cứ cái gì có vẻ giống về mặt ngoài giữa Thiên Chúa và trung gian của sự tự vén mở của Ngài.

Rudolf Bultmann, phần nào được thúc đẩy bởi những ý niệm của Martin Kahler, đã phân biệt rõ ràng giữa Đức Giêsu của lịch sử và Đức Kitô của đức tin. Đối với phái Bultmann, mạc khải và ơn cứu độ đến từ Đức Kitô được rao giảng, vị Chúa đã chịu đóng đinh và đã sống lại chứ không phải qua Đức Giêsu được tìm thấy bằng sự nghiên cứu sử học. Theo Bultmann, Lời được công bố ấy là một tiếng gọi mời đức tin và sự quyết định của người ta. Trong Tân Ước, bài giảng kerygma được trình bày trong một hình thức có tính huyền thoại, tương ứng với vũ trụ quan của Do Thái giáo cuối thời và ngộ đạo thuyết sơ thời. Việc rao giảng ngày nay phải cởi bỏ những màu mè thần thoại lỗi thời của bài kerygma ấy. Trong một cố gắng chú giải lại tận căn bản, Bultmann đã cố trình bày sứ điệp Kitô giáo với sự giúp đỡ của triết học hiện sinh Heidegger.

Trong những năm 1950, có một chuyển biến đáng ghi nhận đối với thần học kerygma nguyên thủy xảy ra trong trường phái Bultmann. Phái gọi là hậu – Bultmann (mà đa số vốn là những đồ đệ của chính Bultmann) khẳng định rằng – trong khi lịch sử thường nghiệm của phái tự do bất lực không nắm bắt được ý nghĩa thật của Đức Giêsu – lịch sử hiện sinh hiện đại cung cấp một con đường để tiếp cận với sự tự thức có tính mạc khải của Đức Giêsu. James Robinson, một thành viên thuộc trường phái này, lập luận rằng dù Đức Giêsu được gặp gỡ qua bài giảng kerygma hay qua lịch sử hiện sinh thì kết quả chủ yếu cũng là một. Cả hai đều đặt độc giả đứng trước cùng một đòi hỏi khẩn thiết đối với đức tin và sự quyết định cá nhân. Việc dời sự chú ý từ Đức Chúa chịu đóng đanh và được Phục Sinh tới Đức Giêsu của sứ vụ công khai có thể được đánh giá là một phản ứng tốt đẹp chống lại một cách hiểu quá độ trừu tượng về bài giảng kerygma Phục Sinh. Nhưng phản ứng ấy có thể đi quá trớn nếu nó bị dụ hoặc rằng Tin mừng Phục Sinh chẳng có gì thiết yếu để bổ sung vào công cuộc hoạt động trần thế của Đức Giêsu. Các biến cố xung quanh Phục Sinh chắc chắn là có ý nghĩa mạc khải đối với các môn đệ đầu tiên, và nếu câu chuyện tiền Phục Sinh trong các sách Tin mừng có giá trị mạc khải thì đấy một phần bởi vì các Tin mừng được biên tập với những suy tư về sứ điệp Phục Sinh.

Một thần học gia hiện đại người Mỹ, Peter Hodgson, khéo léo dựa vào công trình của Barth và Ebeling, tiếp tục đòi phải có một Kitô học qui hướng về Lời và một lý thuyết mạc khải qua Lời. Ông khẳng định rằng “hình ảnh phản chiếu những mặt ngoài nhưng âm thanh truyền đạt những cái bên trong mà không làm phương hại đến nội giới tính của chúng… Trung gian duy nhất của mối quan hệ với Thiên Chúa chính là Lời, qua đó Thiên Chúa vẫn giấu ẩn và đồng thời vẫn tự hé mở chính Ngài.” Tuy vậy Hodgson không hiểu Lời chỉ thuần túy là âm thanh. Ông rất tự nhiên đề cập đến những lời-biến cố, trong đó bao gồm cái chết thập giá của Đức Giêsu.

