Thông truyền bằng biểu hiệu (9)

VRNs (14.04.2015) – Sài Gòn – Ý Nghĩa Của Biểu Hiệu

Các thi sĩ đã từ lâu quen thuộc với việc nối kết giữa biểu hiệu và mạc khải. Samuel Taylor Coleridge đã khẳng định một cách rất đơn giản: “Chính bởi nhờ các biểu hiệu mà thôi mà chúng ta có thể đạt được tri thức về Thượng Đế.” William Butler Yeats thì dùng ý niệm mạc khải theo một ý nghĩa rộng rãi và tuyên bố: “Biểu hiệu quả là sự diễn tả duy nhất có khả năng diễn tả một yếu tính vô hình nào đó, một bóng đèn trong suốt cho thấy rõ ngọn lửa thiêng liêng; trong khi ngụ ngôn là một trong nhiều khả năng biểu hiện khác nhau về một điều được chất chứa hay một qui tắc thường tình, và thuộc về liên tưởng tự nhiên chứ không phải thuộc về sự tưởng tượng chủ động: một đàng là mạc khải, cái kia là trào lộng.””

Trong thần học thế kỷ XX ý niệm mạc khải hiểu như sự vén mở bằng biểu hiệu đã trở thành rất phổ biến. Cách hiểu này được thể hiện, với những sắc thái và sự đa dạng đáng chú ý, bởi những nhà tư tưởng kiệt xuất như Paul Tillich, H.R. Niebuhr, Karl Rahner, Paul Ricoeur, Langdon Gilkey, Ray Hart, John Macquarrie, Louis Dupré và Gregory Baum. Tôi sẽ cố gắng trình bày lý thuyết này theo cách của riêng mình chứ không bám víu vào nhận thức luận hay từ ngữ học đặc trưng của các tác giả khác.

Theo cách hiểu này, mạc khải không bao giờ xảy ra trong một kinh nghiệm nội tâm thuần túy hay trong một cuộc hội ngộ trực tiếp với Thiên Chúa. Mạc khải bao giờ cũng được thông truyền qua biểu hiệu – nghĩa là, qua một dấu hiệu được nắm bắt bên ngoài, nó làm việc một cách nhiệm mầu trên ý thức người ta để sao cho nó khơi gợi nhiều hơn những gì nó có thể mô tả hoặc định nghĩa một cách rõ ràng. Các biểu hiệu có tính mạc khải là những biểu hiệu trình bày và chuyển thông việc tự truyền đạt của Thiên Chúa.

Ý niệm về biểu hiệu ứng dụng trong lý thuyết này cần có một số giải thích rõ. Tôi sẽ nhất trí với nhiều tác giả hiện đại để chủ trương rằng biểu hiệu là một loại dấu hiệu đặc biệt phân biệt hẳn với một kim chỉ nam thuần túy (như cái bóng trên một mặt đồng hồ mặt trời) hay một mã hiệu qui ước (như một chữ hay một biểu đồ). Một biểu hiệu là một dấu hiệu cưu mang đầy đủ ý nghĩa, một dấu hiệu được gợi ra đúng hơn là được phát biểu một cách rõ ràng. Ricoeur sử dụng những ví dụ về sự ô uế, trong văn chương tôn giáo đó là một biểu hiệu cho những hậu quả của tội lỗi. Nhà phê bình văn chương Philip Wheelwright cũng trong sự nối kết này đã đề cập đến “những biểu hiệu tensive” – nghĩa là, những biểu hiệu “rút sự sống ra từ rất nhiều những liên kết có liên hệ hỗ tương với nhau một cách mật thiết và thường là một cách tiềm ẩn,” và qua đó có khả năng chắt lọc một tiềm năng sâu xa của năng lực ngữ nghĩa. Wheelwright đối lập những “biểu hiệu tensive” này với cái mà ông gọi là những biểu hiệu steno – tức cái mà thực tế các tác giả khác gọi là những dấu hiệu thuần túy. Đối với Wheelwright, những biểu hiệu steno có một sự đồng nhất chính xác trong qui chiếu, nhờ tính trừu tượng của chúng hay đơn giản chỉ là một sự đòi hỏi của con người. Khi đề cập đến các biểu hiệu trong những trang sau đây, tôi sẽ theo nghĩa từ ngữ thông thường hơn và căn cứ vào cái mà Wheelwright gọi là những biểu hiệu tensive.

Với cách hiểu nghĩa từ ngữ khác với Wheelwright, Michael Polanyi phân biệt giữa những chỉ nam và những biểu hiệu. Những dấu hiệu chỉ nam, theo quan điểm của ông, là những cái đóng vai trò thuần túy thứ yếu, chúng hướng dẫn chúng ta chú ý đến những đối tượng khác là mục tiêu để nhận hiểu mà chúng không được thâu nhận vào những đối tượng ấy. Chẳng hạn, khi chúng ta đọc một lá thư hiếm khi chúng ta lưu tâm đến chữ in hay thậm chí đến ngôn ngữ, bởi vì sự chú ý của chúng ta tập trung vào ý nghĩa. Những dấu hiệu chỉ nam thiếu sức lôi cuốn nội tại. Chúng ta diễn dịch chúng như những nhà quan sát thuần túy chứ không bị tác động sâu xa bởi chính các dấu hiệu đó.

Trong việc thông truyền bằng biểu hiệu, những chỉ dẫn thu hút sự chú ý về chính chúng. Chúng ta đi vào với chúng, và nếu chúng ta dấn mình cho năng lực của chúng thì chúng sẽ cuốn hút chúng ta, làm cho chúng ta có thể liên hội được các ấn tượng, ký ức và cảm xúc rộng rãi hơn là những dấu hiệu thuần túy chỉ nam có thể giúp chúng ta liên hội. Nhờ các biểu hiệu, chúng ta có thể đưa một số rất lớn những ký ức và kinh nghiệm rời rạc tản mác vào trong một loại tiêu điểm. Để làm ví dụ về sự truyền đạt bằng biểu hiệu, Polonyi đề cập đến những phản ứng của một người yêu nước khi đứng trước một lá quốc kỳ hay một bia mộ của một chiến sĩ trận vong.

Không có sự nhị phân rõ rệt nào có thể được rút ra giữa cái biểu hiệu và cái không biểu hiệu. Tất cả mọi việc nhận hiểu đều đòi hỏi chúng ta đi ra khỏi chính mình và dấn mình vào những cái tiểu tiết phụ thuộc để nắm được ý nghĩa hỗn hợp của chúng. Nhưng trong tri thức bằng biểu hiệu thì việc dấn mình đó được yêu cầu ở mức độ sâu xa hơn. Để đi vào trong thế giới ý nghĩa do biểu hiệu mở ra, chúng ta phải trao cả chính mình, chúng ta phải là những người trong cuộc gắn bó chứ không được là những kẻ quan sát bàng quan.

Về tất cả những gì được nói sau đây, cũng cần lưu ý để đừng đóng khung ý niệm về biểu hiệu trong chỉ lãnh vực văn chương. Những vật thể thiên nhiên, những con người lịch sử, những sản vật nhân tạo và những giấc mơ đều có thể là những biểu hiệu. Trong lãnh vực tôn giáo, thật là hữu ích việc phân biệt giữa những biểu hiệu thuộc về vũ trụ và tự nhiên (như mặt trời), những biểu hiệu con người và lịch sử (như Đavit và vương triều Đavit), và những biểu hiệu có tính nghệ thuật (như những đền thờ và những nghệ phẩm thánh). Như vậy những cách nói hình ảnh của văn chương Thánh Kinh chỉ là một loại trong các chủng loại biểu tượng tôn giáo.

Trong phạm vi chương này không thể nói hết về những quan hệ phức tạp giữa các biểu hiệu văn chương và những hình thức khác như loại suy, thần thoại, ẩn dụ, ngụ ngôn, dụ ngôn và nghi lễ. Tuy nhiên ta có thể có một vài xem xét. Một loại suy là một sự tương tự hay một sự tương đồng đối ứng giữa những cái khác nhau một cách căn bản, chẳng hạn sự sống trên cấp độ con người, động vật, cây cỏ (hoặc có thể nói sự sống trong một cái vỏ bánh xe). Những nét tương tự loại suy, được bắt rễ trong bản tính sự vật, thì tự chúng diễn dịch (về chúng). Những biểu hiệu, dù thường xuyên dựa trên cơ sở loại suy, có thể cần được giải thích nếu chúng rút ra không phải từ những tương đồng nội tại mà từ những liên hợp có tính lịch sử (chẳng hạn, Thánh giá là một biểu hiệu của sự cứu chuộc).

Theo nhiều tác giả, bất cứ câu biểu hiệu nào cũng là một ẩn dụ, theo nghĩa rằng nó chuyển sang cho một chủ thể điều vốn phù hợp với một chủ thể khác. Nếu tôi nói: “con người là một cây sậy biết suy nghĩ” hay “Napoleon là một con sói,” thì xét về văn phạm tôi đang tuyên bố một câu khẳng quyết. Tuy nhiên, ẩn dụ thì không thật sự là một khẳng quyết, bởi vì đặc tính hình tượng của bổ từ không cho phép dùng nó trong một luận cứ tam đoan luận.

Mối quan hệ giữa ẩn dụ và biểu hiệu thì có nhiều điểm để thảo luận hơn. Khi một ẩn dụ được dùng chỉ để minh họa điều mà ta vốn biết rồi – và không phải biết bằng lối biểu hiệu, thì ẩn dụ đó không đóng vai trò tầm cứu như một biểu hiệu. Đi xa hơn nữa, một số nhà phê bình văn chương như Wheelwright (quan điểm của ông này được Ricoeur nhất trí trong bản chất), đã chủ trương rằng mọi ẩn dụ sống động đều quá có tính riêng tư và chỉ nhứt thời nên không thể được gọi là một biểu hiệu – một hạn từ mà trong quan điểm của họ còn chỉ sự thâm thúy khách quan hơn và sự bắt rễ chắc chắn hơn trong những hình thức ổn định của sự hiện hữu có tính sinh vật và cộng đoàn tính. Mặc dù cách hiểu về biểu hiệu của họ xem ra quá hạn hẹp, chúng ta có thể đồng ý với những tác giả này rằng khả năng của ẩn dụ tùy thuộc vào sự hiện diện tiên vàn của những cơ cấu ý nghĩa trong những biến cố và những thực tại mà ẩn dụ qui chiếu đến.

