Mẫu thức 3: Mạc khải xét như kinh nghiệm nội tâm (5)

VRNs (09.04.2015) – Sài Gòn – Hai mẫu thức ta vừa khảo sát có một số nét chung. Cả hai đều tập trung vào những phương diện khách quan của mạc khải – trong đó mạc khải được hiểu như một sứ điệp thần linh được chuyển thông hoặc bằng lời nói xác định hoặc bằng những sự kiện có một ý nghĩa tôn giáo rõ ràng. Trong mỗi trường hợp, mạc khải qui kết trong một cơ cấu tri thức mạch lạc được bồi đắp dần theo giòng lịch sử dân Israel cho tới – và bao gồm – các Tông Đồ là những vị đi theo Đức Giêsu. Việc lĩnh hội những lời và những hành động của Thiên Chúa như thế sau đó được Giáo Hội đưa vào giấy trắng mực đen – ít là một phần – và truyền lại cho các thế hệ sau. Theo cả hai mẫu thức ấy, hành động mạc khải của Thiên Chúa đã kết thúc với biến cố Đức Kitô hồi thế kỷ thứ I.

Vì nhiều lý do khác nhau, những mẫu thức mạc khải này đã càng ngày càng gặp sự phê phán kể từ đầu thế kỷ XIX. Một đàng người ta cảm thấy những mẫu thức này không đưa ra được sự giải thích thỏa đáng về bản sắc tôn giáo của các dân tộc không thuộc truyền thống Thánh Kinh. Hơn nữa, chúng không mở ngỏ đủ để cho mỗi thế hệ đều có khả năng trực tiếp cảm nhận Thiên Chúa. Và cuối cùng, xem ra chúng quá cột chặt đức tin Kitô giáo vào việc chấp nhận những chứng từ của các tiên tri và các Tông Đồ được ghi lại trong Thánh Kinh. Những chứng từ này được thấy là không đáng tin cậy bởi một số người – và bị xem là không can hệ bao nhiêu với khung cảnh tôn giáo hiện nay bởi những người khác.

15040400

Các Thần Học Gia Thuộc Mẫu Thức Kinh Nghiệm

Vì thế, không lạ gì khi một số đông nhà thần học thế kỷ XX quay qua với kinh nghiệm tôn giáo của người tin xét như là điểm thu nhận hoạt động mạc khải của Thiên Chúa. Kinh nghiệm tôn giáo là một ý niệm rất tế nhị và khó định nghĩa. Đặc điểm của khuynh hướng mà chúng ta tìm hiểu trong chương này là quan điểm cho rằng mạc khải không chỉ được tìm thấy trong kinh nghiệm mà nó còn bao hàm trong một kinh nghiệm trực tiếp về Thiên Chúa, Đấng quan hệ bên trong với mỗi người tin. Vị Thiên Chúa tự mạc khải được thấy là Ngài tự hiện diện trong ý thức của cá nhân người ta theo một cách thức mà nhu cầu trung gian của các dấu chỉ thụ tạo được hạn chế hết sức. Dưới đề mục này chúng ta sẽ kể đến những nhà thần học thuộc nhiều trường phái khác nhau.

Một trong những trường phái đó là tư tưởng Tin Lành tự do phát triển ở Đức do ảnh hưởng của Friedrich Schleiermacher và Albrecht Ritschl. Wilhelm Herrmann, một đại diện tên tuổi của trường phái này vào đầu thế kỷ XX, đã cho rằng mạc khải chủ yếu nằm trong cảm nghiệm nội tâm về sự hiệp thông với Thiên Chúa, và cảm nghiệm này được khơi lên do hình ảnh (Bild) của Đức Giêsu trong Tân Ước. Vào thời gian giao thừa giữa hai thế kỷ, Auguste Sabatier, một người Tin Lành người Pháp theo phái tự do, đã phát triển một lý thuyết có tính duy tân hơn – theo đó mạc khải là sự biểu lộ tích cực của Thiên Chúa nơi lòng đạo sốt sắng do chính Ngài khơi động. Một số nhà duy tân Công Giáo đầu thế kỷ XX như George Tyrrell, do ảnh hưởng một phần bởi Sabatier, đã đồng hóa mạc khải với một kinh nghiệm nội tâm trực tiếp về sự hiện diện cứu chuộc của Thiên Chúa. Baron Friedrich von Hugel – bạn của Tyrrell – đã viết rất hay về yếu tố thần bí trong tôn giáo, song cũng tìm cách để giữ cho yếu tố này được quân bình với những yếu tố có tính cách chế định và thuộc về lý tính.

