So sánh các mẫu thức (8)

VRNs (12.04.2015) – Sài Gòn – Điểm Tham Chiếu Chung

Từ những mẫu thức được xem xét trên đây, người ta có thể rút ra được những định nghĩa khác nhau và tranh chấp nhau về mạc khải, như  năm định nghĩa sau đây:

– Mạc khải là giáo lý có thẩm quyền thần linh được trình bày một cách vô ngộ như là lời của Thiên Chúa do Thánh Kinh và do giáo huấn chính thức của Giáo Hội.

– Mạc khải là sự biểu lộ của quyền năng cứu độ của Thiên Chúa bằng các hành động vĩ đại của Ngài trong lịch sử.

– Mạc khải là sự tự biểu lộ của Thiên Chúa bằng sự hiện diện sâu xa của Ngài trong sâu thẳm tinh thần con người.

– Mạc khải là lời ngỏ của Thiên Chúa cho những ai mà Ngài gặp gỡ bằng lời của Ngài trong Thánh Kinh và trong lời rao giảng Kitô giáo.

– Mạc khải là một cuộc đột phá tới một trình độ cao hơn của ý thức khi nhân tính được đẩy tới một sự tham dự đầy đủ hơn trong công cuộc sáng tạo thần linh.

Sự khác biệt trong những quan niệm về mạc khải được phản ảnh trong những định nghĩa trên đặt ra một vấn đề. Phải chăng tất cả những quan niệm ấy đều thực sự tham chiếu đến cùng một thực tại? Ở đây có vẻ như ngôn ngữ đã làm lung lạc các nhà thần học. Hạn từ “mạc khải” rất có thể hóa nên dị nghĩa. Nếu thế thì quả là công cốc khi đặt câu hỏi mạc khải thực sự là gì. Hết thảy những mẫu thức nói trên đều có thể đúng theo ý nghĩa rằng chúng diễn tả những thực tại mà trong một số truyền thống thần học được mệnh danh là “mạc khải.” Những cuộc tranh cãi về bản chất của mạc khải có thể được thấy là sự đôi co dằng dai vô nghĩa về những ngôn từ.

Tuy nhiên, giải quyết đơn giản như vậy là đã không lưu tâm tới sự kiện rằng các phần tử trung kiên với những mẫu thức khác nhau ấy rất xác tín rằng mẫu thức của mình là mẫu thức đúng. Họ đã quen với suy nghĩ rằng những mẫu thức đối chọi với mình là sai lạc đối với thực tại Kitô giáo – và họ kịch liệt chống lại chúng. Những vấn đề từ ngữ liên hệ mật thiết với những vấn đề về chân lý. Những ngôn ngữ khác nhau – như Michael Polanyi cho thấy – biểu trưng cho những kết luận khác nhau; chúng mang những ý niệm khác nhau, diễn tả những quyết đoán đối lập nhau về sự vật. Có thể lấy ví dụ của Polanyi: việc xếp loại một con chim lạ vào loại chim cú hơn là vào loại chim sẻ đòi người ta phải nói lên cú là gì và sẻ là gì – mà đây là những tuyên bố có thể hoặc đúng hoặc sai, tùy thuộc vào sự gán định ngữ nghĩa đúng hay không đúng. Cũng vậy, việc gọi một ý tưởng, một kinh nghiệm hay biến cố được ban cho là “mạc khải” chính là việc nêu lên một khẳng định về chủng loại thực sự.

Làm thế nào mà những Kitô hữu cùng bám víu vào một đức tin lại có thể có những quan niệm khác nhau về mạc khải và tranh luận nhau ra trò về những dị biệt ấy? Ngoài ý nghĩa chính thức hay có tính qui ước của chúng, các danh từ chung còn qui chiếu đến những thực tại rất phức hợp – và không phải tất cả những thực tại này đều rõ ràng và đều nhất tề hiện diện trong ý thức người ta. Khi người ta dùng những hạn từ chung chung để chỉ những giá trị nhân bản chủ yếu – như sự thật, công bằng, can đảm v.v… người ta gợi ra cả một kho vô tận những hàm chỉ kéo theo vốn đã được hiểu bởi những kẻ đã dùng danh từ đó. Trong quan điểm về kho tri thức mặc nhiên này, Socrates đã có quyền phản kháng Thrasymachus – người đã định nghĩa công bằng là cái gì có lợi cho kẻ mạnh. Để thiết lập hay để tán thành một định nghĩa người ta phải tập chú không chỉ vào hạn từ đang được định nghĩa mà còn vào chính thực tại mà hạn từ ấy qui chiếu đến. Polanyi vạch cho thấy rằng người ta có thể phá hủy ý nghĩa của hạn từ nếu chỉ tập trung về nó. Để nghiên cứu cách dùng chính xác của các hạn từ, chúng ta phải hiểu một trật cả hạn từ lẫn sự vật liên hệ. Kết quả của cuộc khảo sát này sẽ vừa là một sự nhận hiểu đúng đắn hơn về thực tại vừa là một cách dùng hạn từ chuẩn xác và chắn chắn hơn.

Trong tư cách là một hạn từ có ý nghĩa tôn giáo quan trọng trong các truyền thống do thái giáo và Kitô giáo, mạc khải không phải chịu sự định nghĩa chuyên chế hơn so với công bằng. Công bằng là một hạn từ cần phải được hiểu biết và được chấp nhận nếu người ta muốn có một xã hội tốt đẹp. Trong bối cảnh tôn giáo, có thể nói tương tự như thế về mạc khải. Gắn chặt với cách hiểu theo Thánh Kinh và theo Kitô giáo về thực tại, các Kitô hữu vô hình chung dính chặt với một ý niệm về mạc khải trong đó nói lên được đúng dắn những gì mà hạn từ này gợi ra. Vì một số tính chất của mạc khải không thể được khuôn định rõ rệt cho nên giữa các Kitô hữu có thể có sự bất đồng về khái niệm này; nhưng vì cũng chia sẻ nguồn ý nghĩa mặc nhiên vốn đã sản sinh ra ý niệm ấy nên các Kitô hữu có thể tích cực bàn luận xem những định nghĩa nào là chuẩn xác. Trong bất kỳ cuộc thảo luận nào như htế, người ta phải tập chú đến những thực tại mà họ tin tưởng – ngay cả dù những thực tại này không được họ tri thức với sự sáng sủa đầy đủ của trí tuệ. Những định nghĩa này sẽ nêu bật được những gì mà người ta hiểu một cách tiềm tàng trong đức tin, hoặc ít nhất những gì đã được chứng nghiệm trong các nguồn Kitô giáo.