Những thần thoại, ngụ ngôn và dụ ngôn là những thể văn chứa đầy các yếu tố biểu hiệu. Theo một vài tác giả, thần thoại có tính tiền biểu hiệu, bởi vì tư tưởng thần thoại không phân biệt giữa nghĩa mặt chữ và nghĩa chìm – một sự phân biệt mà họ cho là thiết yếu trong cách nói (có tính) biểu hiệu. Tuy nhiên, các tác giả này nhận ra rằng “nguồn gốc thần thoại của các biểu hiệu chủ yếu trong cách diễn tả thuộc tôn giáo là điều không thể nghi ngờ.” Càng ngày người ta càng dùng hạn từ thần thoại theo một nghĩa rộng hơn để gán cho bất cứ câu chuyện (có tính) biểu hiệu nào nhấn mạnh và định hình đời sống tập đoàn của một đoàn nhóm.

Ngụ ngôn, trái lại, có thể được gọi là “hậu biểu hiệu.” Nó dùng các biểu hiệu để chuyên chở những ý nghĩa vốn đã được người ta nắm hiểu bằng một cách thế nhất định và có tính suy tư. Trong ngụ ngôn, sự biểu hiệu được thực hiện về phương tiện tu từ chứ không có tính tầm cứu.

Dụ ngôn, theo Norman Perrin, có thể đóng vai trò hoặc là những tỉ dụ hoặc là những ẩn dụ. Nếu dụ ngôn là một tỉ dụ, nó sẽ “khích động tâm trí nhận ra những phương diện mới của thực tại,” thường bằng cách sử dụng những biểu hiệu hay những thần thoại – chẳng hạn như Nước Thiên Chúa trong các dụ ngôn của Đức Giêsu. Nếu dụ ngôn có tính ẩn dụ, nó sẽ “tạo ra một cú sốc đem lại một cái nhìn mới về thế giới và đem lại những khả năng mới cho việc kinh nghiệm cái thực tại hiện sinh mà thần thoại ấy chuyển thông.” Nhiều dụ ngôn trong Thánh Kinh chủ yếu nhằm gợi ra một quyết định, nhưng chúng chứa đựng những yếu tố biểu hiệu giúp chuyển thông mạc khải. Chúng ta sẽ bắt tay vào xem xét biểu hiệu về Nước Thiên Chúa đóng vai trò thế nào trong giáo huấn của Đức Giêsu xét như là một trung gian mạc khải.

Cuối cùng, nghi lễ là một trần thuật bằng hành động có tính biểu hiệu và tính thần thoại. Một cách sống động, nó làm mới lại những biến cố thánh mà nó hồi tưởng lại. Qua việc tham dự vào nghi lễ, người thờ phượng có thể biện biệt được ý nghĩa cuối cùng, có thể bổ khuyết được những yếu tố tiêu cực của cuộc hiện sinh, và có thể cảm nghiệm được sức mạnh của những gì là linh thánh. Theo Mircea Eliade, cách biểu hiệu bằng nghi lễ “đem lại một mối hiệp thông thường xuyên giữa con người và linh thánh- và do đó có thể xúc tiến tiến trình nên thánh (hierophanization).” Những xem xét này đưa chúng ta trở về luận điểm của chúng ta về mạc khải và biểu hiệu.

15040400

Biểu Hiệu Mạc Khải Trong Thánh Kinh

Để có một chỉ dẫn sơ bộ về mối liên lạc giữa mạc khải và biểu hiệu, cần ghi nhận rằng những mạc khải quan trọng mà chúng ta đọc thấy trong Thánh Kinh thì chứa đầy những yếu tố có tính biểu hiệu: chẳng hạn, trong Cựu Ứơc, những phép lạ của biến cố Xuất hành, những cuộc hiển linh ở Sinai, “tiếng nói khe khẽ” được nghe bởi Elia, những thị kiến trong việc bổ nhiệm các tiên tri lớn, và những xuất thần của các người thị kiến khải huyền. Trong Tân Ước, cuộc đời Đức Giêsu được giới thiệu bằng những tình huống có tính biểu hiệu cao về việc đầu thai và cuộc sinh hạ. Đời sống công khai của Người được phong nhậm bằng những hiện tượng thần linh như tiếng nói từ trời và việc Thánh Thần hiện xuống trong hình chim bồ câu. Sứ vụ của Người được đánh dấu bằng những biến cố có tính dấu chỉ như cuộc biến hình và những phép lạ chữa bệnh; và được khép lại bằng hành vi biểu hiệu là cái chết trên Thánh giá của Người. Cuộc sống vinh hiển của Đức Giêsu và lịch sử Giáo Hội được khởi đầu, lại một lần nữa, bằng những sự việc có tính biểu hiệu như cuộc Phục Sinh và cuộc hiện xuống của Chúa Thánh Thần. Sự hiện diện của những biến cố biểu hiệu này ở những điểm ngoặt quan trọng của lịch sử Thánh Kinh củng cố luận đề – đôi khi được đưa ra – rằng lịch sử cứu chuộc bao gồm một loạt những “sự kiện vén mở.” Những biến cố có tính dấu chỉ kết thành lịch sử này được minh họa một cách ấn tượng “như những biểu hiệu đầy ý nghĩa và như cửa ngõ mà qua đó sự cứu độ hiện lộ trong ngôn ngữ.””

Không chỉ những biến cố của lịch sử Thánh Kinh mà cả những chủ đề cốt yếu trong giáo huấn của các ngôn sứ, của Đức Giêsu, và của các Tông Đồ cũng đều mang hình thức biểu hiệu. Có thể minh họa điểm này bằng việc khảo sát gần như bất cứ chủ đề chìa khóa nào của Cựu Ứơc và Tân Ước, chẳng hạn chủ đề về Nước Trời. Như Norman Perrin cho thấy, Nước Trời trong lời rao giảng của Đức Giêsu không phải là một ý niệm rõ ràng hay một ý tưởng có ý nghĩa đơn nhất. Đúng hơn, đó là một biểu hiệu “có thể tượng trưng hay gợi ra một toàn thể hay một loạt các khái niệm hay ý tưởng,” và do đó đưa thính giả vào chính thực tại mà lời rao giảng của Đức Giêsu chuyển tải. Perrin minh họa rất nhiều tính chất biểu hiệu của ngôn ngữ này như được tìm thấy trong các lời nói có tính phương ngôn của Đức Giêsu, trong lời nguyện của Chúa, và nhất là trong các dụ ngôn Tin Mừng. Ông khẳng định rằng yếu tố thường xuyên trong những tư liệu rộng rãi này là biểu hiệu về Nước Thiên Chúa, biểu hiệu mà – đối với các thính giả Do Thái – có sức gợi lên kinh nghiệm đức tin về hoạt động sống động của Thiên Chúa vì ích lợi của dân Ngài và có sức thúc đẩy một sự đáp trả thích đáng. Theo Perrin, việc cố tìm cách gán chặt một ý nghĩa xác định nào đó cho hạn từ “Nước Thiên Chúa” sẽ là việc bỏ qua đặc tính đa nghĩa của sự thông truyền bằng biểu hiệu – vốn gợi ra nhiều hơn là những gì nó tuyên bố rõ rệt. Bởi tại chiều kích biểu hiệu này mà ngôn ngữ mạc khải của Thánh Kinh có thể nắm được và thay đổi được người thính giả có lòng sốt sắng.

Những Đặc Điểm Chung Của Biểu Hiệu và Mạc Khải

Chắc chắn là chứng lý Thánh Kinh không chứng minh rằng mạc khải phải có tính biểu hiệu tự bản tính của nó. Để xác lập điều này người ta hẳn phải xây dựng một chứng lý lý thuyết đặt cơ sở trên chính bản chất của mạc khải. Sự vững chắc của một chứng lý như vậy hẳn sẽ không được chấp nhận một cách rộng rãi, vì việc lập luận sẽ nại đến những giả định thần học và nhân học là những cái tự nó không hiển nhiên. Trong khi chấp nhận những giới hạn rõ ràng này, tôi sẽ cố gắng đề nghị một chứng lý đặt nền trên sự song song giữa các đặc điểm của việc thông truyền bằng biểu hiệu và mạc khải. Bốn đặc điểm như thế có thể được tuyển ra:

Thứ nhất, biểu hiệu không cung ứng tri thức giả đoán nhưng là tri thức chia sẻ – nghĩa là, loại tri thức liên quan tự nội. Một biểu hiệu không bao giờ là một đối tượng thuần túy. Nó nói với chúng ta chỉ trong mức độ mà nó thu hút chúng ta đặt tâm trí mình trong cái mênh mông của ý nghĩa và giá trị mà nó mở ra cho chúng ta. Như Nathan Mitchell đã nói: “biểu hiệu không phải là một đối tượng để cho người ta nắm bắt bằng những động tác kịch câm hay bằng hồi ức, nhưng là một môi trường để cho người ta dấn mình vào. Biểu hiệu là những không gian để sống, là những thời gian hô hấp giúp chúng ta khám phá ra những khả năng mà đời sống cống hiến.” Ông còn nói tiếp: “Nói vắn gọn hơn, mọi biểu hiệu đều liên quan đến một khám phá mới mẻ và mọi biểu hiệu đều là một hành động khai mở chứ không phải một đối tượng đã cố định xong xuôi. Bằng cách đi vào trong những biểu hiệu, bằng cách sống trong môi trường của chúng, người ta sẽ khám phá những chân trời mới của đời sống, những giá trị và động lực mới.””

Còn đặc điểm thứ hai, đó là: Biểu hiệu có một hiệu ứng biến đổi trong chừng mực mà nó liên quan đến người tri thức. Khả năng chữa trị của biểu hiệu được minh họa một cách sống động bởi tâm lý trị liệu. Victor White, một nhà thần học đồ đệ của Carl Jung, đã viết như sau:

 “Một biểu hiệu, như chúng ta nói, “làm một cái gì đó chúng ta,” nó thúc đẩy chúng ta, chuyển đổi trung tâm nhận thức của chúng ta, thay đổi các giá trị của chúng ta. Dù nó chỉ được nhìn hay được nghe, được diễn tả, được vẽ ra, viết ra hay (múa) ra, nó không chỉ khơi lên ý tưởng thôi mà còn khơi lên niềm vui thích, nỗi sợ hãi, âu lo, kinh hoàng, và sự khoan khoái… Jung đã nhận ra rằng đó chính là khí cụ mà chính vì tính đa năng của nó, đã biến đổi chính ý thức và qua đó biến đổi nhân cách bệnh hoạn. Đây là điều Jung có ý nói khi ông gọi biểu hiệu là cái máy tâm lý học giúp chuyển năng lực thành hoạt động, không kém chi một tuốc bin chuyển hóa năng lực hung dữ và vô ích của một giòng thác thành năng lượng mà người ta có thể kiểm soát và ứng dụng.””