Trong khi chấp nhận giá trị lớn theo loại nầy của thần học về lời, người ta có thể chỉ ra – với Tillich – rằng “Lời của Thiên Chúa” tự nó là một biểu hiệu. Nếu chúng ta theo khái niệm của Rahner về biểu hiệu hiểu là “sự hiện diện có sức diễn đạt của bản ngã” thì lời của Thiên Chúa thậm chí có thể được gọi là một biểu hiệu được kiến tạo do thần linh. Rahner chủ trương rằng “Thần học về Lời rõ ràng là một thần học về biểu hiệu – và quả thật là hình thức cao nhất của thần học biểu hiệu.” Nói rằng Chúa Con là Ngôi Lời là nói rằng Ngài là hình ảnh tuyệt hảo, là dấu ấn, là hào quang và là sự tự biểu hiện của Chúa Cha. Trong khi thực sự phạm trù biểu hiệu có thể bị hiểu sai để biện minh cho những kết luận duy chủ quan và duy tự nhiên, thì phạm trù Lời cũng không đảm bảo tránh được sự méo mó. Thần học về Lời – xét riêng – có thể chế giảm tính hiện thực đầy đủ của Mầu nhiệm Nhập Thể; nó có thể hàm chứa ấn tượng rằng Lời trở thành không phải là xác thịt mà là chỉ trở thành lời.

Vì thế chẳng đáng ngạc nhiên khi Barth – lúc đã vượt lên khỏi giai đoạn biện chứng của ông – đã càng ngày càng dựa vào một Kitô học có tính bí tích. Ông viết: “Nhân tính của Đức Giêsu Kitô như vậy, là bí tích thứ nhất.” Phương thức bí tích nhắc nhớ lại tính cáchthịt và máu của sự hiện diện của Thiên Chúa trong lịch sử của Đức Giêsu, và phòng tránh mọi niệm tưởng hóa và thiêng liêng hóa của phái ngộ đạo về công cuộc cứu độ của Thiên Chúa. Chủ trương bí tích của Barth, như được thấy trong các tác phẩm sau này của ông, đã hòa hợp với chủ trương hiện thực biểu hiệu mà chúng ta đã ghi nhận nơi các tác giả như Rahner.

Đức Kitô Biểu Hiệu Và Kitô Học “Nhận Thức Mới””

Mẫu thức thứ năm về thần học mạc khải có những âm vọng rất lớn trong Kitô học. Trong một số giải thích của mẫu thức này Đức Giêsu được xem như là một điểm mốc mà ở đó một giai đoạn mới mẻ và chung cuộc của lịch sử bắt đầu. Trong Kitô học tiến hóa của Teilhard de Chardin Đức Giêsu được thấy như là Đấng cưu mang và là mục đích của chuyển động đi lên của vũ trụ tiến đến thần giới. Đối với Teilhard, Đức Kitô là điểm Ômêga, là tiêu điểm hiệp nhất cần thiết cho trí cầu (noosphere) để nó có thể đạt được một bước nhảy vọt sáng tạo vào trong một phức hợp và một qui kết ở mức cao hơn.

Teilhard tin rằng sự nối kết mật thiết này giữa Lời và sự kiện toàn vũ trụ có thể được biện minh trên các cơ sở Tân Ước, nhất là nhờ phần dẫn nhập của bốn Tin mừng và các thư Phaolô viết cho các giáo đoàn Côlôxê và Êphêsô.

Ansfried Hulsbosch, một cách nào đó cũng là một đồ đệ của Teilhard. Ông chia tiến trình tiến hóa thành bốn chặng: vật chất vô sinh, rồi sự sống cây cỏ và động vật, kế tiếp là sự sống con người, và cuối cùng là sự cùng hiện sinh của gia đình nhân loại trong kết hiệp với Đức Kitô. Đức Giêsu là thần linh ở chỗ Ngài là người mà qua đó Thiên Chúa được mạc khải một cách độc đáo. Thậm chí thần tính của Người là một sự tỏ lộ của những khả năng vốn ẩn giấu trong tiềm năng của vật chất đúng hơn là một hội nhập hoàn toàn mới mẻ vào trong thế giới.

Trong khi cố tránh xa những phạm trù tiến hóa của T. Chardin là những phạm trù mà ông cho là tất yếu và không thể đảo ngược, William M. Thompson nhất trí rằng Đức Giêsu đã làm được một kinh nghiệm mới mẻ và thâm sâu về sự kết hợp trực tiếp với thần linh, vừa tái lập vừa biến đổi cái mà ý thức “trục” (“axial”) trước đó đã mở ra. Ông lập luận rằng, bằng việc cấp-tiến-hóa cái khám phá “trục” về nhân tính và tính tự trị của con người, Kitô giáo có thể trân trọng và ngay cả đóng góp cho các khám phá của thời đại kỹ thuật hiện đại của chúng ta và cho viễn ảnh kỷ nguyên hành tinh trong tương lai.