Dù có rất nhiều những dị biệt như đã nói trên, những ý niệm về mạc khải hàm chứa trong năm mẫu thức không phải hoàn toàn xa lạ nhau. Một số những tính chất của mạc khải được khuôn định hẳn hoi, và do đó đại đa số các thần học gia đứng về một trong những mẫu thức này ắt hẳn sẽ nhất trí với những tuyên bố như:

– Mạc khải là hoạt động tự do của Thiên Chúa hướng về những thụ tạo tinh thần của Ngài. Trong mạc khải, Thiên Chúa ban một ân huệ cao vượt trên cả ân huệ căn bản là sự sáng tạo, và kiện toàn ân huệ sáng tạo.

– Qua mạc khải, Thiên Chúa chuyển thông sự thật về chính Ngài và về loài người xét trong tương quan với Ngài. Chân lý mạc khải – ít nhất là một phần – vượt quá khả năng khám phá của trí khôn con người theo sức tự nhiên của nó.

– Chân lý mạc khải rất quan trọng về mặt tinh thần. Nó có giá trị cứu độ (nghĩa là, có giá trị đối với sự thiện ích trọn vẹn và cuối cùng của cá nhân và của cộng đoàn). Đa số người ta xem mạc khải là cái gì thiết yếu cho sự cứu độ.

– Mạc khải, đối với các Kitô hữu, tiến đến chung cuộc dứt khoát nơi Đức Giêsu, Lời Nhập Thể của Thiên Chúa.

– Đối với Kitô hữu, phương thế thông thường để tiếp cận mạc khải là xuyên qua Giáo Hội – cơ quan đọc và loan báo sứ điệp Thánh Kinh.

– Mạc khải đòi hỏi một sự đón nhận tích cực về phía những người mà nó được gửi đến. Sự đón nhận hay đáp trả này thường được gói ghém trong hạn từ “đức tin.””

Tổng hợp những điểm nhất trí này, người ta có thể đề ra một định nghĩa chung khả dĩ được chấp nhận đối với nhiều người thuộc mỗi mẫu thức: Mạc khải là hành động tự do của Thiên Chúa qua đó Ngài truyền đạt chân lý cứu độ cho các trí khôn thụ tạo, đặc biệt qua Đức Kitô như được Giáo Hội tông truyền nhìn nhận và được Thánh Kinh cũng như cộng đoàn kế tục những người tin chứng nghiệm.

15040400

Những Dị Biệt

Sánh với điểm nhất trí chủ yếu này, những điểm khác nhau được giới hạn một cách tương đối. Chúng liên quan nhiều đến cách hiểu thần học về mạc khải hơn là đến ý niệm nền tảng ấy. Trong những tổng lược ở cuối mỗi trình bày, chúng ta đã ghi nhận những điểm dị biệt giữa năm lý thuyết xét về hình thức, nội dung, năng lực cứu độ của mạc khải và sự đáp trả đúng đắn đối với mạc khải.

Về hình thức hay quá trình qua đó Thiên Chúa thông truyền mạc khải, những điểm khác nhau có thể được tổng kết như sau:

Theo mẫu thức thứ nhất, mạc khải mang hình thức của giáo lý có thẩm quyền thần linh, được đóng ấn bởi năng lực tiên tri và phép lạ. Theo mẫu thức thứ hai, mạc khải lấy hình thức những hành động lịch sử có thể được dò tìm – ít nhất là một phần – bằng khảo cứu lịch sử. Đối với những ủng hộ viên của mẫu thức thứ ba, mạc khải đến từ một kinh nghiệm trực tiếp nội tâm về sự tự thông truyền của Thiên Chúa. Trong mẫu thức thứ tư, mạc khải được hiểu là lấy hình thức của Lời Thiên Chúa xuyên qua Đức Giêsu Kitô và xuyên qua lời nói (của con người có thể sai lầm) mang chứng từ cho Người. Theo mẫu thức thứ năm, Thiên Chúa mạc khải bằng cách nâng ý thức của con người lên xuyên qua một sự lôi cuốn bên trong và xuyên qua những kiểu thức bên ngoài.

Vì hình thức và nội dung của mạc khải có quan hệ hỗ tương với nhau cho nên không đáng ngạc nhiên khi nội dung của mạc khải được hiểu một cách khác nhau trong mỗi mẫu thức. Với mẫu thức thứ nhất, mạc khải bao hàm những chân lý siêu lý liên quan đến bản tính nội tại của Thiên Chúa, ý muốn của Ngài và chương trình cứu độ của Ngài. Mẫu thức thứ hai hiểu nội dung của mạc khải là tổng hợp những hành động thực sự của Thiên Chúa trong lịch sử – những hành động gián tiếp cho thấy những tâm tình và những thuộc tính tương đối của Thiên Chúa như yêu thương, đại lượng, quyền năng v.v… Theo mẫu thức thứ ba, nội dung trực tiếp của mạc khải là chính Thiên Chúa, Đấng tự thông truyền mình cho linh hồn người ta như là một cái gì hoàn toàn siêu việt và khôn tả. Mẫu thức thứ tư nhất trí với mẫu thức thứ ba về tính khôn tả của nội dung mạc khải, nhưng chủ trương rằng Thiên Chúa siêu vượt trên kinh nghiệm trực tiếp. Lời Thiên Chúa mạc khải Ngài là Đấng đầy quyền năng và người ta không thể tới gần được; Lời ấy cũng mạc khải cho thấy thân phận hoàn toàn tội lỗi của tất cả những ai muốn tìm cách tiếp cận Thiên Chúa hay nắm hiểu Ngài bằng những phương thế thuần túy nhân loại. Cuối cùng, mẫu thức năm không nêu nội dung chuyên biệt cho mạc khải. Nội dung mạc khải xem ra được hiểu là bất cứ những gì báo trước về chung cục Nước Trời được biện biệt rõ nhờ nhãn giới mới mà người ta có được do trình độ tự thức cao hơn trong đó mạc khải chủ yếu bao hàm.