Thứ ba, biểu hiệu có một ảnh hưởng mạnh mẽ trên những sự dấn thân và trên thái độ. Nó tác động trên người ta như một bùa mê. Nó khuấy động trí tưởng tượng, giải phóng những năng lực giấu ẩn trong linh hồn, cung cấp sức mạnh và sự vững vàng cho nhân cách, và dấy lên ý chí hành động một cách nhiệt thành và nhất quán. Vì thế cho nên tất cả những phong trào chính trị và xã hội lớn đều cảm thấy cần thiết phải trang bị cho mình những biểu hiệu thích đáng. Chẳng hạn, một lá quốc kỳ hay một bài quốc ca có khả năng biểu hiệu để khêu lên những tình cảm yêu nước và thúc đẩy các công dân làm những hành vi hào hùng vì đất nước họ.

Thứ tư, biểu hiệu dẫn chúng ta vào những vùng ý thức mà suy tưởng lang man thường không thể tiếp cận được. Theo kiểu diễn tả của Tillich, một biểu hiệu “mở ra những bình diện của thực tại mà nếu không có nó thì chúng ta vẫn bị bưng bít… và cũng mở ra những chiều kích và những yếu tố của linh hồn chúng ta tương ứng với những chiều kích và những yếu tố của thực tại.” Quá trình này luôn luôn tạo ra một cấu tố của mầu nhiệm. Thomas Carlyle đã ghi nhận đúng đắn: “Trong biểu hiệu có sự giấu ẩn và do đó có mạc khải.” Biểu hiệu vén mở không chỉ bằng việc trình bày ý nghĩa của nó cho người khảo sát nhưng còn bằng việc kéo chúng ta vào trong vận hành riêng của nó và (như chúng ta có thể nói theo Polanyi) bằng việc rút chúng ta ra khỏi chính mình. Ý nghĩa của biểu hiệu, vì thế, không thể bị niêm chết trong những ý tưởng và ngôn ngữ có tính phạm trù. Tuy nhiên, biểu hiệu không phải là không có giá trị cho cuộc tầm cứu nghiêm chỉnh về chân lý. Nó “nâng tư tưởng lên,” như câu nói nổi tiếng của Ricoeur. Bằng cách đặt chúng ta tiếp xúc với những phương diện thâm sâu hơn của thực tại, biểu hiệu có thể sản sinh một loạt vô hạn những tri thức đặc sắc.

Phẩm tính đa năng này của tri thức biểu hiệu được liên kết chặt chẽ với khả năng chữa trị mà chúng ta đã nói đến trên kia. Theo Eliade, các biểu hiệu có thể “nhận ra, hấp thụ, và thống nhất những bình diện và những thực tại khác nhau mà xét mặt ngoài chúng xem chừng bất tương ứng.” Hay như ông phát biểu một chỗ khác: “Biểu hiệu vì thế có thể khai mở cho thấy một viễn tượng trong đó những thực tại đa chủng dễ dàng được liên kết thành một toàn thể,” nhờ đó đời sống con người có thể được kết hợp thành một toàn bộ hữu thể.

Bốn phẩm tính này của tri thức biểu hiệu cho thấy rõ ràng bằng cách nào biểu hiệu có thể thích hợp một cách duy nhất để làm một trung gian của mạc khải, vì những phẩm tính của mạc khải – xét trên một bình diện siêu việt – tương ứng với những phẩm tính vừa được ghi nhận trong thông truyền bằng biểu hiệu. Trước hết, mạc khải đem lại sự nhận thức có tính chia sẻ, tham dự. Đón nhận mạc khải Kitô giáo là dấn mình vào một cộng đoàn đức tin và do đó chia sẻ cách sống đã được Đức Giêsu phác họa. “Ai không yêu thương thì không biết Thiên Chúa; vì Thiên Chúa là tình yêu” (1 Ga 4,8).

Thứ hai, mạc khải có tính biến đổi, vì nó đưa chúng ta vào một thế giới tâm linh mới, chuyển đổi những chân trời của chúng ta, những nhãn giới của chúng ta, những quan điểm của chúng ta. Người Kitô hữu hiểu ra rằng chính mình quan hệ riêng tư với Thiên Chúa. Trong ngôn ngữ Thánh Kinh và truyền thống, Kitô hữu được cho thấy là thành phần của gia đình và của nhà Thiên Chúa, được mời gọi thống hối, thứ tha và sống đời sống mới.

Thứ ba, như một hệ quả của đặc tính biến đổi, mạc khải có một sức tác động trên những sự dấn thân và thái độ của những người đón nhận nó. Nếu mạc khải xảy đến thuần túy như một chân lý xác định và trừu tượng thì hành vi đức tin dùng để đón nhận nó sẽ là một chấp nhận thuần túy lý thuyết. Nhưng nếu mạc khải là chân lý biểu hiệu thì hành vi chấp nhận nó phải thể hiện bằng cách sống. Như Vatican II đã diễn tả, đức tin phải là một thái độ vâng phục trong đó người ta “ký thác toàn thể bản thân mình một cách vô điều kiện cho Thiên Chúa.” Với đức tin, người Kitô hữu hội nhập vào một cộng đoàn những người tin và trở thành gắn bó với cộng đoàn ấy, cũng như gắn bó với Chúa của cộng đoàn ấy – bằng những mối dây trung thành và tín thác.

Cuối cùng, nhờ đặc tính biểu hiệu, mạc khải giúp thấu hiểu những mầu nhiệm mà lý trí không cách nào dò thấu được. Eliade đã nêu ra rằng đối với người Do Thái và người Kitô hữu, “Giavê vừa nhân hậu vừa phẫn nộ, Thiên Chúa của các nhà thần bí và các thần học gia Kitô giáo vừa kinh khiếp vừa hiền lành một trật, và chính sự đối lập trùng phức (coincidentia oppositorum) này là khởi điểm cho những giả đoán táo bạo nhất của những người như pseudo – Dionysius, Meister Eckhardt, và Nicolas Cusa.” Mạc khải tự nó là một mầu nhiệm bởi vì nó là sự tự thông truyền của Thiên Chúa “Đấng ngự trong ánh sáng không thể với tới được” (1 Tm 6,16). Thần học biểu hiệu hiện nay – như được đại biểu bởi Tillich – khẳng quyết tính chất mầu nhiệm của mạc khải: “Trong khi được mạc khải, (cái siêu việt) vẫn không ngừng còn giấu ấn, vì tính chất kín nhiệm của nó nằm trong chính bản chất của nó; và khi nó được mạc khải thì mức rõ ràng minh bạch của nó cũng ngang ngửa mức giấu ẩn của nó.” Công Đồng Vatican I đã diễn tả rất hay khi tuyên bố: “Các mầu nhiệm thần linh trong chính bản chất của chúng thì vượt quá trí khôn thụ tạo đến nỗi ngay cả khi chúng được trao ban trong mạc khải và được đón nhận trong đức tin, thì chính đức tin ấy vẫn còn thấy chúng bị bao trùm trong một thứ mù mờ, bao lâu “chúng ta còn bị tách khỏi Thiên Chúa trong đời sống tạm này, vì chúng ta bước đi bằng đôi mắt đức tin chứ không bằng đôi mắt thường (2 Cr 5,6-7).” Đặc tính mầu nhiệm của mạc khải, tuy vậy, không giựt nó khỏi trí khôn tư duy, vì như Vatican I đã khẳng định trong đoạn văn ta vừa trích dẫn: “được soi sáng bởi đức tin, lý trí nhờ sự giúp đỡ của Thiên Chúa đạt được một sự nhận hiểu nào đó, và đích thực là một sự nhận hiểu rất hữu ích” về những mầu nhiệm thần linh.

Những Ví Dụ Về Mạc Khải Kitô Giáo

Để minh họa sự phong phú của các biểu hiệu mạc khải, có thể đưa ra một số ví dụ. Biểu hiệu ánh sáng cho thấy điển hình về biểu hiệu thuộc vũ trụ hay thiên nhiên. Bằng loại suy, ánh sáng được gắn kết mật thiết với tri thức và mạc khải. Bàng bạc trong nhiều tôn giáo của thế giới, biểu hiệu ánh sáng chiếm vị trí trung tâm trong Bái hỏa giáo, trong Ngộ đạo thuyết (Gnosticism) và trong tân phái Platon. Nó nổi bật trong các tư liệu Qumran và trong rất nhiều phần thuộc Thánh Kinh. Đức Kitô, theo Gioan, tuyên bố Ngài là ánh sáng thế gian (Ga 8,12) và, theo Matthêu, gọi các môn đệ Ngài là ánh sáng thế gian (Mt 5,14). Thư thứ nhất Thánh Gioan còn khẳng định hơn thế nữa: Thiên Chúa là ánh sáng (1 Ga 1,5). Vì ánh sáng ngày xưa đến từ những thiên thể huyền bí trên trời, là một hiện tượng thần nhiệm – nhưng, như Macquarrie cho thấy, năng lực thần nhiệm ấy một cách nào đó đã được giải trừ bởi tri thức khoa học và bởi sự kiểm soát về phương diện kỹ thuật về ánh sáng mà con người hiện nay đã nắm được. Để tìm lại một cái gì đó thuộc năng lực hiện sinh của biểu hiệu này, Macquárrie đề nghị bổ sung ý niệm về “sự khai phóng” mà ông cho là tương ứng gần gũi với nó.

Một loại biểu hiệu thứ hai đặc biệt có tính lịch sử hơn. Một trong những biểu hiệu chính yếu của Kitô giáo – mà mọi người đều công nhận – đó là Thánh giá. Xét như một biểu hiệu tự nhiên, nó chất chứa những ý niệm về sự đương đầu, sự khủng hoảng, và sự chọn lựa, tựa như khi chúng ta nói đến những “ngã tư đường.” Nó cũng có nghĩa chỉ sự đụng chạm và sự đối lập, kèm với ý nghĩa về “tình trạng bị xóa bỏ.” Trong tư cách là một cây gỗ, Thánh giá là một gánh nặng để vác, như trong câu nói “vác thập giá mình.” Trong văn mạch các sách Tin mừng, nó có nghĩa là sự nhẫn nhục, sự vâng phục và sự chịu đựng gian nan vất vả. Theo khía cạnh là một dụng cụ của hình phạt, Thánh giá là một biểu hiệu của sự xét xử, của đau đớn và của cái chết. Trong trường hợp của Đức Giêsu, nó có nghĩa chỉ sự tùy thuộc hào hùng của Người đối với Thánh ý Chúa Cha và tình yêu vô hạn của Người đối với những kẻ tội lỗi như chúng ta. Nó cũng tượng trưng cho tình yêu của Chúa Cha trong việc trao phó Con của Ngài làm giá chuộc chúng ta. Từ một góc nhìn khác, nó cho thấy sự kinh khủng của tội lỗi con người và cao điểm của lịch sử phản loạn của con người chống lại Thiên Chúa. Vì được thấm đẫm máu Đức Giêsu, Thánh giá trở thành nơi chúng ta được hòa giải với Thiên Chúa và với nhau. Còn Thánh giá trơ trụi hoặc – Thánh giá làm nơi xuất phát của Đức Kitô thống trị thì chuyển thông ý nghĩa cuộc khải hoàn Phục Sinh. Đối với Constantin và những chiến sĩ Thập tự quân thì Thánh giá trở thành biểu tượng của chiến thắng. Đối với người Kitô hữu đã chịu phép Rửa, dấu Thánh giá diễn tả sự chấp nhận tinh thần môn đệ.