Trong những thập niên tiếp theo, một số nhân vật tên tuổi của Anh giáo như Evelyn Underhill và Dean W.R. Inge đã đồng hóa chặt chẽ mạc khải với cấu tố thần bí mà họ xem là nền tảng của lòng tín ngưỡng. Nathan Soderblom, tổng giám mục Thệ phản người Thụy Điển, một người bạn tri kỷ của von Hugel – đã khảo sát tiêu thức luận của thuyết thần bí trong những tôn giáo khác nhau. Ở Hoa Kỳ, triết gia duy tâm William Ernest Hocking cũng chủ trương một cách tương tự rằng mọi tôn giáo đều dựa trên một kinh nghiệm thần bí mang tính mạc khải.

Tại Anh, một số học giả Thánh Kinh nổi tiếng – do ảnh hưởng của tư tưởng Tin Lành tự do – đã cố gắng vạch ra chiều kích kinh nghiệm của mạc khải các ngôn sứ, trên cơ sở các bản văn Thánh Kinh, H. Wheeler Robinson và C.H. Dodd (trong tác phẩm đầu của mình) đã phản ảnh khuynh hướng này.

Trong số những nhà triết thần đương thời, John Hick thuộc phái Trưởng lão Anh thu hút nhiều chú ý vì ông gắn tầm quan trọng tri thức với kinh nghiệm thần bí. Ông chủ trương rằng các đấng sáng lập (nổi tiếng) của các tôn giáo là những vị được Đấng Siêu Việt đụng đến ý thức của mình bằng những cách thế mới mẻ với sức kích cảm và với năng lực đặc biệt. Bởi vì mỗi cá nhân đều không ngừng được tác động bởi cùng một Thần Khí bất tuyệt đó nên Hick khẳng định rằng những người khác cũng có thể nhận ra được ý nghĩa và tính khả tín trong những gì mà các nhà thần bí nhận rằng mình có kinh nghiệm.

Trong khi tránh chủ nghĩa cá nhân của những nhà duy tân, thần học siêu nghiệm Công Giáo vào giữa thế kỷ XX định vị mạc khải chủ yếu trong một kinh nghiệm về ân sủng. Theo Karl Rahner, mạc khải tiên vàn xảy ra trong một kinh nghiệm huyền nhiệm về sự hiệp thông với Thiên Chúa, mà trong hệ thống tư tưởng của mình, tác giả này gọi là “mạc khải siêu nghiệm.” Piet Fransen, tu sĩ dòng Tên người Bỉ – vận dụng tư tưởng của Rahner vào thần học ân sủng – chủ trương rằng kinh nghiệm nội tâm là tiêu điểm mà ở đấy mạc khải xảy ra cách cụ thể. Rahner và Fransen, vì cùng khẳng quyết rằng kinh nghiệm siêu nghiệm ấy về Thiên Chúa không có tính khách quan và có liên hệ hỗ tương với mạc khải qua lời và qua lịch sử (Rahner gọi là “mạc khải phạm trù”), nên cả hai không phải là những đại diện tiêu biểu của mẫu thức đồng hóa mạc khải với kinh nghiệm nội tâm. Chúng ta sẽ phải trở lại với Rahner khi bàn đến mẫu thức thứ 5.

Hình Thức Của Mạc Khải

Mặc dù các tác giả vừa đề cập trên đã tiếp cận vấn đề mạc khải từ các góc độ khác nhau, họ phát biểu với sự nhất trí lạ lùng về nhiều vấn đề tiêu thức được thảo luận trong thần học mạc khải.

Một nguyên tắc nền tảng của tất cả những nhà tư tưởng này đó là Thiên Chúa vừa siêu việt vừa nội tại. Vì Ngài là Đấng tuyệt đối và không có gì hạn định nên Thiên Chúa trực tiếp hiện diện với tạo vật ở bất cứ điểm nào, vì “trong Người chúng ta sống và cử động và nhận lấy hữu thể của mình” (Cv 17,28). Xuyên qua kinh nghiệm tôn giáo (được một số tác giả nhìn nhận là có nguồn gốc từ một “cảm thức tôn giáo” hay một “tiên nghiệm tôn giáo”) con người có thể nhận hiểu được sự hiện diện của thần linh. Kinh nghiệm về Thiên Chúa, trong mức độ được hiểu như là công cuộc biến đổi mà Thiên Chúa thực hiện nơi chúng ta, có thể được gọi là ân sủng, và ân sủng – trong mức độ được hiểu như là cái đem lại một nhận thức mới về giới thần linh – thì chính là mạc khải.