Điểm dị biệt chủ chốt thứ ba liên hệ đến việc nối kết giữa mạc khải và ơn cứu độ. Người ta không tranh cãi về sự kiện có một nối kết như thế, nhưng là tranh cãi về bản chất của sự nối kết ấy.

Quan điểm của mẫu thức thứ nhất cho mạc khải có sức cứu độ bởi vì nó cho người ta biết về những ân phúc bởi trời và về phương thế để người ta thừa hưởng những ân phúc ấy. Đối với phái tân kinh viện, mạc khải nói về Thiên Chúa – hiểu như kết điểm siêu nhiên của con người – và nói về những phương tiện siêu nhiên để người ta có thể đạt đến kết điểm ấy. Theo cách hiểu của mẫu thức thứ hai thì mạc khải gắn liền với ơn cứu độ bởi vì nó khơi dậy lòng tín thác vào quyền năng và sự tốt lành của Thiên Chúa, Đấng đến để phù giúp những ai trông cậy vào Ngài. Còn theo nhãn giới của mẫu thức thứ ba thì mạc khải và ơn cứu độ được thấy là trùng hợp nhau. Trong mức độ mà người ta cảm nghiệm thấy sự hiện diện yêu thương của Thiên Chúa, người ta đã nếm cảm được sự sống vĩnh cửu rồi. Theo mẫu thức thứ tư, hiệu năng cứu độ của mạc khải thiết yếu gắn liền với sự tàn phá của lòng tự tín của con người. Qua việc thông đạt sự xét xử và sự thứ tha của Thiên Chúa (2 phương diện xoắn xít một cách biện chứng của cùng một sự phán xét), mạc khải hóa giải tội lỗi của thụ tạo trước mặt Thiên Chúa. Trong mẫu thức thứ năm, mạc khải được thấy là hiệu nghiệm trong mức độ mà nó lôi kéo những người tiếp nhận nó vào công cuộc xây dựng Nước Thiên Chúa, trong đó thế giới cũ được mang đến sự sung mãn siêu việt – và do đó, được “cứu độ.””

Bởi vì hình thức và nội dung của mạc khải khác nhau tùy theo các mẫu thức khác nhau nên thái độ đáp trả đối với mạc khải cũng được hiểu khác nhau nơi các mẫu thức. Những người ủng hộ của cả năm mẫu thức đều đồng ý rằng mạc khải mời gọi đức tin, nhưng họ hiểu một cách khác nhau về đức tin và về mối tương quan của đức tin với mạc khải. Trong mẫu thức thứ nhất, đức tin là một sự chấp nhận đối với những chân lý mạc khải đã được thiết định đầy đủ và được chất chứa trong Lời Thiên Chúa được ghi lại hoặc được thông truyền. Lý do của đức tin là quyền bính của vị thầy thần linh, một vị thầy không thể phỉnh lừa hay bị phỉnh lừa. Trong mẫu thức thứ hai, đức tin được hiểu là sự tín thác vào Thiên Chúa là Chúa của lịch sử, Đấng vẫn không ngừng minh chứng sự thiện hảo và lòng trung tín của Ngài đối với những ai trông cậy vào Ngài. Mẫu thức thứ ba thì cho rằng đức tin được hiểu đúng hơn trong ý nghĩa về những tâm tình sùng mộ (Schleiermacher), về “lời cầu nguyện của trái tim” (Sabatier) hoặc một thái độ đáp trả đầy yêu thương và sùng kính nào đó. Trong mẫu thức thứ tư, đức tin mang ý nghĩa một sự chấp nhận có tính riêng tư về thân phận của một tội nhân được tha thứ của mình nhờ hồng ân của Thiên Chúa nơi Đức Giêsu Kitô. Cuối cùng, mẫu thức thứ năm hiểu đức tin như một sự dấn thân và tham dự vào công cuộc qua đó Thánh Linh không ngừng dẫn dắt thế giới tiến về sự sung mãn cuối cùng và chóp đỉnh của nó.

Trong ba mẫu thức đầu, mạc khải được thấy là quan yếu hơn đức tin. Trong mẫu thức thứ tư, thế ưu tiên của mạc khải vẫn còn được nhấn mạnh, nhưng mạc khải được hiểu như một cái gì đó có bao hàm sự đáp trả của đức tin. Trong mẫu thức thứ năm, như ta đã thấy, vai trò chủ động của chủ thể tin được nhấn mạnh đến nỗi mạc khải có khuynh hướng trở thành tùy phụ đối với đức tin – cái chính thức thiết định mạc khải bằng việc khẳng quyết nó.

