Mẫu thức 4: Mạc khải xét như hiện diện biện chứng (6)

VRNs (10.04.2015) – Sài Gòn – Những Đại Biểu Hàng Đầu

Với khuynh hướng xem mạc khải là một kinh nghiệm nội tâm như được thấy rõ nét nơi các ngôn sứ và nơi Đức Giêsu, thần học tự do đã đạt tới tột đỉnh của nó vào khoảng giữa đầu thế kỷ XX và cuộc bộc phát thế chiến thứ nhất. Tuy nhiên sau 1914, chủ trương này bắt đầu có vẻ ít được người ta chấp nhận. Vào thời gian đó, các công trình nghiên cứu Tân Ước đã cho thấy sự khó khăn của việc tái lập Đức Giêsu lịch sử dựa theo những giả định của trường phái tự do. Hơn nữa, những hoang tàn của chiến tranh và những bất ổn về kinh tế và chính trị do chiến tranh gây ra dường như đã đòi hỏi phải có một thần học nhận thức kỹ hơn vê tội, về sự mong manh của các mối đảm bảo nhân loại, về khoảng cách giữa con người và Thiên Chúa và về ân sủng thiêng liêng mà chúng ta được tham dự trong Đức Giêsu Kitô. Trong thời gian thế chiến thứ nhất, những nhà giảng thuyết như Karl Barth đã nhận thấy rằng thần học tự do không thể đáp ứng được các đòi hỏi nói trên. Họ đặt câu hỏi rằng phải chăng Kitô giáo đã không có một sứ điệp hùng hồn hơn về công trình của Thiên Chúa – nơi Đức Giêsu Kitô – vì ích lợi của chúng ta.

Dù vậy, các nhà phê bình thần học tự do nầy cũng cảm thấy không thể quay lại với các học thuyết chính thống xưa cũ tức những học thuyết đã đồng hóa mạc khải với những giáo lý chặt chẽ (mẫu thức 1) hoặc với một lịch sử thần nhiệm (mẫu thức 2). Chịu ảnh hưởng bởi các nhà thần học tự do tên tuổi như Harnack và Herrmann, những nhà thần học mới nầy đã cảm nhận sâu sắc về những mập mờ trong lịch sử Thánh Kinh và về những sự đa dạng trong giáo thuyết Thánh Kinh và Giáo Hội. Bởi đó họ đã tìm kiếm một thần học mạc khải sao cho có thể chấp nhận không gượng ép các kết quả nghiên cứu phê bình mà không rơi vào sự nhạt nhẽo của chủ trương tự do.

15040400

Karl Barth, Emil Brunner, Rudolf Bultmann và một số tên tuổi khác – dù không bao giờ hình thành một trường phái đúng nghĩa – cũng đã triển khai một phương pháp chung quen gọi là “thần học phê bình” hay “thần học biện chứng.” Ý thức sâu sắc về sự siêu việt của Thiên Chúa và về thân phận tội lỗi của con người, họ phủ nhận quan điểm cho rằng sự hiện diện và hoạt động của Thiên Chúa có thể được khám phá thấy trong những sự kiện lịch sử, những tuyên bố giáo lý hay những kinh nghiệm tôn giáo. Tuy nhiên, trong đức tin – họ vẫn xác tín rằng Thiên Chúa hiện diện và hoạt động trong lịch sử nhân loại, trong ngôn ngữ và trong kinh nghiệm của con người. Để diễn tả sự thực nghịch lý nầy về sự hiện diện và sự vắng mặt của Thiên Chúa, họ đã dựa vào một chuỗi những khẳng định và phủ định, những tuyên bố và bác bỏ – mà dường như theo họ – để tôn trọng mầu nhiệm của Thiên Chúa. Họ chủ trương rằng cách duy nhất thích hợp để nói về mầu nhiệm đó là phải đồng thời nói “có” và nói “không.” Biện chứng này, vì thế, là một trong những lưỡng nan bỏ ngõ. Nó không bao giờ đạt đến một tổng hợp đề theo kiểu biện chứng Hegel.

Những đại biểu hàng đầu của trường phái biện chứng này khác nhau rất đáng kể. Trong giai đoạn theo hướng biện chứng này của mình, Barth chịu ảnh hưởng sâu đậm của tư tưởng hiện sinh của Kierkegarrd và Dostoevsky. Dần dần ông đã đi qua một thần học hiện thực về lời của Thiên Chúa để hướng đến một thần học có tính Nhập Thể nhiều hơn, tập chú vào việc Thiên Chúa trao ban chính mình nơi Đức Giêsu Kitô. Trong thần học sau nầy của ông, Barth đã điều hợp tư tưởng biện chứng vốn được thấy rất đậm nét trong các biên khảo của ông trước năm 1940. Brunner đã phát triển một thần học về sự gặp gỡ và hiệp thông – do nhận ảnh hưởng từ thuyết nhân vị của Ferdinand Ebner và Martin Buber. Và cuối cùng, Bultmann đã đề xướng một thần học về sự tự thức của con người – do ảnh hưởng sâu đậm của triết học hiện sinh Heidegger.

Bất chấp những dị biệt nói trên, ba nhà thần học này đã cùng chia sẻ một quan điểm chung về mạc khải – bởi họ cũng nhìn mạc khải như một cuộc gặp gỡ huyền nhiệm và có sức cứu độ với Thiên Chúa hằng sống. Họ hướng đến một thần học có tính hiện sinh và hiện thực về lời – và do đó họ đóng vai trò dọn đường cho những thần học về lời sau này như của Ernst Fuchs, Gerhard Ebeling và Eberhard Jungell. Trong những trang sau đây chúng ta sẽ không cố so sánh cân nhắc những nét khác nhau của từng người, nhưng là sẽ đưa ra một khung tổng hợp của mẫu thức biện chứng về mạc khải.