Phụng tự bí tích cho thấy loại biểu hiệu thứ ba: trong một đoạn văn cô đọng hàm súc, John Macquarie đã nói lên phần nào sự phong phú ý nghĩa của bí tích Thánh Thể xét như một biểu hiệu:

Phụng tự, kinh nghiệm và thần học Kitô giáo được thâu kết nơi Thánh lễ trong một sự phong phú kỳ diệu. Dường như bí tích này bao gồm mọi sự… Nó kết lợp Lời Chúa và bí tích, nó huy động tâm thần và cảm giác; nó hội nhập hy tế Canvê và sự hiện diện của Đức Kitô Phục Sinh; nó là sự hiệp thông với Thiên Chúa và với con người; nó bao quát toàn thể tâm tình và thái độ tôn giáo. Lại nữa, nó dạy về giáo lý sáng tạo – khi bánh, rượu và chính chúng ta được tiến dâng Thiên Chúa; nó dạy giáo lý về sự đền bù – vì những lễ vật này phải được bẻ ra để chúng có thể trở nên hoàn hảo; nó dạy giáo lý về sự cứu độ vì Thánh Lễ liên hệ đến việc  sát nhập và Đức Kitô và việc thánh hóa cuộc sống con người; nhất là nó dạy giáo lý về sự Nhập Thể, vì các Kitô hữu không phụng thờ một Thiên Chúa xa xăm nhưng là một Thiên Chúa Đấng tự làm cho mình trở nên có thể được tiếp cận bởi con người trên dương thế. Thánh Lễ cũng tập hợp nơi chính nó ý nghĩa của Giáo Hội, toàn thể hoạt động Thánh Lễ đều hàm chứa và đẩy mạnh mối tùy thuộc hỗ tương của chúng ta vào nhau trong Thân mình Đức Kitô; nó hợp nhất chúng ta với Giáo Hội quá khứ và thậm chí – qua những ý nghĩa vượt qua của nó – nó còn hợp nhất chúng ta với dân tộc đầu tiên của Chúa là Israel; và nó hướng đến chung cuộc của Nước Thiên Chúa – trong tư cách là một dự báo về bữa tiệc thiên quốc. Dù diễn tả bao quát như vậy, tôi vẫn dường như thấy còn thiếu sót một cái gì đó, bởi Thánh Lễ dường như là một cái gì không thể thấu triệt được.

Tất cả ba biểu hiệu được dùng làm ví dụ ở đây có thể được thấy là chứa đựng vô hạn những ý nghĩa tiềm tàng, nhiều ý nghĩa trong đó ăn khớp sâu xa với những khuôn thức ý thức của con người. Sẽ vô ích nếu lục tìm trong những biểu hiệu này một bài học hay một ý nghĩa sáng sủa nào đó. Bởi tại khả năng liên kết vô số những giả đoán khác biệt nhau và những cảm xúc nửa chừng, các biểu hiệu có một năng lực liên kết và hòa giải lớn hơn nhiều so với bất kỳ một tuyên bố rõ rệt nào.

Trở Lại Với Năm Mẫu Thức

Căn cứ vào những tương ứng đáng kể giữa các đặc tính của mạc khải và các đặc tính của sự thông truyền bằng biểu hiệu, chúng ta có cơ sở để kết luận ở đây rằng mạc khải và sự thông truyền bằng biểu hiệu có sự gắn kết mật thiết với nhau. Bây giờ chúng ta phải kiểm tra lý thuyết biểu hiệu bằng cách xem thử chúng có phục vụ như một công cụ biện chứng để củng cố những điểm mạnh và để vượt qua những điểm yếu rõ ràng nơi mỗi mẫu thức hay không. Tôi sẽ chứng tỏ rằng phương thức biểu hiệu, được hiểu đúng đắn, có thể hội nhập những gì là mạnh nơi năm mẫu thức và đồng thời điều chỉnh những sai lệch trong chúng. Những mẫu thức này, đến lượt chúng, có thể đóng góp cho lý thuyết biểu hiệu bằng cách minh giải xa hơn về những gì cần yếu để biểu hiệu trở thành mạc khải thực sự.

  1. a) Mẫu Thức Xác Định

Đối với những thần học gia xem mạc khải có tính xác định thì phương thức biểu hiệu dường như gây nguy hiểm cho chân lý mạc khải. Sự nguy hiểm này hoàn toàn không huyễn hoặc. Có những nhà giản lược theo tư tưởng thực nghiệm, nối gót Auguste Comte, khẳng định rằng biểu hiệu chẳng là gì ngoài một cách thức mang lốt khác để nói về những thực tại vốn có thể được hiểu chính xác thông qua ngôn từ (có tính) ý niệm khách quan. Có những nhà chủ trương dụng cụ chủ nghĩa một cách thường nghiệm, như Richard Braithwaite, khẳng định rằng ngôn ngữ biểu hiệu của tôn giáo chẳng là gì ngoại trừ một chuyện thêu dệt hữu ích nhằm khơi gợi những thái độ đạo đức rõ ràng. Công cuộc nghiêm túc tìm kiếm chân lý, nơi mỗi lý thuyết này, sẽ đòi phải dứt bỏ ngôn ngữ biểu hiệu để nói trực tiếp về những thực tại mà các biểu hiệu ấy qui chiếu về.

Nhiều người theo mẫu thức xác định chủ trương đối kháng lại những người theo tư tưởng biểu hiệu về một trong những điểm chủ yếu mà Eliade và Langer đã nhấn mạnh là điểm hay của nó, đó là tính đa nghĩa của các biểu hiệu – Theo những nhà chủ trương xác định, mạc khải phải mở ra một chân lý rõ rệt nào đó, bằng không thì người ta không thể tin nó. Theo quan điểm của họ, tính biểu hiệu mãnh liệt của Thánh Kinh phải được chuyển dịch hoàn toàn thành những tuyên bố rạch ròi; ngược lại, nó sẽ không thể chuyển tải ý nghĩa gì rõ ràng. Gordon Clark, một nhà thần học duy Tin Mừng bảo thủ, đã dùng chính ví dụ về Thánh giá nói trên. Ông viết:

Cho rằng Thánh giá được chọn làm một biểu hiệu Kitô giáo, và giả như một diễn giả nào đó hoa mỹ rằng: Chúng ta hãy sống trong bóng Thập giá. Vậy ông ta có thể muốn nói gì? Thánh giá biểu hiệu cho cái gì? Biểu hiệu của tình yêu Thiên Chúa chăng? Hay là biểu hiệu cơn phẫn nộ của Thiên Chúa? Hay (nó) biểu hiệu cho năng quyền Giáo Hội? Nếu không có những tuyên bố rõ ràng giấy trắng mực đen để cung cấp thông tin về cái mà Thánh giá ấy biểu hiệu, thì không thể trả lời cho những câu hỏi vừa nêu được.””

Những ghi nhận này làm bật lên rất rõ vấn đề về mối quan hệ giữa chân lý biểu hiệu và chân lý xác định. Tôi xác quyết rằng mỗi hình thức ngữ nghĩa ấy đều có khả năng chuyên chở ý nghĩa, được nhận thấy trong sự liên kết các yếu tố phụ thuộc nhờ hội nhập chúng lại. Trong ngôn từ xác định, sự liên kết này dễ hơn vừa bởi vì tính đặc thù của câu tuyên bố (chỉ bao quát một phạm vi giới hạn của thực tại) vừa bởi tính trừu tượng của nó. Biểu hiệu đạt được ý nghĩa hỗn hợp của những chi tiết khác nhau và xem ra bất tương ứng nhau nhờ một cố gắng của trí tưởng tượng, theo đó những năng lực liên kết tiềm mặc của chúng ta được đẩy lên tới một mức phi thường. Bằng sự tham dự có tính kích khởi, một biểu hiệu có thể chuyên chở một tri thức phong phú hơn và có tính cá vị hơn về thực tại so với ngôn ngữ xác định. Điểm đặc sắc của nó không phải là sự vắng mặt của ý nghĩa nhưng là sự tràn dư ý nghĩa. Nếu không nại đến biểu hiệu thì người ta có thể diễn tả được không những điều kỳ diệu của một cuộc sinh hạ em bé, những khủng khiếp trong một cuộc xâm chiếm của quân man di, hay sự êm đềm của một hoàng hôn tĩnh mịch? Phải chăng những đặc điểm ấy không thực bằng những gì có thể giản lược thành những con số cân đo đong đếm? Nếu thế giới của chúng ta là cái gì còn phong phú hơn những bảng thống kê và những trừu tượng tẻ lạnh, thì chúng ta cần có một ngôn ngữ có khả năng khơi gợi. Điều đó lại càng đúng hơn nữa nếu chúng ta muốn có được ý thức về siêu việt, là chuyên đề riêng của mạc khải. Dù hoàn toàn vượt quá mọi mô tả và định nghĩa, Thiên Chúa vẫn rất ư là thật. Những biến cố và ngôn ngữ biểu hiệu có thể thông truyền – dẫu một cách khiếm khuyết – một cái gì đó về sự thực của Thiên Chúa. Sự ngưỡng vọng đối với Thánh Kinh được thấy nơi các nhà duy Tin mừng như Clark nói chung dường như cho thấy khả năng của họ trong việc đánh giá tính biểu hiệu của Thánh Kinh.