Những Tương Phản Rõ Rệt

Những đối chiếu trên đây rõ ràng không trực tiếp cho thấy là các mẫu thức có tính bổ sung cho nhau hay là loại trừ nhau. Trong khi người ta có thể bị cám dỗ để chủ trương rằng những mẫu thức ấy hoàn toàn có thể cùng tồn tại với nhau, ít nhất là trong những khẳng định tích cực của nó, thì đàng khác, có những vấn đề mà những người thuộc các mẫu thức khác nhau thường đưa ra những câu trả lời đối lập nhau. Có thể đưa ra 5 ví dụ sau:

1/ Mạc khải có cho biết những dữ kiện có thực mà không có mạc khải thì người ta không thể biết? Những người theo hai mẫu thức đầu chủ trương rằng mạc khải gắn liền không thể tách rời với tri thức về những tuyên bố hay những hoạt động đặc biệt xuất phát từ cơ sở thần linh. Những người thuộc ba mẫu thức sau thì chung chung khẳng định rằng mạc khải không thông tin sự kiện. Họ cho rằng mạc khải và tri thức thế tục nằm trong những chiều kích khác nhau, và do đó không củng cố cũng chẳng đối kháng nhau.

2/ Mạc khải có trao cho người ta chứng cứ không thể sai lầm không? Câu trả lời dứt khoát rõ ràng của mẫu thức thứ nhất là có. Những mẫu thức khác thì không chuộng cái ý tưởng về những tuyên bố bất khả ngộ, nhưng mỗi mẫu thức theo cách của mình trình bày sự chắc chắn của mạc khải. Mẫu thức thứ hai hiểu rằng những sự can thiệp của Thiên Chúa trong lịch sử rõ ràng là điều có thể nhận hiểu được, mẫu thức thứ ba cho rằng kinh nghiệm về Thiên Chúa tự chứng nghiệm cho nó, mẫu thức thứ tư cho rằng Thánh Thần đem lại sự đảm bảo hoàn toàn cho Lời Thiên Chúa, còn theo mẫu thức thứ năm, Thánh Thần ươm trong người tín hữu một bản năng có tính chắn chắn để biện biệt chiều hướng trong đó những mục đích của Thiên Chúa đang thực hiện.

3/ Chân lý mạc khải có thể hướng dẫn lý trí không? Mẫu thức thứ nhất đưa ra một câu trả lời khẳng định – cụ thể là cho rằng các chứng cứ từ phép lạ và năng lực tiên tri làm chứng một cách ngoại tại về sự đáng tin của các sứ giả thần linh, và do đó gián tiếp xác minh sứ điệp trước lá chắn lý trí. Mẫu thức hai đưa ra hai câu trả lời khác nhau. Trong hình thức “lịch sử ơn cứu độ” của nó, mẫu thức này tránh khỏi khoa minh giáo và cậy dựa vào ân huệ đức tin thuần túy, đức tin vốn được xem là cao vượt trên nhưng không mâu thuẫn với lý trí. Pannenberg và trường phái của ông, đàng khác, chủ trương rằng trong khi có tính thiết yếu gián tiếp, mạc khải có thể hướng dẫn lý trí lịch sử. Mẫu thức ba phủ nhận rằng mạc khải – hiểu như một kinh nghiệm xuất thần – không thể được đạt đến bằng sự xoay xở của lý trí. Theo mẫu thức thứ tư, mạc khải hoàn toàn có tính nghịch lý, gây xì căng đan và bị dị ứng đối với lý trí tự nhiên. Về phần mình, những trạng sư của mẫu thức năm khẳng định một cách cá biệt hẳn rằng mạc khải được nhận hiểu bởi một lý trí đã được biến đổi hay đã “thuộc thần quyền.””

4/ Phải chăng mạc khải đã đạt đến trọn vẹn trong thời đại các Tông Đồ? Mẫu thức thứ nhất và thứ hai chủ trương rằng mạc khải đã đạt đến tột đỉnh với Đức Kitô và các Tông Đồ, và người ta không thể thêm gì vào kho tàng ấy ngoại trừ việc diễn dịch và minh giải nó. Theo mẫu thức ba, mọi thời đại đều ở gần Thiên Chúa mạc khải như nhau, Thiên Chúa thông truyền chính Ngài một cách mới mẻ cho mọi người tiếp nhận. Mẫu thức thứ tư nhìn biến cố mạc khải như đang xảy ra ở đây và bây giờ, nhưng sứ điệp Tin mừng thì được thấy là không thay đổi. Theo mẫu thức năm, mạc khải tiếp tục và thậm chí gia tăng khi thế giới tiến gần hơn đến sự hoàn tất chung cục của nó.

5/ Mạc khải có được ban cho bên ngoài các tôn giáo thuộc Thánh Kinh không? Về vấn đề này, mẫu thức thứ nhất và thứ hai chung chung là trả lời “không,” dù nhiều người thuộc hai mẫu thức ấy có đề cập đến một mạc khải “thông thường” hay “tự nhiên” có vai trò sửa soạn cho mạc khải “đặc biệt” hay “siêu nhiên” của Cựu và Tân Ước. Mẫu thức ba chủ trương rằng mọi dân tộc đều có khả năng tiếp cận mạc khải trên cùng một cơ sở như người Do Thái giáo và người Kitô giáo. Mẫu thức thứ tư phi bác cả cái ý niệm về mạc khải thông thờng hay tự nhiên, nhất mực rằng duy chỉ Đức Kitô là Lời mạc khải của Thiên Chúa. Còn mẫu thức năm chủ trương rằng mọi người đều được tác động bởi ơn mạc khải, vì Thiên Chúa làm việc khắp mọi nơi, trong những mức độ khác nhau, trong lịch sử thế giới.

Năm vấn đề nêu trên hẳn đã tạm đủ để minh họa sự khó khăn của việc đồng thời chấp nhận những mẫu thức khác nhau. Sự khó khăn sẽ rõ nét hơn nữa nếu người ta xem xét thêm một số vấn đề như: Phải chăng mạc khải rõ ràng (mẫu thức 1, 2, 3), nghịch lý (mẫu thức 4) hay mập mờ (mẫu thức 5)? Mạc khải trực tiếp (mẫu thức 1 và 3) hay gián tiếp (mẫu thức 2, 4 và 5). Mạc khải được chuyển thẳng (mẫu thức 3) hay được chuyển qua trung gian (các mẫu thức khác – tuy nhiên, các mẫu thức này lại khác nhau về quá trình trung chuyển)?