Mạc Khải, Thiên Chúa, và Đức Kitô

Cả ba tác giả nói trên đều nhất trí rằng mạc khải là một cái gì hết sức mầu nhiệm, bởi vì mạc khải liên quan đến việc tự biểu lộ của Thiên Chúa, Đấng là mầu nhiệm tuyệt đối. Vì thế Barth có thể nói: “Thánh Kinh cho thấy mạc khải của Thiên Chúa là lời nói trực tiếp của chính Thiên Chúa – và ta không được tách lời nói nầy ra khỏi hành vi nói, do đó cũng không được tách ra khỏi chính Thiên Chúa tức chủ thể thần linh đứng trước con người, trong đó con người thưa chuyện trực tiếp với Ngài. Mạc khải là Dei loquentis persona.” Bao hàm trong quan điểm này, ông chủ trương rằng mỗi mạc khải đều đồng thời là một giấu ẩn, vì nó mở ra sự huyền nhiệm tuyệt đối của Thiên Chúa. “Mạc khải trong Thánh Kinh có nghĩa là việc trao ban cho con người sự tự biểu lộ của Thiên Chúa – Đấng mà theo tự nhiên thì không thể nào được biểu lộ cho con người thấy được… Deus absconditus chính là Deus revelatus.””

Theo Bultmann, “Đấng Thiên Chúa huyền nhiệm và giấu ẩn đồng thời chính là vị Thiên Chúa được mạc khải.” Ông chủ trương rằng loại kiến thức xảy ra nơi mạc khải “không thể được truyền thông trực tiếp bởi những thông tin mà người ta đã có được về Đấng Mạc khải, nhưng chỉ có thể được hấp thụ bởi những ai biết đặt chính mình đối diện với lời của Đấng Mạc khải – là lời một trật vừa biểu lộ vừa giấu ẩn Ngài. Ngài là Đấng mạc khải giấu ẩn.””

Cũng vậy, Brunner khẳng quyết rằng Thiên Chúa – là chủ thể tuyệt đối – tỏ ra cho thấy Ngài là mầu nhiệm tuyệt đối và vì thế không thể khách quan được. Chân lý của mạc khải, ông viết, “không chủ quan cũng chẳng khách quan, nhưng vừa khách quan vừa chủ quan một trật: nói cách khác, đó là chân lý có thể được diễn tả như cuộc gặp gỡ giữa chủ thể nhân loại và Thiên Chúa nơi Đức Giêsu Kitô.”

Như câu cuối cùng vừa nêu cho thấy, nội dung của mạc khải không phải là Thiên Chúa trong yếu tính trừu tượng của Ngài, nhưng đó là Thiên Chúa Đấng đến với các thụ tạo của Ngài để xét xử và thứ tha – nghĩa là chính là Đức Giêsu Kitô. Về Đức Kitô, Barth phát biểu: “Người là ánh sáng của Thiên Chúa và là mạc khải của Thiên Chúa,” và thêm nữa: “Đức Giêsu Kitô là mạc khải vì Người là ân sủng của Thiên Chúa được tỏ lộ cho chúng ta – “ân sủng” hiểu theo nghĩa đầy đủ của ý niệm nầy.” “Nếu Thiên Chúa không từ bi độ lượng (nghĩa là nếu Thiên Chúa khư khư giữ lấy uy phong của thượng trí Ngài cho mình Ngài), nếu Thiên Chúa không tự ý quyết định đến với con người, thì sẽ chẳng có mạc khải.” Bultmann cũng diễn tả tương tự: “Do đó mạc khải không bao hàm gì hơn là chính sự kiện Đức Giêsu Kitô.” Cũng vậy, đối với Brunner, mạc khải là chính Đức Giêsu Kitô – qua sự hiện diện ngã vị của Người mà sự hiện diện ngã vị của Thiên Chúa đã trở thành hiện thực. Các tác giả này cho rằng đặc biệt trong mầu nhiệm Tử nạn và Phục Sinh của Đức Giêsu Kitô mà Thiên Chúa đã mạc khải chính Ngài.

Sự qui chiếu Kitô học của các tác giả này gây ra việc phủ nhận những khả năng mạc khải của thiên nhiên, của kinh nghiệm tôn giáo và của những truyền thống tôn giáo ngoài Kitô giáo. Khi chủ trương rằng mạc khải của Đức Giêsu Kitô giải phóng chúng ta khỏi ảo tưởng của thần học tự nhiên, Barth định nghĩa ảo tưởng đó là “giáo thuyết về một sự hợp nhất của con người với Thiên Chúa tồn tại bên ngoài mạc khải của Thiên Chúa nơi Đức Giêsu Kitô.” Brunner kịch liệt chống đối Goethe – người đã dùng các vần thơ của mình để trình bày mạc khải như một cái gì luôn luôn có và có ở khắp nơi. Trái lại, Brunner cho rằng mạc khải – đối với Kitô hữu – chỉ xảy ra nơi Đức Kitô, ngoài Người chẳng ai khác được ban cho như thế. Còn đối với Bultmann thì “Thiên Chúa chỉ gặp gỡ người tín hữu nơi Đức Kitô… Nói cách khác, Đức Kitô là hành động cánh chung của Thiên Chúa – ngoài Người thì không một hành động nào khác có thể được gọi là đức tin hay thúc đẩy đức tin.””

Xem mạc khải như cái gì không thể tách rời khỏi việc tự thông truyền sống động của Thiên Chúa, các tác giả này chủ trương hoàn toàn lôgic rằng mạc khải có sức cứu độ nội tại. Barth viết: “Mạc khải của Thiên Chúa – xét trong mức độ đã hoàn thành những gì chỉ có Thiên Chúa mới hoàn thành được – đó là sự vãn hồi mối thân hữu của con người với Thiên Chúa, cho thấy rằng mạc khải tự chính nó là một cuộc giao hòa.” Brunner nhất trí rằng bởi vì Thiên Chúa đến với chúng ta trong mạc khải nên “mạc khải và sự tha thứ cũng chỉ là một.” Để chú giải câu “Ta là đường” (Ga 14,6), Bultmann nhận định: “Đây là sự diễn tả tinh thuần nhất về ý niệm mạc khải, Đấng mạc khải là con đường dẫn đến Thiên Chúa mà con người đang tìm kiếm, và hơn thế nữa – đó là con đường độc nhất.” Bởi đó Bultmann đã có thể dùng từ ghép “Heilsoffenbarung” (Mạc khải cứu độ).

