Vài gợi ý để Huấn Luyện Truyền Thông giữa Tôi và Anh Chị em (bài 3)

VRNs (09.04.2015) -Sài Gòn-

 NHÌN VỀ BẢN THÂN VÀ ANH CHỊ EM TRONG CỘNG ĐOÀN CHÚNG TA

 A: KIỂM LẠI THÁI  ĐỘ ĐỐI VỚI BẢN THÂN

Chúng ta  hãy hồi tâm suy nghĩ xem, mình muốn chọn vật gì, hay cái gì, để làm biểu tượng cho lý tưởng sống đời mình. Thực thể con người chúng ta được biểu lộ nơi những lời giải thích cho vật được dùng làm biểu tượng.

Hãy nhìn chính bức hình của mình, hoặc nhìn chính mình trong gương. Hãy chú ý xem phản ứng của ta như thế nào trước bức ảnh đó, hay trước hình ta trong gương? Ta vui vẻ chấp nhận hay cảm thấy không thích, không muốn ngắm bức hình?

Ta thực tập đối diện với chính thực thể và hình dáng của mình. Và thái độ của ta đối với ta là thái độ quan trọng nhất trong các thái độ. Thái độ này được các nhà tâm lý so sánh như thể chiếc lăng kính, nghĩa là ta sẽ nhìn về tất cả mọi sự chung quanh tùy theo thái độ của ta đối với chính mình ta.

Thái độ của ta đối với chính mình, luôn luôn có ảnh hưởng trên những thái độ khác của ta đối với những sự vật hay những người khác.

Không những thái độ của ta đối với những người khác hay vật khác tùy thuộc vào thái độ của ta đối với chính mình, nhưng còn thêm điều này nữa là chúng ta hành động cũng tùy theo thái độ của mình đối với mình. Nói cách khác, thái độ của ta đối với chính ta cũng có ảnh hưởng trên chính những hành động của ta nữa. Thí dụ, nếu ta nhìn mình như  là một kẻ thua thiệt, dễ thất bại, thì ta sẽ hành động như kẻ bị thua thiệt, dễ thất bại. Nếu ta kể mình như kẻ bị người khác ăn hiếp, thì ta luôn luôn có những hành động bực tức muốn trả thù để bù đắp lại. Nếu ta có thái độ nhìn về mình luôn trong lăng kính tiêu cực, thì lúc nào ta cũng có những hành động, những phản ứng tiêu cực. Nếu ta có thái độ bực dọc với chính mình, thì lúc nào ta cũng hành động bực dọc.

Những người da đỏ tại Châu Mỹ còn giữ lại trong kho tàng văn hóa của họ một câu chuyện thần thoại nhiều ý nghĩa, có tựa là “Trứng chim phượng hoàng”. Câu chuyện như sau. Có một anh nông dân nọ, một ngày kia lượm được một trứng chim phượng hoàng. Lòng tốt thôi thúc anh đi tìm ổ phượng hoàng để trả lại, nhưng không tìm được ổ phượng hoàng, anh đành đem trứng đó đặt vào ổ vịt. Vịt nở và trứng phượng hoàng cũng nở. Phượng hoàng con sống giữa đàn vịt, lặn lội trong nước, ăn uống, đi đứng, kêu la, tất cả đều giống như bao con vịt xung quanh. Phượng hoàng con không bao giờ đặt vấn đề mình là ai, cứ nghĩ mình là vịt như bao con vịt khác. Nhưng một ngày kia, trong một lần đi ăn chung với các bạn vịt khác, con phượng hoàng bỗng nhìn lên trời và nhìn thấy một phượng hoàng oai nghi bay lượn qua lại. Con phượng hoàng dưới đất bỗng cảm thấy như mình muốn bay cao oai nghi như vậy. Khi nó sắp vỗ cánh bay lên, thì những con vịt bên cạnh mắng nó rằng: Đừng làm kiêu, muốn bắt chước kẻ khác. Các con vịt xung quanh đều quả quyết rằng nó chỉ là con vịt mà thôi, không thể bay cao như con phượng hoàng oai nghi kia. Thế là con phượng hoàng lạc loài kia sống và chết trong xác tín sai lầm mình chỉ là con vịt không hơn không kém.