Giá Trị và Vô Giá Trị

Bảy tiêu chuẩn trình bày ở chương I gợi sự chú ý của người ta đến các giá trị tích cực được tìm thấy trong bất cứ thần học mạc khải nào. Một số giá trị này được tìm thấy nổi bật đặc biệt trong mẫu thức này hoặc mẫu thức khác. Chẳng hạn:

Mẫu thức thứ nhất bảo vệ ý nghĩa và thẩm quyền của mạc khải. Mạc khải được thấy là nơi cung cấp  những giải đáp chắc chắn, rõ ràng cho những vấn đề sâu xa và thường hằng liên hệ đến Thiên Chúa, con người và vũ trụ – và vì thế mạc khải cung ứng sự hướng dẫn chắc chắn cho người ta giữa những rối rắm của cuộc sống.

Mẫu thức hai tỏ ra xuất sắc trong việc bênh vực duy thực tính của mạc khải. Không thỏa mãn với một dạng thức duy chỉ có tính ngôn ngữ hay nội thuộc về mạc khải, mẫu thức này nhìn thấy những bày tỏ của tình yêu và quyền năng Thiên Chúa trong những hành động lịch sử như biến cố xuất hành – và nhất là với các Kitô hữu thì đó là biến cố Đức Giêsu Kitô. Trong những biến cố như vậy, phong phú hơn tất cả những gì trình bày về chúng, Thiên Chúa bằng cách thực hiện những dấu hiệu đã gợi ra cho thấy ý muốn và những dự phóng của Ngài.

Mẫu thức ba có giá trị ở chỗ xác quyết về tính cách trực tiếp của mạc khải và xác quyết sự thực rằng nội dung đích thực của mạc khải là chính Thiên Chúa đúng hơn là bất cứ lời lẽ hay ý niệm nào về Ngài. Mẫu thức này bảo chúng ta rằng mạc khải không bao giờ có thể đơn giản chỉ là một tường thuật về những gì đã được nghe và trông thấy; mạc khải phải chứa đựng yếu tố trực tiếp giữa người tin và Thiên Chúa.

Mẫu thức thứ tư nhắc nhở người ta về khoảng cách vô cùng giữa Thiên Chúa và những thụ tạo tội lỗi như bản thân chúng ta. Mẫu thức này thúc đẩy lòng tôn kính và biết ơn sâu xa đối với Thiên Chúa Đấng tha thứ khi xét xử chúng ta. Trong khi can ngăn chúng ta đừng cố gắng kiểu Prométhé để đoạt lấy từ Thiên Chúa những điều bí nhiệm của Ngài, mẫu thức này khuyến khích chúng ta khiêm tốn trông cậy vào Lời quyền năng và cứu chuộc của Thiên Chúa.

Mẫu thức năm nhấn mạnh đến ý nghĩa của mạc khải đối với công cuộc của con người. Mẫu thức này thúc đẩy người ta dấn thân cho hoà bình, công lý và cho tất cả những gì có thể làm cho con người tham dự đầy đủ hơn vào ân sủng Nước Thiên Chúa.

Tương ứng với những ưu điểm này, có những khuyết điểm đặc thù trong mỗi mẫu thức xét riêng. Mẫu thức thứ nhất xét đoán ý nghĩa một cách quá hẹp hòi chỉ như một giáo huấn xác định rõ ràng. Ý nghĩa đó quá độc đoán và ngoại thuộc, vì nó không bảo đảm rằng nội dung của mạc khải hướng đến nhu cầu hay khát vọng của con người – hoặc nó cũng không bảo đảm rằng nó phù hợp với trật tự của thực tại như người ta nghiệm thấy thường tình.

Mẫu thức thứ hai làm bật lên lồ lộ vấn nạn rằng làm thế nào tri thức lịch sử – gắn liền với những hiện tượng ngẫu nhiên – có thể khám phá ra sự hiện diện của thần linh? Nó thường không lưu ý mấy tới những dữ kiện giữ vai trò  kiểm soát sự chọn lọc và chú giải những biến cố quá khứ nơi các tác giả Thánh Kinh hay nơi Giáo Hội.

Mẫu thức thứ ba nêu lên, và có lẽ không giải quyết nổi,vấn đề rằng ý thức con người có thể trực tiếp nắm hiểu Thiên Chúa là Đấng siêu việt và phi khách quan hay không. Nếu như có thể nắm hiểu như thế thì dường như việc nắm hiểu đó không thể truyền đạt được và do đó không thể chấp nhận Giáo Hội hay giáo huấn của Giáo Hội.

Trong mẫu thức thứ tư, sự tập trung gần như độc tôn vào mặt phủ định của biện chứng làm nổi lên một vấn đề nghiêm trọng liên quan đến tính nhất quán. Làm thế nào sự đụng độ của những tuyên bố mâu thuẫn nhau lại có thể xảy ra trong một sứ điệp khả niệm và khả tín?

Mẫu thức năm dường như đặc biệt bị đương đầu với thuyết tương đối. Mẫu thức này không giải thích được làm sao một sự đột biến xảy ra tại một điểm nhất định nào đó trong cuộc tiến hóa của ý thức lại có thể giữ được sự vững chắc của nó cho những thời gian và nơi chốn khác.

Làm thế nào mạc khải trở nên yếu tố thiết định cho một cộng đoàn thường hằng, xuyên văn hóa, gắn chặt với các sách Thánh Kinh và các tín điều xác định?