Dĩ nhiên, một biểu hiệu có thể được trình bày bằng một ẩn dụ, một ẩn dụ có thể được chuyển dịch thành một tỉ dụ, và một tỉ dụ – trong một mức nào đó – có thể được diễn tả trong ngôn từ xác định. Như vậy cái ẩn dụ “Giêsu là chủ chăn tốt” có thể được trình bày lại: Đức Giêsu chăm sóc các môn đệ Người như một mục tử chăm sóc chiên mình, và rồi điều này lại có thể được giải thích như một hàm ý về sự bổ dưỡng “tâm linh,” sự lãnh đạo, sự bảo vệ khỏi các thù địch (những con “sói” người). Nhưng cách diễn tả xác định, trong mức độ mà nó đạt được sự rạch ròi mặt chữ, đã bỏ nhỡ những điều mà biểu hiệu có thể nắm hiểu được một cách mặc nhiên, nó bất toàn, và trong khi xé rời cái cô đọng hàm súc của biểu hiệu – nó làm mòn nhụt khả năng của nó. Như vậy, những xác định không phải là một sự thay thế tương đáng cho những biểu hiệu.

Sự giải thích xác định – rõ ràng không phải là cái gì vô dụng. Như chúng ta đã ghi nhận, các biểu hiệu luôn luôn đòi sự giải thích sao cho có thể làm sáng tỏ sự hàm hồ của chúng và sao cho tránh được sự méo mó. Giáo lý Kitô giáo đặt ra những giới hạn cần thiết cho những loại ý nghĩa khả dĩ được tìm thấy trong các biểu hiệu Kitô giáo. Nếu không có giáo lý thì chúng ta khó lòng tìm ra nơi Thánh giá Đức Kitô sự biểu lộ của ân sủng và ơn cứu độ thần linh. Nhưng, như ta sẽ thấy sau, giáo lý Kitô giáo không bao giờ duy mặt chữ (literal) đến nỗi nó không còn chia sẻ tính biểu hiệu. Giáo lý sống nhờ vào năng lực của những biểu hiệu mạc khải.

Chúng ta có thể chấp nhận với Braithwaite và những nhà dụng cụ chủ nghĩa rằng ngôn ngữ biểu hiệu của tôn giáo khuyến dụ một lối sống, thúc đẩy những sự dấn thân, khơi gợi lòng biết ơn, làm thấm nhiễm tâm tình thờ phượng. Nhưng cái nổi bật của biểu hiệu tôn giáo đó là nó đem lại, hay nhằm đem lại, tri thức về tôn giáo. Theo Wilbur Urban, đặc tính riêng biệt của “những biểu hiệu tri thức” thì “nằm ở sự kiện rằng chúng không chỉ tới cũng không dẫn tớimà là dẫn vào…, chúng là – hay ít ra được giả sử là – một phương tiện chuyển tải hay sự truyền thông tri thức.” Ngay cả khi người ta chấp nhận những chỉ dẫn đầy thực tiễn theo cách hiểu của Braithwaite thì cũng là mặc nhiên khẳng định rằng thực tại ấy là một điều tự nhiên đến nỗi những thái độ của họ là hoàn toàn có cơ sở. Các biểu hiệu tôn giáo, do đó, hàm chứa một cái gì đó về huấn lệnh thực sự. Theo cách nói của Ian Barbour: “Sẽ là vô lý việc đón nhận hay khuyến giục một lối sống nếu như người ta không tin rằng lối sống ấy là xứng hợp với vũ trụ tự nhiên. Những “hư cấu hữu ích” không còn là hữu ích nữa nếu người ta nhận ra rằng chúng là những hư cấu và cư xử chúng như “những dụ ngôn” mà chân lý hay sự sai lầm của nó được coi là xa vời thực tế.””

Nhờ nội dung trí thức tiềm tàng trong những biểu hiệu nguyên thủy, tính biểu hiệu mạc khải có thể không những “khơi gợi tư duy” mà còn định hình tư duy mà nó khơi gợi lên nữa. Thánh giá mạc khải cho Kitô hữu thấy những chiều sâu của tình yêu Thiên Chúa, cuộc Phục Sinh cho thấy một cái gì đó về quyền năng và lòng trung tín của Ngài. Những tuyên bố giáo lý của Thánh Kinh và của truyền thống Kitô giáo thì, bằng nhiều cách thế, có tính giao thoa với những biểu hiệu căn cơ. Kitô học phát triển dựa trên những danh hiệu đầy tính ẩn dụ được phong cho Đức Giêsu, và Giáo Hội học cổ điển suy tư dựa trên những hình ảnh Thánh Kinh về Giáo Hội.

Như vậy ảnh hưởng đi cả hai chiều. Giáo lý làm phong phú ý nghĩa của các biểu hiệu, như chúng ta đã đề cập đến sự diễn dịch của Kitô hữu về Thánh giá Đức Kitô. Trong khi tiến trình phát triển giáo lý tiếp tục, Giáo Hội kiểm tra những kiến nghị mới xuyên qua sự nắm bắt của Giáo Hội về toàn thể hệ thống biểu hiệu (gồm cả tính biểu hiệu của tín điều và phụng vụ), xuyên qua kinh nghiệm lâu đời của Giáo Hội về đời sống Kitô hữu, xuyên qua những tranh luận mô phạm, và xuyên qua sự giúp đỡ không ngừng của Chúa Thánh Thần. Trong những chương sau đây, chúng ta sẽ phải bàn nhiều hơn về sự phát triển của giáo lý.

Theo sự diễn dịch của các biểu hiệu thì điều quan trọng là tham dự vào cộng đoàn đức tin như đã được mô tả trước đây trong chương này. Luận điểm có tính loại suy của thần học rút được sức mạnh và sự vững chắc từ sự dấn mình tích cực của người phát ngôn vào trong thực tại mà các biểu hiệu qui chiếu tới. Khi chúng ta nói tới Thiên Chúa như người Cha, vị Chúa tể, Đấng Cứu chuộc… những ý niệm của chúng ta đã bị khuôn đúc bởi một mối tương quan hiện sinh thực sự – mối tương quan không thể được chuyên đề hóa một cách khả niệm nếu không có sự giúp đỡ của các biểu hiệu trong mạc khải. Những biểu hiệu xem ra hàm hồ và có vẻ dễ dàng bị diễn dịch sai lạc sẽ nhờ loại tương quan sống động này mà có được một chuẩn mực xác định ý nghĩa của chúng. Một số diễn dịch về các biểu hiệu xem chừng như là có thể trong giả đoán lại tỏ ra làkhông thể trong thực tiễn. Tin mừng vạch ra các yếu tố cần thiết để có được sự nhận hiểu đúng đắn các dụ ngôn của Đức Giêsu – một tâm hồn trong sạch, một đời sống ngay thẳng, ơn Chúa, sự kết hiệp với Thiên Chúa trong đời sống cầu nguyện, sự hướng dẫn của quyền bính, và sự nâng đỡ của cộng đoàn đức tin.

Với sự giải thích bổ sung này, sự thông truyền bằng biểu hiệu được thấy rõ ràng là không tước mất tính minh bạch và ổn định của mạc khải. Các biểu hiệu không phải là những con phỗng muốn kéo sao thì kéo. Người ta có thể tự đặt mình vào trong năng lực của chúng, hơn là uốn ép các biểu hiệu theo những mục đích riêng của mình. Các biểu hiệu Kitô giáo, được đón nhận trong khung toàn bộ bối cảnh của chúng, và được diễn dịch trong cộng đoàn đức tin sống động, đem lại những chỉ giáo chắc chắn cho tư tưởng và hành vi. Được diễn dịch dựa vào bối cảnh của các biểu hiệu và dựa vào đời sống Kitô hữu, một số công thức thuộc ý niệm có thể được đưa ra trong tư cách là có mang thẩm quyền của mạc khải.

  1. b) Mẫu Thức Lịch Sử

Bây giờ chúng ta hãy xét xem phương thức tiếp cận mạc khải bằng biểu hiệu có liên quan đến mẫu thức lịch sử như thế nào. Người ta có thể thấy hai phương thức này đối lập nhau một cách phản đề. Các biểu hiệu có thể được hiểu là qui chiếu đến những chiều kích phổ quát vượt ngoài thời gian của tôn giáo và do đó không thiết yếu phải gắn chặt với bất cứ biến cố lịch sử đặc thù nào. Người ta có thể nghĩ tưởng rằng năng lực khơi gợi của chúng dựa trên sự tương ứng của chúng với những phạm trù có nguồn gốc nơi chính thiên nhiên. Một số người thuộc phương thức biểu hiệu, quan tâm chủ yếu đến việc phân tích văn chương của các biểu hiệu, đã không gắn bao nhiêu tầm quan trọng cho các sự kiện thuộc lịch sử cứu độ. Theo họ trình bày thì cơ hồ như đức tin Kitô giáo lấy đối tượng của nó không phải nơi vị Thiên Chúa Nhập Thể là Giêsu Nadarét nhưng đúng hơn là nơi khuôn mặt Thánh Kinh của Đức Giêsu trong tư cách là Đấng Kitô.

Khác với phái biểu hiệu nói trên, tôi sẽ khẳng quyết mối tương quan mật thiết giữa các phương thức tiếp cận mạc khải bằng biểu hiệu và bằng lịch sử. Các biểu hiệu của đức tin theo Thánh Kinh và theo Kitô giáo, trong khi chúng xây dựng một số phạm trù có tính vũ trụ, thì được làm phong phú và được chuyên biệt hóa nhiều hơn nhờ những hồi ức lịch sử của Israel ngày trước. Những ai đứng trong truyền thống này đều có những lý do vững chắc để kỳ vọng nâng niu cái di sản đặc biệt ấy. Theo cái nhìn của Thánh Kinh và của Kitô giáo, Thiên Chúa được biểu hiệu nhiều nhất là xuyên qua những hoạt động yêu thương trong đó Ngài đã tự vén mở chính mình trong lịch sử Israel và trong cuộc đời của Đức Giêsu. Nếu tình yêu biểu lộ chính nó chủ yếu bằng những hành động thì những sự kiện thực tiễn về các hành động cứu độ của Thiên Chúa trong lịch sử đặc biệt này không phải là một cái gì vô chất. Nhờ những hành động đầy ý nghĩa mà Thiên Chúa đã thể hiện mà chúng ta được biết Thiên Chúa nhiều hơn – hơn là nhờ những biểu hiệu có tính hư cấu mà chúng ta dùng để diễn giải những gì Ngài đã làm. Biểu hiệu, vì thế, không nên chỉ được xem như là sự tượng trưng có tính hư cấu.