Chuyện cổ tích này nói lên ý nghĩa sâu xa mà chúng ta vừa nhắc ở trên. Thái độ của ta đối với chính mình có ảnh hưởng trên chính hành động của ta. Dù là phượng hoàng, nhưng nếu cứ nghĩ mình là vịt, thì sẽ hành động như vịt. Chúng ta sống và chết theo quan niệm chúng ta có về chính mình.

Nhưng chưa hết. Còn một khía cạnh nữa. Đó là thái độ mà ta có đối với chính mình còn có ảnh hưởng trên thái độ của kẻ khác đối vơi ta nữa. Chúng ta có thể nghĩ đến hình ảnh một học sinh lớp nhỏ, có ý nghịch ngợm mang trên lưng một bảng hiệu với lời thách thức: Mời bạn hãy đá vào người tôi. Chắc chắn thế nào cũng có vài học sinh nghịch ngợm khác đến đá thật vào học sinh mang bảng hiệu kia. Thái độ của ta đối với chính mình là như một lời mời gọi kẻ khác hãy có phản ứng đúng theo như vậy. Một người gặp nhiều phiền phức đến xin ý kiến một nhà tâm lý giáo dục về việc anh phải sống, hành động như thế nào, để đừng gặp phiền phức nữa với những người xung quanh. Nhà tâm lý đó trả lời như sau: Trước hết, anh hãy thay đổi chính mình, hãy thay đổi thái độ của anh đối với chính anh, rồi sau đó những kẻ xung quanh sẽ thay đổi thái độ của họ đối với anh.

Hãy biết rõ về chính mình và hãy thay đổi chính mình, để những kẻ xung quanh cũng thay đổi thái độ của họ đối với ta.

Câu nói này, hay nguyên tắc này, mở đầu xem ra như không có ý nghĩa gì, hay có ý nghĩa mà ta có thể cho là mâu thuẫn. Tại sao phải canh tân chính mình, canh tân nhất là chính mối tương quan của ta đối với ta trước?  Tại sao phải làm như vậy, để canh tân mối tương quan giữa ta với kẻ khác. Thí dụ như, nếu cứ nhìn mình với nhiều mặc cảm, ta đâm ra buồn bực với chính mình, rồi  làm cho người khác dễ bực dọc với ta. Thái độ của ta đối với chính ta là như tấm bảng hiệu báo cho kẻ khác biết ta là ai, và cám dỗ, hay thôi thúc họ có thái độ phản ứng lại, theo như ta muốn.

Nếu ta có thái độ nhìn mình như kẻ hèn kém thua thiệt, không đáng được kính trọng, khép nép đứng ngoài cửa, thì chắc chắn rằng thái độ như vậy sẽ làm cho kẻ khác không kính trọng ta. Nhưng nếu ta  có thái độ tự trọng và tự tín đối với chính mình, thì thái độ này cũng sẽ làm cho kẻ khác kính trọng ta. Hãy thay đổi thái độ đối với chính mình, thì những người xung quanh họ cũng sẽ tự động thay đổi thái độ của họ đối với ta.

Từ nguyên tắc trên, các nhà tâm lý giáo dục rút ra hay trình bày thêm cho chúng ta một nguyên tắc khác nữa, mà mới vừa nghe qua lần đầu, bạn có thể cho là mâu thuẫn. Nguyên tắc là: Chúng ta không thể yêu mến kẻ khác, nếu chúng ta không biết yêu thương chính mình. Nói cách khác, yêu thương chính mình la điều kiện tiên quyết phải có, để sống yêu thương kẻ khác. Nghe qua, nguyên tắc này như dạy chúng ta sống ích kỷ.