Lời Của Thiên Chúa

Khi đồng hóa mạc khải với ân sủng, các tác giả này khẳng định rằng ngay cả sau thời các Tông Đồ – tức những vị đã lãnh nhận mạc khải trước hết – thì mạc khải vẫn cứ là sự quyết định tự do của Thiên Chúa và là ân huệ của Ngài ban cho. Thánh Kinh và sự rao giảng của Giáo Hội mang dấu chứng của mạc khải thần linh nhưng không phải là chính mạc khải thần linh. Theo cách nói quen thuộc của Barth, Thánh Kinh và những điều rao giảng không phải là lời của Thiên Chúa – nhưng có thể trở thành lời của Thiên Chúa và trở thành mạc khải của Ngài nếu như và trong mức độ mà Đức Giêsu Kitô, Lời mạc khải của Thiên Chúa, muốn nói với chúng ta qua những dấu chứng chọn lọc này. Sự kiện Đức Kitô ngỏ lời qua những đài tiếp vận này xảy ra vào lúc và bằng cách thế mà Thiên Chúa định đoạt.

Trong khi lời nói và chữ viết là những trung gian của mạc khải, thì theo các tác giả này, nội dung của mạc khải không phải là ý nghĩa nội hàm của ngôn ngữ. Barth khẳng quyết rằng chân lý của mạc khải không phải là điều mà nhà giảng thuyết hay nhà thần học hữu ý khẳng định nhưng đúng hơn đó là chân lý của chính Thiên Chúa – Đấng khẳng định chính Ngài. Lời của Thiên Chúa được đồng hóa với lời của con người chỉ một cách nghịch lý hay một cách biện chứng mà thôi. Vì thế, những sai lầm của con người và tính khái niệm trong các chứng từ mạc khải không gây phương hại gì đối với chân lý của mạc khải Thiên Chúa. Barth khẳng định không chút nghi ngại rằng bởi vì các tác giả Thánh Kinh (bao gồm các tiên tri và các Tông Đồ) là những con người lịch sử thực sự nên họ không thể tránh được tất cả mọi sai lầm, nhưng “được công chính hóa và được thánh hóa bởi chỉ ân sủng mà thôi, họ vẫn phát ngôn lời của Thiên Chúa trong ngôn ngữ nhân loại vụng về và rất dễ sai lầm của họ.” Brunner cũng quan niệm tương tự: “Thiên Chúa có thể – nếu Ngài muốn – ngỏ lời của Ngài cho một con người ngay cả xuyên qua những thuyết lý sai lầm.” Ông cho rằng chân lý của mạc khải không có tính xác định, đó không phải là một chân lý “như vậy như vậy” – nói cách khác, đó không phải là thông tin về một điều gì đó.

Bultmann cũng nhấn mạnh không kém. “Chân lý không tồn tại như một giáo thuyết là cái có thể được hiểu, được gìn giữ và được chuyển trao – để cho người ta có thể học nơi vị thầy và vượt qua vị thầy. Đứng trước Đấng mạc khải, vị trí của con người không hệ tại ở chỗ có biết chân lý hay không mà đúng hơn là hệ tại ở chỗ cóthuộc về chân lý hay không? Ở một chỗ khác, Bultmann còn diễn tả một các đầy ấn tượng hơn:

Vậy thì cái gì được mạc khải? Không cái gì cả, nếu hiểu mạc khải có liên hệ đến những giáo thuyết – (những giáo thuyết mà rõ ràng không ai có thể khám phá được cho bản thân mình) – hoặc nếu hiểu mạc khải có liên hệ đến những mầu nhiệm được người ta hiểu biết một lần thay cho tất cả thoạt khi những mầu nhiệm ấy được thông đạt cho. Tuy nhiên – đàng khác, có thể trả lời rằng mọi sự đều được mạc khải hiểu như đó là việc mắt người ta được mở ra để hiểu sự hiện hữu của chính mình và thêm lần nữa họ có thể hiểu được chính mình.””

Như vậy qua mạc khải, chúng ta biết một cách trực diện về chính sự kiện mạc khải, và sự kiện này có ý nghĩa một sự sống hoàn toàn mới mẻ ngay cả nếu như nó không mang một nội dung thông tin nào. Thánh Kinh tự nó không phải là một quyển sách bất khả ngộ, nhưng đó là một quyển sách được đánh giá theo mạc khải mà Thiên Chúa thông truyền xuyên qua nó. Bultmann viết: “Vì thế, Tân Ước tự nó là mạc khải chỉ trong mức độ hiểu như đó là kerygma hay hiểu như nó “rao giảng Đức Kitô” (Luther).””

Và mạc khải xảy ra khi nào? Đối với các nhà thần học theo mẫu thức biện chứng, mạc khải xảy ra bất cứ khi nào lời Thiên Chúa được công bố một cách hữu hiệu và được đón nhận trong đức tin, và mạc khải chỉ là mạc khải khi nó đang xảy ra mà thôi. Như chúng ta đã thấy, Barth chủ trương rằng Thánh Kinh và lời rao giảng trở thành mạc khải khi và trong mức độ mà Thiên Chúa muốn ngỏ lời qua đó. Đối với Brunner cũng thế, Thánh Kinh trở thành lời của Thiên Chúa cho tôi trong khoảnh khắc mạc khải khi tôi trở nên thực sự hiện diện với Đức Kitô. Bultmann cũng diễn tả gần giống như thế, ông cho rằng Thánh Kinh trở thành lời của Thiên Chúa chỉ khi tôi nghe Thánh Kinh “như một lời dành cho tôi, như Kerygma, như một tuyên bố.” Do đó ông có thể nói: “Mạc khải đụng chạm con người nơi lời – một lời vang lên trong chính hiện tại của người ấy.” Mạc khải không còn là một biến cố lịch sử thuộc quá khứ nữa; mạc khải diễn ra ngay trong hiện tại. “Mọi thế hệ đều có cùng một mối tương quan nguyên thủy đối với mạc khải.””