Với sự nhất trí một cách thực tiễn với nhau, các tác giả này phi bác bất cứ sự nhị phân nào giữa tôn giáo tự nhiên và tôn giáo mạc khải. Họ chủ trương rằng tôn giáo bao giờ cũng bật ra từ một kinh nghiệm đặc biệt nào đó về giới thần linh. Sabatier cũng khẳng định tương tự rằng các ý niệm về tôn giáo và về mạc khải có liên hệ hỗ tương với nhau và không thể tách rời nhau. Theo Soderblom thì “tôn giáo chỉ là sự mạc khải chủ quan của Thiên Chúa nơi con người – và mạc khải là tôn giáo khách quan nơi Thiên Chúa. Một mạc khải của Thiên Chúa được tìm thấy ở bất cứ chỗ nào một tôn giáo thực được tìm thấy.” Tuy nhiên, Tyrrell chỉ ra rằng chỉ có yếu tố thụ động của tôn giáo mới được gán cho mạc khải. Sự đáp trả chủ động, tức việc chúng ta tạo ra những cách diễn tả và diễn đạt chúng thì không gán cho mạc khải nhưng là thuộc tôn giáo. Tyrrell chủ trương rằng mạc khải siêu nhiên là một sự tiến triển lạ thường về những kinh nghiệm thông thường và phổ quát về đời sống luân lý và thần nhiệm.

Kinh nghiệm bao giờ cũng là kinh nghiệm của một con người cụ thể ở đây và lúc này – vì thế mẫu thức kinh nghiệm không có khuynh hướng muốn phân biệt rạch ròi giữa mạc khải thông thường và mạc khải đặc biệt. Sabatier khẳng định rằng thoạt đầu mạc khải xảy đến riêng tư với những con người và những dân tộc nhất định nào đó (gọi là mạc khải đặc biệt), nhưng dần dần nó đạt được một mức độ phổ biến do việc hội nhập vào tiếng gọi tín ngưỡng chung của nhân loại xét như một toàn thể.

Theo các nhà thần học này thì mạc khải thuộc nội giới là chuyện đã quá rõ, không cần phải nói nhiều. Sabatier viết: “Mạc khải thuộc nội giới bởi vì Thiên Chúa – không hiện hữu theo hiện tượng – chỉ có thể tự mạc khải chính Ngài cho tinh thần và nơi lòng sốt sắng mà chính Ngài đã khơi lên.” Dean Inge khẳng quyết rằng mạc khải chủ yếu thuộc nội tâm và có tính cá nhân. “Tác động từ bên ngoài không thể là gì khác hơn việc củng cố và làm linh hoạt mạc khải trong tâm hồn.” Dù là người nối kết kinh nghiệm mạc khải với con người lịch sử của Đức Giêsu, Herrmann cũng đã phát biểu gần na ná như thế. Ông khẳng định rằng khuôn mặt của Đức Giêsu không phải là mạc khải cho tới khi khuôn mặt đó tác động trên chúng ta như một cái gì chân thực không thể hồ nghi được. “Bất cứ một sự truyền đạt nào cũng chỉ có thể được gọi là mạc khải khi chúng ta tìm thấy Thiên Chúa trong đó. Nhưng chúng ta tìm thấy và có được Thiên Chúa khi Ngài tiếp xúc và nắm lấy chúng ta rõ ràng đến nỗi chúng ta không thể không hoàn toàn thuộc về Ngài. Chúng ta kinh nghiệm được mạc khải của Đấng Toàn Năng trong khoảnh khắc mà chúng ta – với niềm vui sâu thẳm cúi mình trước quyền năng của Ngài. Quyền năng đây chính là tình yêu của Ngài vậy.””