Vậy thì, làm sao lý thuyết biểu hiệu bổ trợ cho lý thuyết lịch sử – như đã được triển khai ở chương IV? Mẫu thức lịch sử, trong hình thức nguyên khai hơn hay phổ thông hơn của nó, chủ trương rằng mạc khải có thể được hiểu chắc chắn bằng suy luận của lý trí từ bản tính của chính các biến cố. Ngược lại, phương thức biểu hiệu phủ nhận việc xem các hoạt động của Thiên Chúa là mạc khải trừ phi chúng là những biểu hiệu cho sự hiện diện của Ngài. Việc nắm bắt chúng trong tư cách là những biểu hiệu không lệ thuộc vào một thái độ võ đoán nào, (như chữ “blik” nổi tiếng của R.M. Hare). Đúng hơn, đó là sự đáp trả đúng đắn đối với chính các biến cố, những biến cố mà nhờ năng lực biểu hiệu của chúng – chúng nắm bắt và uốn nắn ý thức của nhà chú giải theo chiều hướng tôn giáo.

Được hiểu theo hướng này, phương thức biểu hiện bảo toàn tính cụ thể và tính hiện thực mà chúng ta đã đề cao mẫu thức lịch sử. Đồng thời, nó điều chỉnh một số điểm yếu rõ ràng trong một số cách diễn giải của mẫu thức ấy. Nó không đòi buộc rằng các biến cố phải có bản tính sao cho ý nghĩa mạc khải của chúng có thể được chứng minh chặt chẽ bởi sự khảo cứu có tính thuyết lý, nhưng chỉ đòi hỏi rằng nhà tìm thám về tôn giáo phải có khả năng biện biệt trong chúng một ý nghĩa theo hướng thần linh. Xem thế, mạc khải không được định vị bên ngoài tâm trí nhà chú giải, kiểu như một đối tượng vật chất, và nó cũng không phải là một cái gì đó được gắn thêm vào biến cố – xuất phát từ chủ quan của nhà chú giải. Hệt như một bản văn văn chương vén mở cho độc giả (văn chương) một ý nghĩa thực sự có ở đó, thì một biến cố dấu chỉ mạc khải cũng thế – đối với nhà quan sát trong cảnh giới tôn giáo – có thể chuyên chở một ý nghĩa thần linh vốn thực sự thuộc về biến cố ấy.

Một sự phản đối đối với mẫu thức lịch sử – như chúng ta đã thấy ở chương IV – là sự khó khăn của việc giải thích đâu là ý nghĩa của “ một hành động quyền năng của Thiên Chúa.” Thiên Chúa không phải luôn luôn làm việc trong mọi biến cố vũ trụ và lịch sử trong tư cách là nguyên nhân sáng tạo đấy ư? Việc đặc biệt hành động có thể có nghĩa gì đối với Ngài? Phải chăng Ngài bỏ qua tác nhân tạo vật và tự đặt chính Ngài thay vào chỗ của những nguyên nhân hữu hạn?

Một câu trả lời đầy đủ cho các vấn nạn khó khăn này sẽ vượt quá những giới hạn của cuộc nghiên cứu ở đây. Tuy nhiên, phương thức biểu hiệu để tiếp cận mạc khải có thể đưa ra câu trả lời phần nào. Dựa theo giáo lý cổ điển thì Thiên Chúa thường hằng và quả thật Ngài làm việc trong mọi hoạt động. Để thể hiện vai trò tác động của Ngài, Ngài không cần đi vào với thế giới từ bên ngoài, như kiểu một kẻ phá đám. Là nguyên ủy siêu việt, Ngài thúc đẩy các tác nhân thụ tạo để chúng tự vận động lấy. Đối với Ngài thì việc hành động cách đặc biệt không đòi Ngài phải năng động nhiều hơn so với những trường hợp khác nhưng chỉ là quan tâm xem xét để các hiệu ứng tương hợp với các mục đích sáng tạo và cứu độ của Ngài. Khi Thiên Chúa đưa thực tại hữu hạn vào mối tương quan đặc biệt với chính Ngài – xuyên qua sự tác động thường hằng và phổ quát của Ngài – thì hiệu quả sẽ là hành động của Ngài, hiểu theo một nghĩa đặc biệt. Những hành động này không phải là những sự biểu hiện đơn thuần về những phẩm tính vĩnh cửu của Thiên Chúa, như trong mô phạm luận tự do trước đây, nhưng là những biến cố có sức tác động đem lại những khả năng mới mẻ của sự sống và sự cứu độ.

Khi chủ trương rằng những đặc nét của một hiệu quả có thể được định đoạt bởi Thiên Chúa xét như nguyên nhân đệ nhất mà không có sự phá bĩnh những tiến trình của tác nhân đệ nhị, ta giả thiết rằng tác nhân đệ nhị sẵn sàng được điều động theo chiều hướng này. Từ tất cả những gì mà chúng ta được biết về cơ cấu của thực tại, ta thấy điều đó không có vẻ gì là phi thực. Khi tôi phác họa một cỗ máy, tôi không chống cưỡng bất cứ định luật vật lý hay hóa học nào, nhưng tôi vận dụng những năng lực có sẵn để đem lại một hiệu quả thuộc một trật tự cao hơn – tức là một dụng cụ –  mà nhờ sự hoạt động hỗn hợp của các thành phần của nó – có thể phục vụ cho một mục đích chuyên biệt nào đó của con người. Một nguyên tắc tương tự về việc “kiểm tra vòng đai” – nói theo từ ngữ của Polanyi – được thấy khi một bộ phận hữu cơ lợi dụng những tiến trình lý hóa để đạt được một mục tiêu có tính sống hoạt. Nguyên tắc kiểm tra song phương dường như là điều có thể được mở rộng ra cho những hoạt động của một nguyên nhân thần linh – là nguyên nhân có thể ứng dụng mà không làm xáo trộn những năng lực của tự nhiên. Thiên Chúa – Đấng luôn luôn làm việc bằng cách ban cho các tạo vật khả năng tạo ra những gì là mới mẻ – lại còn luôn hướng dẫn bản tính của hiệu quả ấy để nó trở thành một dấu hiệu về dự phóng của Ngài. Như chúng ta đã nêu ra ở phần kết luận chương IV – những hành động ấy của Thiên Chúa sẽ mang nét dạng của cả lời nói cũng như việc làm. Chúng là những biến cố có tính dấu hiệu, có thể nhận thấy qua một tiến trình chú giải có nắm vững ý nghĩa hỗn hợp của rất nhiều những chìa khóa.

Ý tưởng cho rằng Thiên Chúa  mạc khải xuyên qua các biến cố có tính biểu hiệu làm cho người ta lưu ý đến một giáo lý về phép lạ có tính giản đơn hơn, chẳng hạn như giáo lý trong những biên khảo thần học của một thế hệ trước đây. Một phép lạ không cần phải gây ra một sự đình hoãn các qui luật tự nhiên. Như Karl Rahner lưu ý, thiên nhiên tự nó vốn được định đoạt bởi – và được tháp nhập vào – một thứ nguyên nhân siêu việt. Hệt như các qui luật của vật chất vô cơ không cần phải bị đình hoãn để chừa chỗ cho những tiến trình sinh học, cũng thế thiên nhiên không cần phải bị xáo trộn để trở thành sự tự tỏ hiện của Thiên Chúa. Rahner đã viết như sau:

« Cũng vậy, thế giới với nội dung chất thể của nó phải được thấy là ngay tự khởi thủy đã rộng mở cho thực tại tinh thần và đức tin xét như toàn thể hoạt động thuộc cốt lõi sâu xa nhất của nhân linh, và phải được thấy là rộng mở ra cho thực tại Thiên Chúa. Vì thế những chiều kích cao hơn của toàn thể thực tại trở thành tỏ hiện trong những chiều kích thấp hơn của thực tại này nơi việc chuyển hóa chúng, nhưng là bằng một cách thế mà những chiều kích thấp hơn ấy vẫn được bảo tồn trong khi ý nghĩa và bản tính của thực tại cao hơn kia hiển hiện trong chúng.””

Do đó, phương thức biểu hiệu đưa ra những cách trả lời cho một số những chống đối hệ trọng mà mẫu thức lịch sử phải đương đầu. Nó vừa bổ sung cho mẫu thức ấy vừa truy nhận những gì là vững chắc trong đó.

  1. c) Mẫu Thức Kinh Nghiệm

Bây giờ chuyển sang mẫu thức thứ ba, chúng ta sẽ đối chiếu phương thức biểu hiệu và phương thức thần bí. Sự khác nhau giữa hai bên dường như thật rõ ràng. Lý thuyết biểu hiệu chủ trương rằng không có mạc khải bên ngoài những dấu hiệu được tạo ra theo đó mạc khải được thông truyền. Ngược lại, phương thức thần bí khẳng định khả tính của một sự nắm hiểu về Thiên Chúa không qua trung gian nào hoặc nắm hiểu giới siêu việt bằng sự kết hợp tâm linh bên trong. Nếu các biểu hiệu có tầm quan trọng đối với những người thuộc trường phái này thì có thể đấy chỉ là vì chúng dọn đường cho – hay diễn tả – một kinh nghiệm xuất thần tột đỉnh vốn không có nội dung gì khác ngoại trừ sự hiện diện khôn tả.

Lý thuyết thần bí trong hình thức cực đoan nầy có ít người ủng hộ. Truyền thống nổi tiếng về thần bí Kitô giáo, như được đại diện bởi Gioan Thánh giá và Têrêxa Avila, thì rất cẩn trọng trong việc đề cập đến một sự nắm hiểu trực tiếp về Thiên Chúa trong cuộc sống này. Xem ra người ta đã hiểu đúng rằng các vị thánh này khẳng định Thiên Chúa tự tỏ lộ chính Ngài bằng cách đưa ra những dấu chỉ và những hiệu quả của sự hiện diện của Ngài trong linh hồn. Rõ ràng là nhà thần bí có thể được lôi kéo đến với Thiên Chúa trong tình yêu đến nỗi các biểu hiệu về sự hiện diện của Ngài – có thể nói – là tan chảy mất. Người ta có thể không lưu tâm đến chúng, nhưng phải chăng là chúng thật sự không có mặt? Khi các tác giả tu đức đề cập đến việc tiếp xúc và cảm nếm Thiên Chúa trong thâm sâu hay trong chính bản thể của linh hồn, và đề cập đến đức ái vươn đến Thiên Chúa trong chính bản thân Ngài – thì họ hàm ý rằng sự “trực thấu” ấy (immediacy) về Thiên Chúa không phải là không có một hiệu quả có thể nắm hiểu được trên tạo vật. Ngay cả kinh nghiệm thần bí cao nhất, gạt ra ngoài những trung gian thông thường qua các ý niệm và các hình ảnh, vẫn dựa trên những hiệu ứng nội tâm của ân sủng vốn bằng cách thế nào đó đóng vai trò trung gian cho chính cuộc gặp gỡ.