Tham chiếu đặc biệt hơn tới bảy tiêu chuẩn trên kia; bây giờ chúng ta có thể nhìn thấy rằng các mẫu thức khác nhau có những điểm mạnh và điểm yếu khác nhau. Xét theo sự trung thành với Thánh Kinh (tiêu chuẩn 1a), các mẫu thức 1,2 và 4 được thấy xem ra trội hơn mẫu thức 3 và 5. Xét về tính trung thành với truyền thống (tiêu chuẩn 1b), mẫu thức 1 và 4 khá hơn mẫu thức 3 và 5, hoặc có lẽ cả mẫu thức 2), ba mẫu thức đầu xem ra dễ được chấp nhận hơn mẫu thức 4 và 5. Xét theo tính phù hợp (tiêu chuẩn 3), mẫu thức 2, 3 và 5 có vẻ ưu việt hơn mẫu thức 1 và 4. Xét theo hiệu quả thực tiễn (tiêu chuẩn 5), thì phải phân biệt một số điểm: Mẫu thức thứ nhất đặc biệt phục vụ đắc lực cho Giáo Hội xét như cơ chế, mẫu thức 3 cho đời sống tâm linh cá nhân, và mẫu thức 5 cho sự tiến bộ chung của xã hội loài người. Xét theo kết quả về mặt lý thuyết tức tiêu chuẩn 5 – thì mẫu thức 1,2 và 4 cho thấy có khả năng tiếp nhận những trường phái thần học quan trọng trong khi những mẫu thức khác, như mẫu thức 3, thì tương đối ít gần gũi với lý thuyết hơn. Theo tiêu chuẩn cuối cùng – tiêu chuẩn giá trị đối thoại – mẫu thức 3 và 5 dường như mạnh thế hơn các mẫu thức 1,2 và 4.

Những Lựa Chọn Thần Học

Nếu chúng ta không thể chối cãi rằng ít nhất có một số điểm khác biệt không hòa hợp được giữa các mẫu thức khác nhau thì rõ ràng không thể chấp nhận tất cả các mẫu thức một cách lôgic được. Vì thế, do những mục đích thực tiễn, nhà thần học phải đứng trước chỉ bốn khả năng chọn lựa: thứ nhất, chấp nhận một lý thuyết, khước từ tất cả những lý thuyết khác; thứ hai, theo những mẫu thức khác nhau trong khi liên hệ đến những vấn đề khác nhau; thứ ba, kết hợp hoặc dung hòa các mẫu thức, điều hợp những khác biệt sao cho các xung khắc được loại bỏ; và thứ tư, xây dựng một mẫu thức mới khác với năm mẫu thức đã nghiên cứu trên.

  1. a) Chọn một mẫu thức

Sự lựa chọn thứ nhất này là một khả năng rõ ràng. Mỗi trong năm mẫu thức tiêu biểu cho các quan điểm riêng biệt của nhiều nhà thần học mà tài năng của họ không còn ai ngờ vực nữa. Nhiều thần học gia thời nay nghiêng hẳn về một trong năm mẫu thức, mặc dù có một số khác kết hợp quan điểm của hai hay nhiều mẫu thức. Chọn một trong năm mẫu thức là chấp nhận một thái độ rõ ràng và không có gì lạ lẫm.

Trong việc quyết định chọn một mẫu thức nào đó, người ta sẽ đương nhiên bị ảnh hưởng bởi một số “yếu tố phi thần học.” Một cá nhân sẽ tiếp cận vấn đề mạc khải với một mớ định kiến vốn sẵn tạo thành bởi tính khí, bởi sự nuôi dưỡng, giáo dục, những tiếp xúc xã hội và những kinh nghiệm. Tất cả những yếu tố ấy có thể làm sắc bén sự nhận hiểu của người ta nhưng cũng có thể làm lung lạc họ. Suy tư thần học sẽ không chủ yếu giúp người ta loại bỏ những định kiến này, nhưng nó sẽ hướng dẫn để họ có được một chọn lựa thích đáng hơn – sự chọn lựa này thường sẽ thay đổi những lập trường trước đây của người ta trong khi phần nào tái khẳng định chúng.

Với những điểm mạnh và điểm yếu như được thấy trong cả năm mẫu thức, việc chọn lựa một mẫu thức và đào thải những mẫu thức còn lại thật chẳng dễ dàng chút nào. Những thế mạnh trong các mẫu thức bị bác bỏ và những điểm yếu trong mẫu thức được chọn để chấp nhận đều cùng gây trở ngại lớn cho giải pháp thứ nhất này.

  1. b) Góp nhặt

Còn khả năng thứ hai – khả năng lựa lọc góp nhặt – thì sao? Dựa trên nguyên tắc rằng tất cả các mẫu thức đều có một số điểm mạnh nào đó, xem ra có vẻ đúng đắn việc dùng mẫu thức này cho vấn đề này, mẫu thức khác cho vấn đề khác. Tuy nhiên, cách làm như thế khó được thần học chấp nhận – bởi thần học cố đạt sự nhất quán và tính khả niệm. Mỗi mẫu thức thần học mạc khải tiêu biểu cho một “Gestalt” mặc nhiên ràng buộc những người theo nó với những câu trả lời chuyên biệt cho một khung toàn thể vấn đề. Ngược lại, bất cứ một lời giải đáp riêng biệt nào cho một vấn nạn đặt ra – chẳng hạn, vấn đề mạc khải được trao ban đầy đủ hay chưa đầy đủ trong biến cố Đức Kitô – cũng ràng buộc người ta vào một mẫu thức thần học mạc khải hậu thuẫn cho câu trả lời ấy. Một cách tiềm ẩn, câu trả lời ấy gắn kết người ta vào những câu trả lời tương ứng cho tất cả những vấn đề khác có thể được đặt ra. Như vậy, vấn đề về các mẫu thức hay tiêu thức không thể bị bỏ qua một cách dễ dãi được. Không có vấn đề thần học nào có thể được tiếp cận xét như một đơn vị riêng lẻ, không dính dáng đến những vấn đề khác. Tính nhất quán đòi buộc thần học gia phải tìm ra những lời giải đáp không chỉ đơn thuần cho từng vấn đề riêng rẽ, lần lượt, nhưng là cho “siêu vấn đề” về một phương thức bao quát đối với thần học mạc khải. Một phương thức thuần túy mang tính lựa lọc góp nhặt sẽ xem chừng hời hợt và không đáng tin cậy.