Đức Tin Và Các Lãnh Vực Của Đức Tin

Từ đó, các thần học gia thuộc mẫu thức biện chứng này tiến tới một khẳng định xa hơn. Họ cho rằng hành vi của đức tin – nhờ đó mạc khải được đón nhận thực sự – là một thành phần thiết yếu của chính mạc khải. Theo Barth, mạc khải không bao giờ trọn vẹn với yếu tố khách quan của việc tự mở lộ của Thiên Chúa qua Con của Ngài, bởi vì sự kiện mở lộ đó sẽ không rõ ràng nếu không có sự biến đổi chủ quan qua đó Thánh Thần làm cho chúng ta có khả năng nhận hiểu điều đang xảy ra. “Do đó sự nhận hiểu này, sự mạc khải này của Thiên Chúa ban cho chúng ta, tự nó thực sự là mạc khải.” Brunner chống lại khuynh hướng hiểu mạc khải như một sự kiện khách quan được đặt thượng phong trên hành vi chủ quan là sự đón nhận nó trong đức tin: “Sự kiện việc soi sáng,” tức cái làm cho sự kiện đó được nhận biết, là “một phần thiết yếu của tiến trình mạc khải, nếu không có phần này thì một biến cố sẽ chỉ là một biến cố trơn chứ không có tính mạc khải gì hơn – cũng như ánh sáng mà không được trông thấy, không có gì để soi sáng, không có thị giác.” Nơi khác, Brunner tuyên bố: “Đức tin và mạc khải có tương quan hỗ tương nhau,” chúng tùy thuộc vào nhau. Bultmann cũng nghĩ tương tự, ông viết: “Mạc khải không thể được thấu hiểu nếu không có đức tin, không có gì được mạc khải dựa trên nền tảng của những gì mà người ta tin tưởng. Chỉ trong đức tin mà đối tượng của đức tin được vén mở, vì thế, đức tin tự nó thuộc về mạc khải.””

Trích dẫn vừa nêu trên của Bultmann đem chúng ta tới căn bản lý tính của đức tin. Về vấn đề này các thần học gia của mẫu thức biện chứng có một quan điểm độc đáo rằng mạc khải không thể được chứng minh bằng những luận cứ thuộc lý trí con người – tức những luận cứ ở ngoài đức tin. Trong một luận văn nổi tiếng viết về Schleiermacher, Barth chế giễu nhà minh giáo này – người phải bước ra khỏi thần học, tay cầm một lá cờ trắng và cố gắng nói chuyện với những kẻ không tin ở địa hạt trung lập. Barth cả quyết rằng từ một địa hạt trung lập như thế người ta không thể thấy được mạc khải. “Thánh Kinh cho thấy mạc khải của Thiên Chúa là một địa hạt không có một địa hạt nào cao hơn trên nó hay sâu hơn dưới nó – nhưng là một địa hạt tự nó có tính tuyệt đối; và do đó đối với con người, mạc khải của Thiên Chúa là một tòa án cuối cùng chứ không thể kháng cáo đến một tòa nào cao hơn.””

Cũng thế, đối với Emil Brunner: “Mạc khải, do chính bản chất của nó như đức tin Kitô giáo hiểu, thật sự là một cái gì vượt ngoài mọi luận cứ lý trí.” Ở chỗ khác, ông viết: “Vì thế, mọi phương tiện biện giải và chứng minh đều ở ngoài tầm tay chúng ta. Mạc khải chỉ được nắm hiểu bằng đức tin và điều mà đức tin tin tưởng thì điên rồ đối với lý trí, vì nó trái nghịch với tất cả những suy nghĩ bên trong chúng ta.” Theo Bultmann, lời chứng của Đức Giêsu như được trình thuật trong bốn sách Tin mừng giả thiết trước sự tự túc của đức tin:

Ngoài chứng tá của Người, Người (Đức Giêsu) không đưa ra bằng chứng nào khác về thẩm quyền của Người để có thể xem như sự nâng đỡ niềm tin của người ta vào chứng tá đó. Thính giả có chất vấn thì cũng chỉ chất vấn về chính điều mà sự vững chãi của nó đang bị họ đặt vấn đề, về đối tượng của đức tin. Không có tiêu chuẩn nào để xác quyết tính vững  chắc của điều được gọi là mạc khải, cho dù đó là chứng tá đáng tin cậy của những người khác – hay những tiêu chuẩn lý luận hoặc đạo đức – hay những kinh nghiệm nội tâm. Đối tượng của đức tin chỉ được nhận biết bởi đức tin, và đức tin này là phương tiện duy nhất để đạt đến đối tượng của nó.””

Có vẻ như là chủ nghĩa qui Kitô của các tác giả này sẽ thúc đẩy họ chấp nhận rằng khoa minh giáo ít nhất cũng phải bảo vệ sử tính của các biến cố cốt yếu trong sự nghiệp của Đức Giêsu, nhưng đối ngược với trường phái (mẫu thức) lịch sử cứu độ được ta tìm hiểu trước đây, các thần học gia biện chứng đã khéo léo bảo quản đức tin khỏi bị biến đổi theo những kiến thức về lịch sử. Trong khi chú giải Thư Rôma, Barth đã đề cập đến một “lịch sử tiên quyết” (Urgeschichte) trong đó hành động của Thiên Chúa gặp gỡ lịch sử trần thế từ trên cao – mà vẫn không hề bị đồng hóa với  lịch sử trần thế ấy. Khi làm công việc liên kết nói trên, Barth đã sử dụng những hình ảnh ẩn dụ nổi tiếng của ông về đường trực giao, về tiếp tuyến, về điểm trong toán học, về miệng núi lửa, về chân không. Ông khẳng định rằng cuộc Phục Sinh của Đức Giêsu là “hiện tượng phi lịch sử – mà mọi biến cố khác đều được hạn định bởi nó và các biến cố trước và sau Phục Sinh đều qui về nó.” Mọi biến cố lịch sử đều bị dính líu không thể tách rời khỏi tính tương đối thất thường của con người – với sự mập mờ, sự sai lầm và sự bất ổn tự bản chất của nó; vì thế biến cố Phục Sinh không thể được chính xác ráp vào trong lãnh vực của lịch sử thông thường.