Mẫu thức ý thức nói chung được thấy là hòa hợp với phương thức biểu hiệu về mạc khải. Biểu hiệu như chúng ta đã thấy, có một hiệu ứng chuyển biến cho chủ thể, xây dựng những định hướng mới và những tương quan mới. Nếu mối tương quan thần linh là một cửa ngõ giúp người ta đi vào tự thức, thì người ta có thể hi vọng rằng mối tương quan đó sẽ được hậu ủng bởi sự trổi lên của những biểu hiệu mới. Gregory Baum, người có thể được coi là đại biểu của mẫu thức thứ năm, chủ trương rằng vì “mầu nhiệm thần linh là chiều kích sâu xa nhất của hiện sinh con người,” nên nó tự mạc khải qua các biểu hiệu. Hiểu biểu hiệu là “một câu chuyện hay một biến cố thuộc loại vén mở chiều sâu bí ẩn, mà trong gặp gỡ với nó chúng ta trải qua sự biến đổi đầy ý nghĩa” -, Baum tuyên bố rằng chân lý Kitô giáo tự bản chất có tính biểu hiệu. Nó “mạc khải cơ cấu bí ẩn của sự sống con người và khi mạc khải như vậy nó biến đổi quyết liệt sự tự giác của những người đón nhận nó.” Điều này quả đúng đối với Đức Kitô biểu-hiệu. “Thậm chí chúng ta có thể cho thấy rằng Đức Giêsu Kitô là biểu hiệu tuyệt đỉnh nhất trong đó nền tảng thần linh của thực tại con người và vũ trụ tự mạc khải ra.””

Mẫu thức ý thức cho thấy tính nhân loại của hình ảnh Đức Kitô như được Thánh Kinh và truyền thống diễn tả. Edward Schillebeeckx, người thừa nhận tính hợp lý của sự liên hệ này, đã nhấn mạnh đến khả năng biểu hiệu của câu chuyện Thánh Kinh về Đức Giêsu:

Trong Tân Ước, câu chuyện về Đức Giêsu được cảm nghiệm như là biểu hiệu có sức soi sáng và biến đổi, vén mở cho nhận thức chúng ta chiều kích sâu thẳm của cuộc hiện sinh hữu hạn của chúng ta. Những gì được trình bày qua lời nói và hành động của Đức Giêsu, đời sống và cái chết của Người,… thật có sức kích cảm chúng ta: nó khai mở cho chúng ta biết cuộc hiện sinh của chính mình; nó soi sáng cho ta biết đời sống đích thực của con người có thể là gì khi mà ta ý thức rằng chúng ta đang an toàn trong đôi bàn tay của Thiên Chúa hằng sống và chúng ta có thể chấp nhận sự sống đó như một thách đố… Người ta hiểu biết lại về mình trong Đức Giêsu là Chúa. Đồng thời, năng lực biến đổi của biểu hiệu tượng trưng này mời gọi chúng ta hoán cải trong đức tin; nói cách khác, mối quan hệ hỗ tương này được đạt đến trongmetanoiahay hoán cải, và không phải trong một sự sắp xếp đơn thuần.””

Điều mà Schillebeeckx khẳng định ở đây hoàn toàn hòa hợp với giáo huấn của Công Đồng Vatican II về cách thức mà Tin mừng – khi đề cập đến Đức Giêsu Kitô, hình ảnh của Thiên Chúa vô hình – đã nói đến “những khao khát kín ẩn nhất của trái tim con người” và đã đem lại cho con người “sự phát triển, sự sáng, và sự bình an.” Việc sử dụng biểu hiệu, trong một khoa Kitô học ý thức, khi được nối kết với những gì gây âm hưởng nhất trong các mẫu thức khác, có thể phù hợp với một khẳng định trang trọng của các tín điều truyền thống.