  1. c) Dung hòa

Khả năng lựa chọn thứ ba là dung hòa 2, 3, 4 hoặc cả 5 mẫu thức. Có vẻ như một lý thuyết tương đối thích đáng hơn về mạc khải có thể được xây dựng bằng cách góp nhặt những cái tốt nhất trong mỗi mẫu thức. Tại sao chúng ta không thể kết hợp tính-cách-được-ban-cho của mạc khải, như mẫu thức 1 chủ trương, với tính thời sự của nó – như được nhấn mạnh trong mẫu thức 5? Tại sao không thể điều hợp tính trực tiếp của mạc khải như mẫu thức 3 trình bày – với khoảng cách vô cùng giữa Thiên Chúa và chúng ta – như được nêu bật trong mẫu thức 4? Bằng việc điều hợp những điểm dị biệt hẳn người ta có thể nhận ra rằng những giá trị của cả năm mẫu thức có thể được hỗn hợp lại.

Tuy nhiên, chúng ta đã thấy rằng những mẫu thức khác nhau đưa ra những câu trả lời rõ ràng tương phản nhau trước nhiều vấn đề căn bản. Vì người ta không thể đồng thời lại chủ trương những điều đối chọi nhau nên bất cứ sự dung hòa nào của các mẫu thức sẽ đòi phải vượt qua được những điểm yếu trong các mẫu thức như thường được hiểu, và do đó đòi hỏi phải sáng tạo một cái gì mới mẻ. Việc đúc kết nên một mối thống nhất có tính khả niệm từ hai hay nhiều mẫu thức đòi hỏi các mẫu thức phải được mẫu thức hóa bằng cách hỗn hợp chúng thành một phức hợp rộng lớn hơn. Như vậy chúng ta đã bước đến khả năng chọn lựa thứ tư.

  1. d) Giới thiệu mẫu thức mới

Nếu việc giới thiệu cái mới là một điều không thể, thì thần học hệ thống sẽ không còn là một qui phạm có sức sống hoạt nữa. Tất cả những lý thuyết xưa nay về mạc khải, kể cả năm mẫu thức mà chúng ta vừa xem xét trên, đều nhờ người ta “tạo ra cái mới” mà có. Một vài lý thuyết cũng chỉ xuất hiện mới đây thôi. Những mẫu thức thứ 4 và 5, chẳng hạn, thực sự đã không tồn tại cho tới thế kỷ XX – ngoại trừ trong mầm mống. Lại nữa, việc giới thiệu mẫu thức mới còn cần thiết nếu chúng ta phải vượt qua những xung khắc giữa các mẫu thức đang tồn tại. Nhưng, một lần nữa, chúng ta phải lưu ý đến nguyên tắc làm việc rằng các quan điểm thần học của một số đông các Kitô hữu có năng lực tư duy không thể bị hời hợt bỏ qua. Lịch sử thần học dường như cho thấy rằng những điểm mới mẻ có tính sáng tạo thường nổi lên ở chỗ nào người ta đi sâu vào truyền thống. Những thần học gia xuất sắc bao giờ cũng ngưỡng mộ các bậc tiền bối của mình và tìm cách bảo quản những tri thức mà mình được thừa kế từ các vị ấy. Những bước nhảy cấp tiến và ly khai trong thần học thường không đem lại kết quả lâu bền. Thay đổi thì thay đổi, nhưng những mẫu thức mới xuất hiện nhẩn nha, và thường xuất hiện một cách gần như không hiểu được. Nếu không nại đến sự thúc đẩy của Thánh Thần hay tài năng của tâm trí con người, chúng ta có thể nhìn nhận rằng những mẫu thức mới về thần học mạc khải, nếu chúng khẳng định được, đều là những sự mẫu thức hóa các lý thuyết đang có sẵn.

Về vấn đề này người ta có thể trích dẫn công trình của H. Richard Niebuhr. Trong tác phẩm “Ý nghĩa của mạc khải” của ông, ông đã cố ý suy tư giữa một bên là chủ trương tự do của Ritschl và Troeltsch và một bên là thần học biện chứng của Barth. Bằng cách ấy ông đã nhào nặn ra một lý thuyết độc đáo về “confessional history” xét như là mạc khải. Trong khi tách biệt “lịch sử bên trong” (liên quan tới các giá trị) ra khỏi “lịch sử bên ngoài” (liên quan tới các sự  kiện), ông chủ trương rằng mạc khải xảy ra nơi lịch sử trước, vì những ký ức mà người ta chia sẻ cho nhau sẽ cung cấp cho họ những hình ảnh “nhờ đó tất cả những trạng huống của đời sống cá nhân cũng như cộng đồng đều trở thành khả niệm.”Đối với Niebuhr, mạc khải là một tiến trình bỏ ngỏ trong đó các tư tưởng của con người “được nắm bắt trong sự xào xáo của một sự chuyển đổi giá trị.” Kết quả cuối cùng của luận đề Niebuhr, bằng nhiều cách, đã mở đường cho cái mà chúng ta mô tả là mẫu thức “ý thức mới.””