Trong giai đoạn theo mẫu thức biện chứng của mình, Brunner đã đề cập đến “lịch sử tiên quyết và tối hậu” (Ur-End-Geschichte) như một phạm trù thần học giúp liên hội cái nghịch lý của vĩnh cửu trở thành thực tại lịch sử mà không giả thiết trước về sự mở rộng có tính lịch sử của các biến cố khác. Ông khẳng định rằng mạc khải không thể được nhìn thấy và không nối dài trong thời gian. Vì thế cuộc sống nhân loại của Đức Giêsu không thể hình thành mạc khải. Chiều kích mạc khải không phải là gì khác hơn là lời thần linh của Thiên Chúa – lời ấy hiện diện trong lịch sử nhưng không hề bị đồng hóa với lịch sử. Trái ngược với các nhà thần học tự do; các thần học gia biện chứng hoàn toàn dửng dưng không nại đến những tâm tình thái độ tôn giáo riêng tư của “Đấng Sáng Lập Kitô giáo.”

Trong nỗ lực “giải trừ huyền thoại” của ông, Bultmann đã nhấn mạnh đến ý nghĩa hiện sinh của chứng từ Thánh Kinh đối với Đức Giêsu, tách biệt rõ ràng ý nghĩa này khỏi tính sự kiện lịch sử – vấn đề mà “con người tin” ấy không hề đếm xỉa đến. Bultmann khẳng định rằng dù người sử gia có chứng minh thế này thế khác về những gốc tích Kitô giáo thì cũng không gì có thể hoặc củng cố hoặc đe dọa đến đức tin, vì “vốn là một quyết định riêng tư cá nhân, đức tin không thể để cho công việc của sử gia lèo lái.”

Những luận điểm căn bản nhất trong thần học biện chứng – mà chúng ta đã nhìn khái lược trong các tác phẩm của Barth, Brunner và Bultmann – tiếp tục thấm nhiễm vào các môn đệ của họ. Những nhà thần học “hậu Bultmann” như Ernest Fuchs và Gerhard Ebeling – dựa vào triết học của Heidegger sau nầy – đã phát triển một lý thuyết rất phức hợp về sự kiện lịch sử của lời cứu độ của Thiên Chúa trong hình thức mà Fuchs gọi là “biến cố ngôn ngữ” (Sprachereignis) và Ebeling thì gọi là “biến cố lời” (Wortgeschehen). Gần với Barth hơn Bultmann và gần với những tư tưởng chín muồi của Barth hơn những tư tưởng trong giai đoạn biện chứng của ông, các thần học gia như Jurgen Moltmann và Eberhard Jiingel đã tiếp tục khảo sát cái nghịch lý của sự hiện diện và vắng mặt của Thiên Chúa trong thế giới và trong lịch sử (của thế giới). Đối với tất cả những nhà thần học này – cũng như đối với các tiền bối của họ trong mẫu thức biện chứng, mạc khải là sự tự chứng nghiệm của Thiên Chúa mạc khải Đấng xuất hiện qua lời phán xử và lời ân sủng đầy quyền năng của Ngài.

Tổng Lược

Bỏ qua những tính đa dạng sau này như thấy trên, ta có thể tổng hợp thần học biện chứng về mạc khải bằng cách trả lời 4 câu hỏi quen thuộc của chúng ta: Đâu là hình thức của mạc khải, nội dung, giá trị cứu độ và sự đáp trả thích đáng đối với nó?

Vì mạc khải đến qua lời nên hình thức đúng đắn của nó là Đức Kitô, Ngôi Lời. Không có gì được gọi là mạc khải ngoại trừ trong chừng mực mà Ngôi Lời nói qua nó. Theo tất cả các tác giả này, Thánh Kinh tự nó không phải là mạc khải nhưng đúng hơn là lời chứng mở đường cho mạc khải là chính Đức Kitô. Barth và các môn đệ của ông cho rằng cả Cựu và Tân Ước đều chứa đựng lời chứng cho Đức Kitô. Nhưng lời của Thánh Kinh không được đặt ngang hàng với lời của Thiên Chúa. Nó phải nhận được sự phán quyết tới hậu của Đức Kitô, Lời mạc khải, theo ngôn ngữ mà Luther quen dùng thì Đức Kitô là Vua và là Chúa Tể của Thánh Kinh.

Thứ đến, lời rao giảng của Giáo Hội cũng làm chứng cho Đức Kitô, nhưng lời của Giáo Hội luôn luôn phải được cân nhắc một cách có phê phán dựa vào lời Thiên Chúa được ban cho qua Thánh Kinh. Khi Thánh Thần muốn ngỏ lời qua tác vụ của Giáo Hội thì những lời được rao giảng và những bí tích trở thành những phương tiện chuyên chở mạc khải.

Theo những nhà thần học này thì nội dung của mạc khải là Thiên Chúa, Đấng làm phát ngôn viên để mạc khải chính Ngài. Đặc biệt Barth cho rằng Lời và Thánh Thần – trong tư cách là những phương diện bổ sung nhau để làm thành mạc khải – trình bày cho thấy Thiên Chúa là Đấng Tam vị Nhất thể. Quan điểm của Jungen và Moltmann cũng không kém Barth rằng mạc khải – hiểu là sự tự chuyển thông của Thiên Chúa – không thể được thấu hiểu ngoại trừ trong quan hệ ba ngôi. Trong khi đồng ý rằng Thiên Chúa mạc khải chính Ngài, phái Bultmann nhấn mạnh rằng khi làm thế, Thiên Chúa cũng mạc khải chúng ta cho chính chúng ta – giúp chúng ta tự hiểu đúng về mình. Một khi được hiểu đúng, sự hiểu biết này có thể được dung hòa với sự nhấn mạnh của Barth về tính tiên quyết của Thiên Chúa. Vả chăng Barth cũng nhìn nhận sâu xa rằng lời của Thiên Chúa nơi Đức Kitô giúp chúng ta hiểu được mình là những tội nhân, những con người bất lực, những kẻ được mời gọi để sống và là những kẻ đã được thứ tha.