Mệnh lệnh của Thiên Chúa là hãy yêu thương anh chị em như yêu thương chính mình. Trên bình diện tâm lý, trong viễn tượng đã được giải thích, chúng ta có thể giải thích mệnh lệnh Chúa như sau: Hãy yêu thương chính mình trước, như thế bạn sẽ yêu thương được kẻ khác. Nếu bạn chối từ không yêu mến chính mình, thì bạn sẽ không thể nào yêu mến anh chị em xung quanh được. Thái độ của ta đối với chính mình là điều căn bản điều khiển khả năng yêu thương của ta đối với anh chị em xung quanh và đối với Thiên Chúa. Nếu thái độ của ta đối với chính mình bị què quặt, thì khả năng yêu thương của ta đối với anh chị em xung quanh cũng bị sứt mẻ, què quặt lây. Chúng ta có thể lấy thí dụ sau đây làm điểm quy chiếu:  Khi ta có thái độ nhàm chán đối với chính mình, thì ta sẽ không còn hăng say đủ để dấn thân phục vụ kẻ khác. Khi ta cảm thấy mình trống rỗng, thì ta khó mà sống yêu thương phục vụ anh chị em một cách hữu hiệu được. Khi ta nhìn mình trong viễn tượng yếm thế, chán đời, thì làm sao ta có thể dấn thân yêu thương phục vụ anh chị em. Khi ta cứ nghĩ lẩn quẩn với những tư tưởng tiêu cực trong tâm trí, thì làm sao ta có thể dấn thân phục vụ anh chị em. Chính trong viễn ảnh tâm lý này, mà các nhà tâm lý gíao dục quả quyết rằng: ta phải yêu mến chính mình trước, để rồi có đủ khả năng yêu thương phục vụ anh chị em. Vấn đề căn bản ở đây là ý nghĩa đích thực của hành động yêu thương. Việc yêu thương chính mình, cần được hiểu như thế nào. Chắc chắn không thể hiểu theo nghĩa xấu, như là một thứ ích kỷ. Người ích kỷ không thể yêu thương  và phục vụ anh chị em. Dĩ nhiên là như vậy. Nhưng khi nói: yêu thương chính mình, để có khả năng yêu thương kẻ khác, thì các nhà tâm lý không có ý nói đến tình yêu ích kỷ. Không ai dại gì mà đi lấy tính ích kỷ làm nền tảng cho tình yêu vị tha đối với anh chị em xung quanh. Không phải như vậy. Các nhà tâm lý hiểu câu nói: Hãy yêu thương chính mình trước theo nghĩa tình yêu thương chân chính đối với chính mình, nghĩa là thái độ tích cực đối với chính mình, quý trọng phẩm giá và tài năng của mình. Những yếu tố này làm cho mỗi người chúng ta gia tăng khả năng sống yêu thương và phục vụ anh chị em xung quanh. Nói cách khác, ta càng sống, càng đối xử với chính mình một cách tích cực, thì ta càng được trưởng thành, được tự do, để yêu thương phục vụ anh chị em. Chúng ta càng có hình ảnh tích cực về chính mình thì chúng ta càng có khả năng sống phục vụ anh chị em xung quanh.

Nhưng không phải là một chuyện dễ dàng, để có một hình ảnh tích cực về chính mình. Mỗi người chúng ta có những yếu tố bất toàn cần lưu ý thăng tiến từ từ mỗi ngày một biến đổi tốt đẹp hơn. Chúng ta cần phải cố gắng luyện thân, luyện tâm, luyện tánh mỗi ngày, để có hình ảnh tích cực về chính mình, để yêu thương chính mình một cách đích thực mà không rơi vào  sự ích kỷ, để rồi sau đó luyện tập cho mình có khả năng sống yêu thương kẻ khác.

Kết luận cho những gì được chia sẻ trên đây, ta hãy suy nghĩ rồi liệt kê ra tất cả những đức tính, những yếu tố tích cực đáng yêu nơi chính con người mình. Hãy liệt kê ra tất cả, đừng quên sót bất cứ điều gì là tốt đẹp nơi bạn. Rồi hãy giữ kỹ bảng liệt kê này, lâu lâu đọc lại một lần, để nhắc bạn nhớ những gì là tích cực nơi chính bạn, nhất là khi bạn cảm thấy mình xuống tinh thần, buồn chán muốn buông xuôi. Ý thức về những đức tính tốt, những điều tích cực nơi mình, bạn sẽ củng cố được tinh thần tích cực nơi chính bạn, và từ từ luyện cho mình một thái độ sống tích cực hơn, và do đó, có khả năng yêu thương phục vụ hơn.