Những tác giả như Rahner, trong thần học mạc khải của mình, đã một cách nghịch lý đề cập đến “sự trực thấu được trung chuyển.” Từ ngữ này diễn tả rất xác đáng tính lưỡng diện của minh nhiên và mặc nhiên, của triển hệ và bất triển hệ, của dữ kiện và chân trời trong bất cứ kinh nghiệm mạc khải nào. Theo Rahner, cái có tính trực tiếp – ấy là sự tự thông truyền của thần linh, ấy là kinh nghiệm về ân sủng. Nhưng sự hiện diện bên trong của Thiên Chúa không thể được hiểu và không thể đạt được ngoại trừ trong mức độ mà nó trở nên được thông truyền, hoặc sự thông truyền, nơi những biểu hiệu thụ tạo. Tuy nhiên, các biểu hiệu khơi gợi lên một ý thức đích thực về chính thần linh – một ý thức luôn luôn vượt trên mọi diễn tả của chúng ta.

Truyền thống thần bí, bằng cách kêu gọi sự chú ý đến những chiều kích bên trong của kinh nghiệm tâm linh, làm hoàn hảo và làm phong phú cho phương thức biểu hiệu về mạc khải. Những người theo phái kinh nghiệm đã đúng khi khẳng quyết rằng mạc khải thiết yếu đem lại một sự kết hiệp thực sự giữa tâm linh con người và Thiên Chúa, Đấng tự trao ban chính Ngài qua ân sủng. Hơn thế nữa, họ cũng đúng khi khẳng định rằng – một cách nào đó – sự kết hiệp này luôn luôn thuộc ý thức. Nhìn nhận những điểm này, giờ đây ta phải khẳng định rằng chính biểu hiệu, trong những chiều kích trọn vẹn của nó, có bao gồm kinh nghiệm về ân sủng; vì kinh nghiệm nầy mở ra chân trời cần thiết cho bất cứ biểu hiệu bên ngoài nào để được biện biệt là một sự truyền đạt của thần linh. Đàng khác, kinh nghiệm về ân sủng không thể được hiểu đúng đắn, hay được thừa nhận đúng sự thực của nó, nếu không có sự giúp đỡ của các biểu hiệu rút ra từ thế giới đã được nhận biết bằng kinh nghiệm giác quan. Nếu không được cụ thể hóa bởi những biểu hiệu như thế, những xuất thần độc đáo của các nhà thần bí sẽ không mạch lạc rõ ràng đủ để đáng gọi là mạc khải. Trong ngữ nghĩa học của Rahner, mạc khải siêu việt và mạc khải phạm trù không phải là hai thực thể biệt phân nhưng là hai chiều kích của một thực thể đơn nhất, phức hợp. Tựa như mô thức và chất thể, hồn và xác, chúng tùy thuộc vào nhau và tác động nhau; chúng chỉ tồn tại trong tổng thể của chúng. Causae ad invicem sunt causae.

Cấu tố thần bí có tầm quan trọng đặc biệt trong việc chỉ ra yếu tố tiêu cực trong mọi đề cương mạc khải. Nhà thần bí, nhận thức Thiên Chúa hiện diện trực tiếp, rất nhạy bén nhận ra sự bất tương ứng của tất cả những hình ảnh và những loại suy thuộc thụ tạo. Ý thức hơn ai hết rằng chúng ta chỉ biết Thiên Chúa như một Đấng vượt ngoài mọi phạm trù, nhà thần bí nêu bật sự kiện rằng chúng ta được nối kết với Ngài trong sự tăm tối tận cùng của đức tin. Các chiều kích thần bí và biểu hiện của cuộc gặp gỡ giữa con người và thần linh có tính bổ sung cho nhau và vẫn đối lập nhau. Trong những câu nói sau đây, Thomas F. O’Meara trình bày cả tính duy nhất và tính khác biệt ấy:

Rõ ràng, kinh nghiệm thần bí là một tiến trình giống như cuộc tiếp xúc có tính mạc khải căn bản của Thiên Chúa đối với mỗi cá nhân… Tuy nhiên, những kinh nghiệm, những sứ điệp và những câu chuyện ấy về kinh nghiệm thần bí trong bóng tối mịt mờ không hướng về việc khách thể hóa; vì kinh nghiệm thần bí đích thực đạt kết điểm không phải ở thông tin mà là ở sự khôn tả. Xét theo quan điểm về tính rõ ràng và tính cộng đoàn thì thần bí thuyết quả là không được nhận thấy có căn tính mạc khải; nhưng xét từ quan điểm về sự sâu sắc thì kinh nghiệm thần bí là một loại kinh nghiệm cơ yếu, chủ quan và có tính mạc khải. Tính cách thông thường và rộng rãi của thần bí thuyết là một kim chỉ nam cho thấy sự hiện diện đầy đủ của ân sủng. Tuy vậy vẫn có những dị biệt: vì sự hiện diện mạc khải của Thiên Chúa trong lịch sử loài người có chiều hướng cụ thể và minh nhiên nhằm để giới thiệu Nước Trời một cách hữu hình khả giác, trong khi trong thần bí thuyết, một tín hữu trưởng thành mở lòng đón nhận một ân sủng đặc biệt dẫn dắt đến bóng tối và sự thinh lặng.””

  1. d) Mẫu Thức Biện Chứng

Đối với các thần học gia biện chứng – mà bây giờ ta đang xét đến – thì mạc khải được ban cho không phải bằng biểu hiệu nhưng là bằng Lời Thiên Chúa. Sốt sắng bảo vệ tính siêu việt thần linh, Barth tỏ ra rất dè dặt về bất cứ những gì dường như gắn kết Thiên Chúa trong những hàm hồ của thiên nhiên và lịch sử, bất cứ những gì có vẻ đưa ra một con đường dẫn con người đến Thiên Chúa, bất cứ những gì – quả thật – tạo cơ hội cho sáng kiến của con người trong việc thiết định mạc khải, hay làm mù mờ tính toàn vẹn của Thánh Kinh, hoặc hàm ngụ bất cứ tính tiếp tục thật sự nào giữa Kitô giáo và các tôn giáo của thế giới. Vì thế theo Barth, mạc khải là Lời của Thiên Chúa, và “chúng ta không có lý do nào để không hiểu ý niệm Lời Thiên Chúa chủ yếu trong ý nghĩa từ ngữ của nó. Lời của Thiên Chúa có nghĩa là Thiên Chúa phát ngôn. Và phát ngôn không phải là một biểu hiệu (như P. Tillich đã nghĩ trong Rel. Verwirkl, 1930, p.48). Lời của Thiên Chúa, trong nghĩa đầy đủ nhất là Đức Giêsu Kitô, Đấng vượt trên thời gian và lịch sử.

Sự lỏng lẻo nói trên của mẫu thức biện chứng, mà tôi đã nhiều lần đề cập đến, chủ yếu xuất phát từ mối quan hệ có tính tranh cãi của nó với chủ nghĩa tôn sùng lý trí của các thế kỷ vừa qua. Trong khi chống lại lời tuyên bố rằng lý trí có thể gắn khớp Thiên Chúa và mạc khải vào trong một hệ thống thuộc vũ trụ, các nhà thần học biện chứng – chịu ảnh hưởng của Kierkegaard – đã thao thao nói đến sự nghịch lý và sự phi lý. Những luận đề tương tự lại tái xuất hiện, trong bối cảnh ít bị tranh cãi hơn, nơi phương thức biểu hiệu. Vì như chúng ta đã ghi nhận, biểu hiệu có những dị điểm siêu vượt mà sự lý luận lòng vòng không thể đạt tới được. Phương thức biểu hiệu, giống như phương thức biện chứng, gần gũi với mầu nhiệm khôn dò khôn thấu. Nó từ chối giảm trừ ý nghĩa và tính khả niệm trong những khuôn khổ hạn hẹp của luận lý thuộc tri thức. Mối quan hệ nền tảng nầy giữa hai phương thức, dầu vậy, vẫn không xóa đi mọi khác biệt.

Viết trong cao trào “Tân Thệ phản duy tân” (như cách nói của Barth) – ta dễ hiểu nỗi sợ của Barth rằng phạm trù biểu hiệu, được áp dụng vào mạc khải, có thể sẽ làm hạ giá sự siêu việt thần linh và làm mù mờ sự độc đáo của mạc khải khách quan của Thiên Chúa nơi Đức Kitô. Luận thuyết của Tillich về biểu hiệu – nói riêng – dường như bị Barth đánh giá là lấy lại quá nhiều của Feuerbach. Nó có thể dễ dàng làm cho người ta nghĩ rằng các biểu hiệu mạc khải – chủ yếu xuất phát từ ý thức con người dưới tác động của những hoàn cảnh lịch sử nhất định – có thể chỉ là những phác họa nhu cầu của con người. Trong khuôn khổ này Lời Thiên Chúa nơi Đức Kitô có thể dễ dàng bị xem như “một dấu hiệu giữa nhiều biểu hiệu khác.” Trong khi cảnh giác về những nguy hiểm này, Barth đã hậu thuẫn cho những người ủng hộ phương thức biểu hiệu sau này, bao gồm nhiều người trong số đó đã được đề cập đến trong chương này – để chống lại bất cứ chủ trương giảm trừ nào theo phái duy tân.

Thần học về Lời Thiên Chúa, như được những người theo Barth trình bày, có nhiều điểm chung với loại phương thức biểu hiệu được đề ra ở đây. Chống lại Chủ Nghĩa Duy Tâm Thuần Túy, cả hai trường phái này đều đồng ý rằng mạc khải, dù bằng Lời hay bằng biểu hiệu, phải là một sự tự thể hiện tự do và đầy yêu thương của Thiên Chúa. Chống lại khuynh hướng thần bí cực đoan, họ đồng ý rằng mạc khải phải được thông truyền bằng những dấu hiệu được ghi nhận trong lịch sử – những dấu hiệu mà trong tác phẩm sau này của ông, Barth mô tả là những cơ cấu bí tích của mạc khải. Chống lại mẫu thức xác định, họ chủ trương rằng sự trung chuyển ấy phải đem người tín hữu vào một cuộc tiếp xúc sống động và riêng tư với thần linh. Cuối cùng, cả hai phương thức đồng ý chống lại chủ nghĩa duy lịch sử – rằng mạc khải không thể được xác định một cách khách quan từ những sự kiện mà khoa lịch sử có thể đạt tới được. Trong tư cách là một cái gì được biện biệt bởi một ý thức thuộc linh, mạc khải không bao giờ thực sự tồn tại bên ngoài đức tin.