Dù Barth không rõ ràng loại trừ cái khả năng cứu chuộc mà không có mạc khải, đối với những tác giả này sự gắn kết giữa mạc khải và ơn cứu độ vẫn là một sự gắn kết tự bên trong. Như chúng ta đã thấy, họ xác định rằng mạc khải không chỉ là một giáo thuyết về sự cứu độ nhưng còn là một hành vi chuyển trao ơn cứu độ. Ebeling tỏ ra trung thành với mẫu thức này khi tuyên bố: “Trong tư cách là một biến cố mang tầm mức mối giao hảo giữa Thiên Chúa và con người, mạc khải không duy chỉ bao hàm trong việc chuyển trao một giáo thuyết cứu độ nhưng đúng hơn mạc khải hệ tại ở việc đem Thiên Chúa và con người xích lại với nhau và giao hòa hai bên.” Theo Ebeling, mạc khải không làm tăng thêm kiến thức nhân loại ngoại trừ việc thay đổi căn cơ cuộc hiện sinh của con người.

Theo mẫu thức biện chứng này thì sự đáp trả đúng đắn đối với mạc khải chính là đức tin. Bởi đức tin vốn thuộc về yếu tính của mạc khải nên sự đáp trả của đức tin được nội hàm trong chính định nghĩa về mạc khải. Trong tư cách là một sự đáp trả, đức tin trước hết là sự tuân phục riêng tư – còn sự nhất trí chính thức chỉ là vấn đề thứ yếu. Dù vậy cũng hàm chứa một tri thức mới mẻ về Thiên Chúa và về chính bản ngã mình, vì những kẻ tin đi đến nhìn nhận chính họ là những tội nhân được Thiên Chúa ân cần tiếp nhận vào trong mối thân hữu với Ngài.

Những Đóng Góp Của Mẫu Thức Biện Chứng

Mẫu thức biện chứng về mạc khải không thiếu nền tảng Thánh Kinh, Barth và Bultmann đã cắm sâu vào Thánh Kinh bằng những cách thức khác nhau. Thần học mạc khải của họ âm vang lời loan báo có sức xét xử và chữa trị của các ngôn sứ và của “Lời Thập Giá” được Phaolô loan báo (1 C 1,18). Nó cũng liên hội nhiều luận điểm đặc sắc của các nhà cải cách thế kỷ 16, nhất là Luther. Với đặc tính qui về Thánh Kinh, thần học biện chứng của những thập niên 1920 và 1930 đã cung ứng trước một số trong những nguyên tắc mà theo đó các thần học gia thuộc nhóm “chú giải mới” (E. Fuchs, G. Ebeling, và những người khác) sẽ đem lại sinh khí tươi mát cho thần học Thánh Kinh vào giữa thế kỷ.

Vào cái thời mà ý niệm mạc khải bị tấn công dữ dội bởi phái duy nghiệm và phái tự do – là những người cho rằng tất cả chân lý chỉ là kết quả đạt được của con người – thì thần học biện chứng đã giúp cho các nhà giảng thuyết và các thầy dạy Kitô giáo một lần nữa có thể ăn nói một cách xác tín nhân danh Thiên Chúa mạc khải. Các vị ấy đã đem lại được một sự củng cố mới cho các ý nghĩa thuộc truyền thống và thuộc Thánh Kinh về tội và về ơn cứu chuộc. Thần học biện chứng cũng có một tiêu điểm Kitô học rõ ràng, vì nó nhìn một cách độc tôn rằng Đức Kitô là mạc khải của Thiên Chúa. Trong trường hợp của Barth, sự nhấn mạnh hai mặt về lời và Thánh Thần làm cho giáo thuyết về mạc khải trở thành khởi điểm cho một thần học cách tân về Ba Ngôi. Nhìn Thánh Kinh và truyền thống thần học một cách nghiêm túc hơn so với kể từ thời cải cách, thần học biện chứng đã đóng vai trò mũi xung kích trong đại cuộc phục hưng thần học hệ thống của Tin Lành.

Bằng việc phủ nhận sự cần thiết phải làm cho đức tin có tính phù hợp, thần học biện chứng đã thật sự tháo gỡ nhiều chống đối đặt nền tảng trên sự bất phù hợp mà người ta đã gán cho sứ điệp Kitô giáo. Chính trong việc tẩy chay khoa minh giáo lại cho thấy hiệu năng minh giáo. Trong mức độ mà nó từ chối không trói buộc lời của Thiên Chúa vào bất cứ sự kiện lịch sử đặc biệt nào hay bất cứ lời tuyên bố nào của Thánh Kinh, mẫu thức này đã giải phóng người tín hữu khỏi mối lo sợ gây ra do những giả thuyết mới của các công trình nghiên cứu của phái tự do và phái cấp tiến. Nỗ lực giải trừ huyền thoại của Bultmann có thể được triển khai từ trong khuôn khổ của thần học biện chứng.

Cuối cùng, thần học biện chứng về mạc khải – trong khi không nhấn mạnh đến phạm trù kinh nghiệm tôn giáo – lại giúp cho những người tin một lần nữa thêm khả năng để có được một cảm nghiệm về cuộc gặp gỡ Thiên Chúa siêu việt như mầu nhiệm tuyệt đối. Ngay cả khi phát biểu chống lại tôn giáo, các người thuộc nhóm của Barth vẫn thỏa mãn được cho cái nhu cầu của nhiều Kitô hữu cảm thấy phải qui phục một vị Thiên Chúa tối thượng. Thật bất ngờ, chính sự phi bác tôn giáo đã được dùng đến để phục vụ cho các mục đích của tôn giáo.

Phê Bình Mẫu Thức Biện Chứng

Tạo được ấn tượng lớn là thế, mẫu thức biện chứng về mạc khải vẫn không giành được sự ủng hộ rộng rãi. Các thần học gia bảo thủ và chính thống đã không mấy hài lòng với cách thức mà mẫu thức này vòng vo tránh trớ giáo huấn rõ ràng của nhiều bản văn Thánh Kinh và những tuyên bố của Giáo Hội, cũng như khó chịu về cách nhìn lịch sử Thánh Kinh một cách xoàng xĩnh của mẫu thức này. Đàng khác, phái thần học tự do đã phàn nàn mẫu thức này vì nó đã cố gắng hoàn trả lại thẩm quyền của Thánh Kinh và những chủ điểm của tín lý truyền thống.