Sự Tìm Kiếm Có Tính Biện Chứng

Điều xem ra cần yếu ở đây là loại tiến trình mà Bernard Lonergan đã diễn tả dưới tiêu đề “biện chứng.” Trong giai đoạn đầu tiên của nó, tương ứng gần gũi với nội dung của chương này, biện chứng pháp cố tìm cách nhận ra những xung khắc căn bản giữa các lối chú giải khác nhau, trong quá khứ và trong hiện tại. Sau đó, bằng cách tham chiếu một số tiêu chuẩn phê bình, nhà biện chứng cố đưa ra ánh sáng những giá trị tích cực (mà Lonergan gọi làpositions) và những điểm vô giá trị (mà ông gọi làcounterposstions) trong những lý thuyết đối lập nhau. Như vậy, biện chứng pháp vạch đường cho một đề nghị mới có thể “sublate” những lý thuyết trước đó. Tham chiếu đến tác phẩm “Những người nghe Lời Chúa” của Rahner, Lonergan bổ sung:

Tôi sẽ dùng ý niệm này (sublation) theo ý nghĩa của Rahner hơn là theo ý nghĩa của Hegel để chỉ rằng cái sublate vượt quá cái đượcsublate, giới thiệu một cái gì đó mới mẻ và khắc hẳn, đặt mọi sự trên một căn bản mới, tuy nhiên vẫn không gây trở ngại cho cái được sublate hay triệt phá nó, ngược lại cần nó, bao gồm nó, bảo quản tất cả những nét đúng đắn và những đặc sắc của nó, và đưa nó tiến tới một sự nhận thức đầy đủ hơn trong phạm vi một bối cảnh phong phú hơn.

Trong một sublation theo loại này, thật là không đủ nếu chỉ làm công việc so sánh tĩnh giữa những lý thuyết đang tồn tại. Một thần học gia thiếu sự am tường riêng của mình về mạc khải hẳn phải nhờ đến toàn bộ tư liệu của người khác và sẽ không đủ sức vượt quá chúng. Để ủng hộ, công kích hay vượt qua những lý thuyết đang có mặt, người ta cần có sự am hiểu độc lập của mình về những gì mà các lý thuyết ấy có ý khảo cứu. Bảy tiêu chuẩn mà chúng ta đã áp dụng chỉ là những dấu cho thấy trước sự thích nghi giữa một lý thuyết và chính mạc khải. Tiêu chuẩn cao vượt hơn cả, ở trên và ở đàng sau tất cả bảy tiêu chuẩn ấy là sự tương ứng với (cái gọi là) mạc khải ấy. Một lý thuyết về mạc khải sẽ khẳng định được và khả dĩ chấp nhận được là tùy theo mức độ nó đo lường được và phản ảnh được thực tại mạc khải.

Như đã đề cập đến ở những trang đầu chương này, thần học mạc khải không thể nào thành hình được trừ phi có một ý thức cố hữu nào đó về thực tại mạc khải được ban cho mọi người trong đức tin. Thần học, vì thế, sẽ đem lại kết quả khi nó trở về với nguồn gốc nguyên thủy của nó và -với sự giúp đỡ của các công trình mà những tư tưởng gia khác đã thực hiện – tìm cách vạch lại tiến trình theo đó mạc khải đi vào ý thức con người và tự bạch về chính nó. Một sublation của những mẫu thức đang có sẵn chỉ có thể có được từ một vị thế độc lập giúp người ta tiếp cận một cách cá nhân với chính thực tại mà các mẫu thức kia có ý nhắm đến.

Dù người ta có mong muốn gì đi nữa thì một vị thế độc lập như vậy sẽ chẳng có được nếu người ta dửng dưng với những trình bày của truyền thống Kitô giáo về mạc khải. Trái lại, mạc khải như đã được các Kitô hữu nhận hiểu không thể được người ta nắm hiểu nếu họ không tín nhiệm những chìa khóa chỉ dẫn về mạc khải Kitô giáo. Đối với Thánh Kinh, hay những tuyên bố truyền thống về đức tin, hay sự hiện hữu sống động hiện tại của Giáo Hội – để trở thành những kim chỉ nam cho người ta, người ta phải dấn mình trọn vẹn vào chúng và để cho chúng cung ứng những lăng kính giúp họ có thể nhận hiểu mạc khải của Thiên Chúa. Ở điểm này trong cuộc khảo sát của chúng ta, sẽ là hữu ích việc khảo cứu sâu hơn cái tiến trình mà những trung gian được lập ra như thế có thể vén mở sự thật về vị Thiên Chúa mạc khải.

Trong chương kế tiếp tôi sẽ trình bày rằng mạc khải được trao ban và được thông truyền bằng sự truyền đạt có tính biểu tượng. Tôi sẽ nêu quan điểm rằng biểu tượng là một phạm trù mênh mông bằng bạc trong mỗi mẫu thức thuộc năm mẫu thức nói trên – đôi khi sắc nét, đôi khi mờ nhạt. Tôi tin rằng ý niệm về sự truyền đạt có tính biểu tượng có thể rất có giá trị xét như là một công cụ biện chứng để đưa ra những điểm mạnh và vượt qua những điểu yếu trong các lý thuyết có tính tiêu thức mà chúng ta khảo sát từ đầu tới nay. Vì thế chương IX sẽ là một bản lề cho tất cả những gì sẽ nói sau đó trong tác phẩm này.

Một điều cần lưu ý trước ở đây. Tôi không có ý đề ra một mẫu thức thứ sáu, mẫu thức “biểu tượng,” để đương đầu với năm mẫu thức kia. Sự đa dạng của các mẫu thức có những lợi điểm mà người ta không thể có được nếu chỉ vận dụng một mẫu thức đơn độc nào đó. Năm mẫu thức mà ta đã phân tích đem lại một cái nhìn rộng thoáng đủ về những yếu tố bao gồm trong một thần học tương đối có giá trị về mạc khải. Tôi rin rằng bằng cách dựa vào ký hiệu biểu tượng xét như một công cụ biện chứng người ta có thể làm phong phú và điều chỉnh những mẫu thức đang có sẵn, và có thể đạt được một sự lai tạo đầy triển vọng.

Lm. Lê Công Đức dịch từ

nguyên tác Models Of Revelation

của Avery Dulles, S.J.

do nhà Image Books – New York xuất bản, 1985.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s