Điều rắc rối chính là việc tuyệt đối hóa yếu tố chủ quan  của bước chuyển biến trong ý thức, nghĩa là mọi giáo huấn Kitô giáo chỉ là mạc khải trong mức độ nó đem lại kết quả chung cuộc như thế. Một khi chủ trương như vậy thì thần học lại rơi vào tính duy chủ quan của mẫu thức 3. Sự méo mó như thế được thấy rõ ràng trong một số điển hình cực đoan của Duy tân thuyết – chẳng hạn tác phẩm Profession de Foi du Vicaire Savoyard (1894) của Marcel Hébert. Trong bài viết Kitô học trình bày khúc giải (paraphrase) của ông về các tín điều, Hébert đã tuyên bố:

Và tôi tin vào Đấng mà nơi Ngài sự kết hợp giữa bản tính thần linh và bản tính con người được thực hiện với một mức độ phi thường và độc đáo… Đức Giêsu Kitô, sự cao trọng trổi vượt của Người, trong khi tác động những tâm hồn đơn sơ, đã trở thành được biểu hiệu bằng khái niệm về một cuộc đầu thai trinh khiết…, hành động đầy uy quyền của Người sau cái chết… đã tạo ra trong tâm trí các Tông Đồ và các môn đệ những hình ảnh và những dáng vẻ như được thuật lại trong các Tin mừng, và được biểu hiệu hóa bằng huyền thoại về một cuộc đi xuống cứu độ tới âm phủ và một cuộc đi lên tới những tầng trời cao…””

Như Edwyn Bevan ghi nhận, rõ ràng Hébert đã tin rằng chính ông có thể nhìn quá những biểu hiệu và nắm được chân lý nguyên thuần mà các biểu hiệu ấy hướng tới. Quay lại với sự phân biệt trên kia, người ta có thể nói rằng Hébert đang sử dụng huyền thoại cơ hồ như đó là ngụ ngôn.

Một cái gì đó tương tự cũng có thể được nói về một công trình sưu tầm mới đây mang tựa đề “Huyền thoại về Sự Nhập Thể của Thiên Chúa” trong đó nhấn mạnh đến luận đề rằng Cuộc Nhập Thể đó là một phương thế có tính huyền thoại hay thi ca để diễn tả ý nghĩa của Người (Đức Giêsu) cho chúng ta. Theo John Hick, người vừa là biên tập viên vừa là người đóng góp cho sưu tập này, câu tuyên bố có tính biểu hiệu rằng “Đức Giêsu là Chúa Con Nhập Thể không đúng theo mặt chữ, vì câu tuyên bố ấy không có nghĩa mặt chữ.” Vì thế Hick xúc tiến diễn dịch điều hàm chứa trong ngôn ngữ thần thoại của tín điều đó như sau:

Trong trường hợp của Đức Giêsu, câu nói đó đưa ra những trình bày xác định về năng lực tác động của Người trong tư cách là Đấng Cứu độ người ta khỏi tội lỗi và sự dốt nát và trong tư cách là Đấng trao ban sự sống mới; câu nói đó đề ra một cách thức để tuyên bố về vai trò quan trọng của Người đối với thế giới; và nó diễn tả một sự dấn thân của một người môn đệ đối với Đức Giêsu là Chúa Tể của bản thân mình. Người là Đấng mà khi bước theo Người chúng ta sẽ tìm thấy lại chính mình trong sự hiện diện của Thiên Chúa và sẽ nhận ra ý nghĩa của Thiên Chúa đối với cuộc đời chúng ta. Người là khuôn mẫu sung mãn của nhân tính đích thực trong một tương quan trọn vẹn với Thiên Chúa. Và Người là Đấng mà trong chiều kích Thiên Chúa vượt xa trên chúng ta đến nỗi Người đứng giữa chúng ta và Đấng Tối Cao để làm một trung gian của ơn Cứu độ.””

Những kết luận của Hick về sự Nhập Thể một cách lôgích đến từ quan điểm của ông rằng huyền thoại và biểu hiệu “không phải là những chỉ dẫn nhưng là những diễn tả” và rằng mục đích thực của chúng là “trình bày một giá trị và kích khởi một thái độ.” Charles Davis, trong một số tác phẩm gần đây, cũng có một quan điểm tương tự. Ông viết: “Kitô học là một thành tựu ngoạn mục của trí tưởng tượng sáng tạo vì nó cố diễn tả kinh nghiệm về giới siêu việt như được cảm nhận toàn khắp trong những cộng đoàn Kitô hữu đầu tiên.” Davis tin rằng bằng việc nhận thức “tính chất minh họa của sự trình bày tôn giáo và tính tương đối của tất cả thế giới con người, ngay cả khi mang dáng dấp tôn giáo,” người ta có thể dành chỗ cho “những đòi hỏi hợp lí của tính cách trần thế hiện đại.” Những quan điểm nòng cốt của Hick và Davis đang phổ biến rộng rãi trong Kitô giáo tự do của thời đại chúng ta.