Mẫu thức thần học này bị công kích nhiều nhất là ở chỗ nó thiếu sự nhất quán bên trong. David Kelsey nói: “Có một điểm gặp nhau trong phê phán của các nhãn giới thần học hoàn toàn khác nhau, đó là: những giáo thuyết gọi là “có tính Thánh Kinh” về “mạc khải” được phát triển trong kỷ nguyên tân chính thống thì đều không có tính nhất quán về mặt ý niệm. Một cách dũng cảm đáng kể những thần học gia nầy xác quyết rằng lời của Thiên Chúa là chuẩn mực đánh giá mọi lời của con người, nhưng rồi họ thêm rằng lời của Thiên Chúa không bao giờ có ai đạt đến được trừ phi lời ấy nằm trong lời bập bẹ của con người. Theo Barth, nhà giảng thuyết phải đương đầu với chuyện không-thể-làm-được đó là phải nói về cái không thể nói được bằng lời, và do đó phải dùng những kiểu nói sai lạc nếu như không phải là trái ngược hẳn. Nhưng hai khía cạnh mâu thuẫn này trung hoà nhau, mà ngã ngũ là Thiên Chúa được thay bằng một khoảng không mông mênh. Hans Urs von Balthasar đặt vấn đề: “Làm sao sự trống không nầy lại có thể là một bảng chỉ đường đích thật? Tại sao nó không thể chỉ ngược lại hoặc chẳng chỉ gì cả cơ chứ? Phương pháp biện chứng vì thế đã không tạo được nhịp cầu bắc qua “sự khác nhau vô hạn về phẩm tính” giữa Thiên Chúa và tạo vật, Thiên Chúa vẫn cứ còn giấu ẩn.

Langdon Gilkey đã dồn Barth và phái tân chính thống vào cùng một thế lưỡng nan mà ta đã thấy ông làm trong cuộc đương đầu với G.E. Wright và các thần học gia thuộc mẫu thức lịch sử cứu độ. Theo Gilkey, sự nhận hiểu theo Thánh Kinh và theo truyền thống về Thiên Chúa như Đấng Sáng Tạo và Chủ Tể tối cao không thể phù hợp với cách hiểu có tính thế tục hiện đại được thấy nổi bật trong các công trình của những thần học gia này. Gilkey viết: “Khía cạnh hiện đại của tân chính thống – dường như đã làm cho trở thành không thể – cái mà tính chính thống của nó đòi phải có – đó là mối liên hệ trực tiếp với một lời mạc khải khách quan của Thiên Chúa.””

Khi các thần học gia biện chứng nói về việc tự mở lộ của Thiên Chúa xuyên qua các hoạt động của Ngài trong lịch sử, ngôn ngữ nghịch lý của họ trở nên rất tối tăm. Bằng những kiểu nói nóng bỏng họ tham chiếu đến những việc làm đầy quyền năng của Thiên Chúa trong việc giải thoát dân Israel ra khỏi vòng cương tỏa bên Ai Cập và bên Babilon, và trong việc nâng Đức Giêsu dậy từ cõi chết. Nhưng đồng thời họ lại phủi bỏ ý niệm đã được chấp nhận về lịch sử cứu độ, phủ nhận rằng không có phẩm tính cốt yếu nào phân biệt lịch sử đặc biệt của mạc khải với các biến cố lịch sử thông thường. Ở điểm này họ cầu cứu đến những phạm trù như “lịch sử tiên quyết” và “biến cố cánh chung” là những phạm trù (được thẩm định là) phân biệt hành động “biến đổi lịch sử” của Thiên Chúa với những biến cố trong tầm mức lịch sử thông thường. Họ xác quyết rằng đức tin nhất định không bao giờ lệ thuộc vào những gì mà sử gia đời có thể đem lại (bằng cách sử dụng những kỹ thuật của khoa sử học). Nhưng nếu đức tin được đặt nền trên chỉ chính nó thì làm thế nào để phân biệt nó với một sự cuồng tín có tính độc đoán và đáng tởm gớm đây? Đâu là thực tại khách quan của một việc làm của Thiên Chúa vốn không thể được biện biệt trừ phi nhờ đến đức tin để giải thích rằng đó là việc làm của Thiên Chúa?

Những vấn đề như thế càng đặc biệt trở nên thời sự trong lãnh vực Kitô học. Các thần học gia biện chứng nhất tề xác định sự đồng hóa giữa mạc khải với Đức Giêsu Kitô, nhưng họ rất mập mờ trong vấn đề trình bày sự liên hệ giữa Đức Kitô của đức tin với Đức Giêsu lịch sử. Nếu Đức Kitô của đức tin và của lời rao giảng hoàn toàn không dính dáng gì đến những kết quả điều tra sử học thì một hố thẳm sẽ mở ra giữa đức tin và lịch sử thực, và thật khó hiểu được làm sao việc đón nhận “kerygma” Kitô giáo lại không giống với việc đón nhận một thần thoại. Vào cuối thập niên 1950 và đầu thập niên 1960, một số thần học gia trẻ hơn thuộc các trường phái Barth và Bultmann đã đề xướng luận thuyết rằng Đức Kitô là một biểu tượng thuần túy theo đó một cộng đoàn đức tin nào đó chọn để diễn tả cách hiểu của mình về cuộc hiện sinh chính thực mà mọi hữu thể nhân loại – kể cả những người không được biết đến Tin mừng – được mời gọi thực hiện. Cũng khoảng thời kỳ ấy một nhóm thần học gia khác – mà đôi khi người ta gọi là “phái hậu Bultmann” – đã khẳng định tầm quan trọng của một “cuộc tìm thám mới”về Đức Giêsu lịch sử, rõ ràng là để chứng rỏ rằng Đức Kitô của đức tin không phải là một dự phóng thuần túy do trí tưởng tượng sùng ngưỡng đẻ ra. Dù người ta chấp nhận cách hiểu rằng Đức Kitô là một huyền thoại Kitô giáo hay họ khơi động dậy vấn đề về Đức Giêsu lịch sử – thì họ cũng đang xuất phát một cách đầy bi kịch từ mẫu thức biện chứng và đang quay về với chủ nghĩa tự do của Ritschl và của Troeltsch.