Phát triển những tính tốt, những tài năng mình có, không nên đưa ta đến thái độ tự kiêu khinh chê kẻ khác không có nhiều điểm tích cực như ta. Làm sao để tránh có thái độ tự kiêu, khi nhìn đến những điểm tốt nơi chính mình? Liệu khi nhìn về những điều tốt nơi bản thân, chúng ta có bị rơi vào cám dỗ sống tự phụ, kiêu ngạo, khinh chê anh chị em xung quanh hay không?

Có thể có người nghĩ thầm rằng việc yêu mến những điều tốt nơi mình đi liền với sự kiêu ngạo và như thế nghịch lại với nhân đức khiêm nhường của đạo Chúa. Nếu  hiểu nhân đức khiêm nhường như là một sự chối bỏ những điều tốt mình có, vừa đồng thời cứ chú trọng đến những tật xấu, những lầm lỗi, thì quả thật thái độ yêu mến quý trọng những điều tốt nơi chính bản thân là một việc làm nghịch lại sự khiêm nhường. Nhưng sự khiêm nhường được hiểu như vậy,  quả thật không phải là sự khiêm nhường của đạo Chúa.

Một trong những giáo phụ của Giáo hội Công giáo, thánh Ambrosio, giám mục Milano, sống vào cuối thế kỷ thứ tư đã hiểu và giảng dạy rằng nhân đức khiêm nhường đích thực được gặp thấy trong bài ca Linh Hồn tôi ngợi khen Chúa, Magnificat, của Đức Maria, Mẹ Chúa Giêsu. Đức Maria là mẫu gương nhân đức khiêm nhường đích thực.

Thánh giám mục Ambrosio đã gặp thấy nơi những lời kinh thánh vừa trích một định nghĩa đúng đắn cho nhân đức khiêm nhường. Nhân đức khiêm nhường trước hết đòi hỏi con người biết quý trọng, biết đánh giá tốt tất cả những hồng ân Thiên Chúa ban cho. Và từ đó, yếu tố thứ hai của nhân đức khiêm nhường là lòng biết ơn nhìn nhận rằng tất cả những hồng ân Thiên Chúa ban cho mình, là thuần túy những hồng ân nhưng không từ tình thương của Thiên Chúa đối với mình, chớ không do công nghiệp gì riêng. Không ai trong chúng ta có quyền đòi buộc Thiên Chúa phải làm điều này điều nọ cho mình. Vậy, biết đánh giá những điều tốt nơi mình như là hồng ân của Thiên Chúa, và dâng lời chúc tụng cảm tạ Thiên Chúa vì những hồng ân đó, đó là nhân đức khiêm nhường. Và một khi hiểu như vậy, ta nhận thấy rằng nhân đức khiêm nhường, không có gì nghịch lại với việc mỗi người chúng ta cần biết rõ tất cả những điều tốt nơi chính bản thân.

Kết thúc những chia sẻ về thái độ đối với chính bản thân, nhất là đối với những điều tích cực, những điểm tốt nơi con người mình, chúng ta cần lưu ý một nguy hiểm khác mà chúng ta có thể rơi vào, đó là quên mất những giới hạn của chính thực thể mình. Nhìn về những điều tốt nơi bản thân, không có nghĩa là không nhìn nhận những lỗi lầm, những thiếu sót, những giới hạn nơi chính bản thân. Không phải như vậy. Chúng ta nhìn đến những điều tích cực để được khuyến khích tiến lên mãi, nhưng đồng thời cũng cần ý thức về những bất toàn của mình, mặc dù ta không được để cho những bất toàn đó cản trở, kéo ta trở lui lại với những điểm tiêu cực, nhưng khơi day sự cố gắng vươn lên mãi, noi gương Thiên Chúa Cha chúng ta “Chúng con hãy nên trọn lành như Cha chúng con trên trời là Đấng trọn lành”.

Thiên ChúaCha chúng ta, chấp nhận chúng ta với trọn cả thực thể tốt xấu. Ngài giúp ta chừa bỏ tật xấu và phát triển tính tốt. Những gì tốt ta có là từ Ngài và nhờ Ngài. Chính vì thế mà ta cần sống luôn trong niềm tri ân Ngài. Càng ý thức về điều tốt nơi mình, ta càng phải tri ân Thiên Chúa nhiều hơn nữa. Và đừng quên xin Thiên Chúa giúp chúng ta biến đổi, vượt thắng được những gì tiêu cực trong đời.

Đặng Thế Dũng

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s