Điểm yếu căn bản trong những phương thức này đã được Schillebeeckx nhận ra. Ông khẳng định rằng các tước hiệu Kitô học vừa có khách quan tính vừa có dự phóng tính, mặc dù hai tính cách đó không bao giờ có thể hoàn toàn tách biệt. Ông lập luận rằng các thần học gia như Davis chỉ lưu giữ những yếu tố có tính chủ quan và có tính dự phóng, làm cho Đức Giêsu trở thành một tượng trưng thuần túy về những khả năng đặc biệt của đời sống con người. Sự dự phóng, theo sự nhìn nhận của Schillebeeckx, “chắc chắn có chiếm một vai trò, nhưng… khi liên hội đến tính tôn giáo của Thánh Kinh và truyền thống thì mẫu thức này qui phục sự điều chỉnh quan trọng do yếu tố thần linh vốn có mặt nơi con người của Đức Giêsu.””

Do đó, để kết luận, chúng ta có thể nói rằng khái niệm về Đức Giêsu như là biểu hiệu, được hiểu theo một ý nghĩa hiện thực, đóng góp như một bổ sung có giá trị cho các mẫu thức giáo lý, lịch sử và biện chứng, và có thể được phong phú hóa bằng cách hội nhập những tri thức căn bản của những phương thức này. Tuy nhiên, nếu Đức-Kitô-biểu-hiệu chỉ được hiểu theo phương diện dự phóng của nó, như được thấy trong một số giải thích của mẫu thức 3 và 5, thì sẽ xung đột trực tiếp với ba mẫu thức kia. Chống lại với mẫu thức giáo lý, nó chủ trương rằng những tín lý truyền thống dựa trên một lầm lẫn về ngôn ngữ tôn giáo. Chống lại mẫu thức lịch sử, nó diễn dịch những câu chuyện về Đức Giêsu – bao gồm cả cuộc Nhập Thể và Phục Sinh – chỉ như là sự hư cấu được linh hứng. Chống lại mẫu thức biện chứng, nó chủ trương rằng Đức-Kitô-biểu-hiệu trổi lên không phải xuyên qua một mạc khải có tính trói buộc từ trên cao, nhưng là qua những khả năng sáng tạo của tính tín ngưỡng của con người trong một hoàn cảnh văn hóa xã hội nhất định. Cách hiểu có tính qui chủ thể, bất khả tri và theo thuyết tương đối về Đức-Kitô-biểu-hiệu, trong khi xem ra không thể phủ nhận về những giả định trước của nó, thì lại không thể đứng vững một khi mà chứng từ của Thánh Kinh và của truyền thống Kitô giáo được hiểu một cách nghiêm chỉnh. Nó làm mờ phủ lời chứng rõ nét của Kitô giáo về Thiên Chúa “Đấng đã yêu thế gian đến nỗi đã trao ban Con Một Mình” (Ga 3,16). Những đóng góp tích cực của các mẫu thức 1,2 và 4 trở thành hỗ trợ cho nhà thần học muốn bênh vực cả phương diện hiện thực lẫn phương diện dự phóng của Đức-Kitô-biểu-hiệu.

Trong số những điểm tiến bộ được gán cho cái nhìn có tính dự phóng về Đức-Kitô-biểu-hiệu – bởi những tác giả như John Hick và Charles Davis – người ta có thể thấy giá trị của nó đối với cuộc đối thoại giữa các tôn giáo. Vì thế vấn đề Đức Kitô là chóp đỉnh của mạc khải trực tiếp dẫn đến vấn đề về mối tương quan giữa Kitô giáo và các niềm tin sống động khác.

Lm. Lê Công Đức dịch từ

nguyên tác Models Of Revelation

của Avery Dulles, S.J.

do nhà Image Books – New York xuất bản, 1985.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s