Vì rất nhiều lý do khác nhau, mẫu thức biện chứng về mạc khải xem ra bất lợi cho cuộc đối thoại giữa các tôn giáo. Barth và những người khác thuộc phong trào nầy đã thường xuyên có phát biểu rất tiêu cực về tôn giáo nói chung và nhất là về những tôn giáo ngoài Kitô giáo. Họ cũng nghiêng chiều về một “độc tôn Kitô thuyết” nào đó (theo cách nói của G.E. Wright) – họ không chấp nhận rằng mạc khải có thể xảy ra trong một hình thức nào đó ngoài Đức Giêsu Kitô, Lời của Thiên Chúa.

Tuy nhiên, những khó khăn nầy xem ra không phải là không thể vượt qua. Khi Barth nói về tôn giáo bằng những kiểu nói hạ giá thì đó chỉ là vì ông đang nhấn mạnh một khía cạnh trong biện chứng của ông. Ông có thể nói đại khái như: “Mạc khải có thể nhận lấy tôn giáo và đánh dấu đó là tôn giáo thật.” Mối tương quan giữa mạc khải và tôn giáo có tính nghịch lý. Barth muốn “sublate” tôn giáo qua mạc khải, chứ không chỉ đơn giản là muốn cáo chung nó.

Việc dư luận dị nghị mẫu thức biện chứng không có tính nhất quán bên trong không hề gây bối rối cho các khuôn mặt thuộc mẫu thức này. Họ đặt vấn đề rằng nếu mạc khải có thể hoàn toàn liên hợp với bất kỳ hệ thống nào đó của con người thì liệu đó có còn là mạc khải nữa không? Nếu nó có thể được chứng minh từ một quan điểm ngoài đức tin thì liệu người ta còn cần đến mạc khải làm gì nữa? Chỉ bằng cách giữ cho lời Thiên Chúa không bị lộn xộn với lời của con người thì người ta mới có thể bảo toàn được phẩm tính tốt đẹp của mạc khải. Chức năng chính của mạc khải khi nó gặp gỡ các hệ thống của con người đó là vạch cho thấy sự bất tương ứng của những hệ thống đó do bởi chúng được triển khai từ sự giới hạn và tội lỗi. Trong thần học biện chứng, những chủ đề của phái cải cách về sự hư hỏng hoàn toàn của con người và về ân sủng nhưng không của Thiên Chúa được vận dụng một cách chặt chẽ cho giáo thuyết mạc khải.

Mẫu thức biện chứng cố nêu bật lên vấn đề ngôn ngữ tôn giáo. Nó tìm cách chuyển đạt bằng ẩn dụ và bằng sự nghịch lý những gì mà diễn từ xác định trực tiếp không vươn tới được, và qua đó nó gợi cho thấy rằng đối với thần học có những phương thức tri thức phi xác định về tầm quan trọng có tính quyết định. Đặc điểm ngữ văn của Barth và của những người thuộc nhóm ông ta (nhưng nhất là của Barth) không chỉ là cái gì để điểm xuyết cho thần học của họ mà đúng hơn đó chính là sự sống còn và là bản chất của thần học đó. Những nhà thần học này chủ trương rằng chỉ bằng ngôn ngữ biện chứng người ta mới có thể ăn nói về giới thần linh mà không giam hãm nó trong những cơ cấu ý niệm của con người.

Văn phong bóng bẩy của những nhà thần học này – với những tương phản đáng kể của nó – đã đem lại một trong những thành tựu vang dội nhất của thần học thế kỷ XX. Nhưng phải chăng có thể gọi một tấm mạng che đậy những xung khắc như thế là một thần học mạc khải? Nếu không ai có đủ khả năng lĩnh hội lời của Thiên Chúa thì có thể có mạc khải không? Và nếu người ta có thể lĩnh hội lời đó, thì phải chăng họ phải nhận nó trong sự mâu thuẫn của chính nó? Trả lời “có” và “không” đồng thời thì vẫn chưa dứt điểm vấn đề.

Do những khó khăn này mà chẳng lạ gì khi thấy thần học biện chứng – trong hình thức sắc bén của nó – đã chỉ đóng vai trò một giai đoạn trong toàn sự nghiệp suy tư của các tác giả liên hệ. Khi những tác giả nầy muốn tìm cách suy tư thêm về ý nghĩa của Tin mừng, họ đã vượt quá lối suy nghĩ biện chứng để bước vào một thần học có tính xác định hơn về lời tuyên giảng. Không từ bỏ tính cách biến cố hoàn toàn của lời Thiên Chúa, và bao hàm trong đó là sự từ chối căn cơ của con người, những nhà thần học này đã áp dụng một cái gì đó gần giống như cách nói loại suy của truyền thống cổ điển. Tư tưởng nhân vị của Brunner, hiện sinh của Bultmann, thần học hoà giải của Barth cuối cùng đã xé ra khỏi bộ khung yếu ớt của tư tưởng biện chứng. Trong những hệ thống này luôn tồn tại một giai đoạn đậm tính phủ định, nhấn mạnh cho người ta thấy sự bất tương ứng của mọi khẳng định của con người về Thiên Chúa. Nhưng giáo thuyết loại suy cổ điển cũng chứa một cấu tố phủ định phản ảnh nhận thức rằng bất cứ nét giống nhau nào giữa tạo vật và Thiên Chúa cũng đều bị chế định bởi một nét khác nhau còn to lớn hơn nhiều.

Bất cứ khi nào thần học bị cám dỗ quên đi những giới hạn riêng của nó và tự nhận là nắm vững hoàn toàn sứ điệp mạc khải, thì những phủ định mạnh mẽ của thần học biện chứng vẫn còn có một giá trị giúp điều hợp lại. Những phủ định này có thể được hòa điệu không và hòa điệu đến đâu với sức ép tích cực hơn của các mẫu thức khác là một vấn đề mà chúng ta còn phải xem xét sau này.

Lm. Lê Công Đức dịch từ

nguyên tác Models Of Revelation

của Avery Dulles, S.J.

do nhà Image Books – New York xuất bản, 1985

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s