Phải chăng phương thức biểu hiệu dẫn đến một giáo lý mạc khải trong đó Đức Kitô không còn có tính qui phạm độc đáo, nhưng bị giảm trừ thành “một biểu hiệu giữa những biểu hiệu khác”? Quả là có một số nhà thần học biểu hiệu đã đi theo hướng này. Đó có phải là đường hướng duy nhất, hay tốt nhất, để phát triển phương thức biểu hiệu hay không – vấn đề sẽ được bàn đến trong chương tới của chúng ta, đề cập đến Kitô học.

Lời Thiên Chúa, như được mô tả bởi các thần học gia biện chứng, có một cơ cấu tương tự với cơ cấu mà chúng ta đã gán cho biểu hiệu. Xét như là sự tự bày tỏ của Thiên Chúa mạc khải – Đấng dùng Lời để nói với thụ tạo, Lời làm việc một cách mầu nhiệm trên ý thức con người sao cho khơi gợi lên nhiều hơn những gì nó có thể diễn tả hay xác định. Nó đi xa hơn chính nó để chỉ cái mầu nhiệm mà nó làm cho trở thành hiện diện. Những hình tượng linh động của người thị kiến, những lời tường thuật sốt bỏng của vị tiên tri, và những tin vui của vị tông đồ đều đầy năng lực nhiệm mầu để – cũng như các biểu hiệu – sản sinh ra sự sống mới mẻ mà họ nói về. Khi những lời được kích khởi ấy đi vào trong một truyền thống ổn định và bắt rễ – có thể nói thế – trong ý thức tập thể của người tin, thì chúng càng trở nên có tính biểu hiệu rõ rệt hơn nữa.

Quả thật lời mạc khải có thể được diễn tả như một biểu hiệu mà do tính chất linh hoạt đa năng của nó, nó dường như thoát khỏi những điều kiện của chất thể. Trong tất cả các biểu hiệu, Lời mạc khải là biểu hiệu có tính tâm linh nhiều nhất và gần gũi nhất với thần linh. Như một số tác giả đã ghi nhận, lời ấy có một khả năng đặc biệt để trình bày những cái mà người ta không thể ghi nhận được trừ phi bằng cách phủ định. Kinh nghiệm hầu như có tính thần bí về thần linh, như đã được ghi nhận, cho thấy sự bất tương ứng của tất cả những loại suy thuộc thụ tạo và do đó đòi phải tuyên bố bằng thể phủ định. Chẳng hạn, hãy xem xét cách diễn tả của Phaolô: “Điều không có mắt nào thấy, không có tai nào nghe, không có lòng nào nghĩ được, điều mà Thiên Chúa đã sắp sẵn cho những ai yêu mến Ngài” (1Cr 2, 9; cf. Is 64, 4). Có thể nói hình tượng ấy được đẩy lên tới một khả năng cao hơn nhờ phủ định như vậy, nó cho thấy sự vượt trội của ý nghĩa so với tất cả những gì có thể được nói một cách thiết định.

Lời ấy, xét như là dấu hiệu chỉ rõ ý nghĩa, là một bổ sung cần thiết cho mạc khải nơi bất kỳ loại biểu hiệu nào khác. Tính biểu hiệu rõ nét hơn của thiên nhiên, của hành động hay của những gì nhân tạo – dù có tiềm năng thế nào đi nữa – cũng quá hàm hồ không thể làm trung gian đơn nhất của tôn giáo mạc khải. Biểu hiệu chỉ trở thành mạc khải khi được diễn dịch, và sự diễn dịch không bao giờ xảy ra nếu không có yếu tố ngôn ngữ. Hơn nữa, đối với mạc khải công, phải có những lời nói bên ngoài – có thể được nghe hay được thấy. Những lời nói minh thị như thế thiết yếu có tính biểu hiệu, vì nếu không thì chúng không thể góp phần cho một cuộc kết hiệp có sức cứu độ với thần linh. Tôn giáo mạc khải không chỉ đón nhận những mẫu ngôn ngữ mà nó tìm thấy. Đúng hơn, một cách sáng tạo, nó làm phong phú và làm mới lại những ngôn từ mà nó đón nhận; nó hình thành nên những ẩn dụ và do đó tạo nên tính biểu hiệu mới.

  1. e) Mẫu Thức Ý Thức Mới

Cuối cùng chúng ta có thể nói vắn tắt về mối quan hệ giữa phương thức biểu hiệu về mạc khải và mẫu thức thứ năm của thần học mạc khải. Nói chung, có thể thấy rằng có một sự tương ứng mật thiết. Những người theo mẫu thức “ý thức” thường xem sự truyền đạt bằng biểu hiệu theo hình thức này hay hình thức khác (hình ảnh, ẩn dụ, dụ ngôn, chuyện kể v.v…) như là nơi chuyên chở chủ yếu nhất của mạc khải.

Người ta sẽ dễ dàng chấn nhận rằng phương thức biểu hiệu bảo vệ những giá trị rõ ràng của mẫu thức thứ năm. Vì như chúng ta đã thấy, biểu hiệu kêu mời sự tham dự; một mạc khải được thấm nhập bằng biểu hiệu sẽ không để cho người đón nhận ở trong tình trạng thụ động, nhưng sẽ hướng đến việc tạo ra một hoạt động tâm linh ở mức độ cao. Tính linh động của biểu hiệu làm cho nó có một khả năng để nói với người ta trong những hoàn cảnh văn hóa xã hội khác nhau và để đảm bảo rằng tính mạc khải không bị mất đi. Vì có thể có một mức cân bằng hay có tính bổ sung giữa những hệ thống biểu hiệu khác nhau, phương thức truyền đạt bằng biểu hiệu có thể thuận lợi cho cuộc đối thoại giữa các niềm tin khác nhau. Trong tất cả những phương diện này phương thức biểu hiệu hậu thuẫn cho các giá trị đặc sắc riêng của mẫu thức ý thức.

Chính vì lý do nầy mà người ta phải nghiêm chỉnh đặt vấn đề phải chăng phương thức biểu hiệu có thể vượt qua được những điểm yếu đã được ghi nhận trong mẫu thức thứ năm. Phương thức tiếp cận mạc khải bằng biểu hiệu thường được nghĩ là hàm chứa tính chủ quan, tính tương đối và một chủ nghĩa nhân bản có tính giản lược. Những phê phán ấy sẽ đúng nếu – như người ta thường nghĩ – các biểu hiệu chỉ phản ảnh những cảm tính nhất thời của chủ thể. Nhưng nếu như những biện luận của chương nầy là đúng, thì biểu hiệu có thể có một sự hàm súc khách quan, những đòi hỏi khẩn thiết chủ thể phải tìm kiếm ý nghĩa của nó xét như là một chìa khóa mở ra bản tính của thực tại. Những biểu hiệu tôn giáo tự nhận nền tảng của mình đặt trên những cơ cấu thường hằng của hữu thể. Hơn thế nữa, tính biểu hiệu lịch sử của lịch sử Thánh Kinh cho thấy những hành động yêu thương kỳ diệu mà qua đó Thiên Chúa đã chuyển hóa một cách đầy hiệu quả những khả năng hiện sinh trong thế giới. Những biểu hiệu nầy không lụy thuộc vào sự thay đổi độc đoán và sự diễn dịch lại. Nhóm biểu hiệu được truyền tải trong truyền thống Kitô giáo đặt một qui phạm cho những thành viên mới của Giáo Hội khi họ được dẫn vào thế giới ý nghĩa mà các biểu hiệu ấy nhắm đến. Dầu vậy, tín lý có thể đem lại sự ổn định và bổ sung khả năng cho tính biểu hiệu của bài giảng đạo khai tâm. Thế thượng phong của biểu hiệu không biện minh cho bất cứ chủ nghĩa giản lược có tính biểu hiệu nào có thể ngáng trở những trình bày có tính suy tư hơn của giáo lý và của thần học Giáo Hội.

Chúng ta đã khẳng quyết rằng những biểu hiệu của mạc khải Kitô giáo thì không phải là con phỗng muốn kéo sao cũng được. Song chúng cũng cho phép có một phạm vi đủ rộng để diễn dịch và áp dụng, và chúng cũng được bồi bổ và được phong phú hóa bởi những sự tái tạo bối cảnh liên tiếp nhau. Những biểu hiệu có tính chủ yếu Thánh Kinh được chuyển tải trong bối cảnh của những biểu hiệu thứ yếu dễ thay đổi, chẳng hạn những biểu hiệu được dùng trong nghệ thuật và phụng vụ Kitô giáo. Những biểu hiệu thứ yếu này, khi chúng không còn tạo ra ấn tượng được nhắm trước, có thể được thay đổi bởi các biểu hiệu khác – được sản sinh do những tưởng tượng tôn giáo dựa theo ấn tượng của những biểu hiệu cốt lõi của đức tin.

Sự chống đối nổi lên rằng nếu những biểu hiệu tượng trưng cho một cuộc đột nhập vào một bình diện ý thức mới, thì mọi sự tiến bộ của ý thức đều đòi phải có một khung biểu hiệu mới. Kết quả của những sự thay đổi liên tiếp là chính sự đồng nhất của đức tin Kitô giáo sẽ có lúc biến mất. Do vậy Kitô giáo hẳn là có sự thống nhất về một chuyển biến không ngừng dao động hơn là sự thống nhất về một đức tin đơn dạng, bất biến. Có thể một lúc nào đó Kitô giáo sẽ trở thành lỗi thời và bị thay thế bởi một hậu Kitô giáo, hoặc hữu thần hoặc vô thần tùy đó. Theo quan điểm của một số người, nhân bản sẽ có thể đăng đàn, bỏ lại đằng sau tính biểu hiệu của các tôn giáo truyền thống.

Tuy nhiên, giả thuyết nầy không tự nó xác thực. Ở đây chúng ta không thể gạt bỏ cái khả năng rằng tôn giáo có thể là một nét thường xuyên của thân phận con người và rằng lịch sử con người và vũ trụ có thể có một nguồn gốc duy nhất và một mục tiêu duy nhất. Nếu vậy, có thể có một biểu hiệu trọng tâm duy nhất độc quyền truyền thông ý nghĩa đích thực của hiện sinh và của đời sống con người. Để tìm hiểu khả năng nầy ta sẽ phải xem xét biểu hiệu Đức Giêsu là Đấng Kitô.

Lm. Lê Công Đức dịch từ

nguyên tác Models Of Revelation

của Avery Dulles, S.J.

do nhà Image Books – New York xuất bản, 1985.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s