Rahner, bởi vì khẳng quyết những phương diện lịch sử và giáo lý của mạc khải, nên đã không đồng hóa hoàn toàn mạc khải với kinh nghiệm nội tâm. Nhưng nhà thần học này cũng nói về một khoảnh khắc hay chiều kích siêu việt của mạc khải. Theo đó ông giải thích sự tự truyền đạt của Thiên Chúa bằng ân sủng thần linh hóa – trong mức độ mà ân sủng đó can thiệp vào cái nhìn của chúng ta về thế giới. Ông khẳng định: “Mạc khải không thể xảy ra nếu không có cái mà chúng ta có thể gọi là “kinh nghiệm thần bí về ân sủng.” Rahner tiếp tục nói rằng ngay cả đối với những người tin dựa vào chứng từ của những kẻ tiếp nhận đầu tiên – vẫn phải có một kinh nghiệm nào đó về ân sủng, vì nếu đức tin chỉ dựa trên ngôn từ bên ngoài thì nó không thể vượt lên trên bình diện của quan điểm nhân loại. Mặc dù với sự phân tích nội tâm đơn thuần người ta không thể phân biệt được, ân sủng soi sáng như thế đáng được ưu tiên gọi là mạc khải trước cả việc chấp nhận bất cứ sứ điệp cụ thể nào hiểu như là do thần linh mạc khải cho.

Nội Dung Của Mạc Khải

Đâu là nội dung của mạc khải xét như là kinh nghiệm nội tâm? Sabatier đã viết: “Đối tượng của mạc khải của Thiên Chúa chỉ có thể là chính Thiên Chúa – và nếu phải đưa ra một định nghĩa về đối tượng đó, ta có thể cho rằng nó bao gồm việc tạo ra, sự thanh luyện, và ý thức càng ngày càng rõ nét về Thiên Chúa nơi con người – xét từng cá nhân và xét chung cả nhân loại.” Ông nói thêm rằng: “Chúng ta hãy dám kết luận không giống với mọi truyền thống chính thống rằng đối tượng mạc khải của Thiên Chúa chỉ có thể là chính Thiên Chúa – nghĩa là đó là sự hiện diện của Ngài trong chúng ta, đánh thức linh hồn chúng ta sống công chính và yêu thương.””

Trong khảo luận của mình về tri thức thần bí, Hocking đã phát biểu rất tương tự như trên. Ông khẳng định rằng mối quan tâm chủ yếu của nhà thần bí “không phải là tìm ra những điều mới mẻ cho con người xét theo mọi chi tiết, nhưng chỉ là tìm ra cái cốt lõi mà Thiên Chúa đã mạc khải riêng cho mình – …Điều mà nhà thần bí nhận hiểu trước hết chính là điều mà ông muốn nhận hiểu – đó chính là Thiên Chúa – và trong tư cách thuần túy là nhà thần bí thì điều mà ông nhận hiểu không phải là gì khác hơn là Thiên Chúa.” Hocking nói thêm rằng – tuy nhiên, kinh nghiệm nầy về Thiên Chúa “soi sáng mọi cái khác. Tất cả những điều khác được chiếu sáng bởi một ánh sáng bất ngờ, được phơi bày mọi bí ẩn và được tái sinh” mà kết quả là toàn thể thực tại đều hóa nên mới. Như vậy, mạc khải của nhà thần bí không thể dừng lại với cái tuyệt đối, bởi vì mạc khải đó còn khai sinh ra những kinh nghiệm khác nữa.

Trong khi nhấn mạnh đến yếu tố trực tiếp của mạc khải, các nhà thần học thuộc khuynh hướng này thường phủ nhận rằng không có cái gọi là những giáo lý được mạc khải. Họ vạch ra sự phân biệt rõ ràng giữa đức tin – (hiểu như sự chấp nhận mạc khải) và niềm tin – (hiểu như việc qui phục giáo lý). Schleiermacher tuyên bố rằng: “Niềm tin – tức việc chấp nhận điều một kẻ khác đã nói hay đã làm, hay việc ước muốn cảm nghĩ như một kẻ khác đã cảm nghĩ, là một cái gì quá thường” không đáng gọi là tín ngưỡng đích thực. Giáo lý sở dĩ có giá trị là vì xuất phát từ những cảm xúc tôn giáo tự phát thành lời, truyền đạt một cách biểu tượng những cảm động nội tâm của người nói.

Quan điểm của Sabatier rất gần với quan điểm của Schleiermacher. Ông tuyên bố rằng kinh nghiệm nội tâm về mạc khải tự nó diễn dịch thành lời nói và chữ viết, chính vì thế mà mọi tôn giáo lớn đều trình bày mạc khải của mình trong các sách Thánh Kinh. Các giáo lý chứa đựng một chân lý có tính biểu tượng trong mức độ mà chúng diễn tả đúng đắn và đánh động hữu hiệu về ý thức tôn giáo. Nhưng tín điều, xét như một dữ kiện trí năng, không thể được đồng hóa với bản thân mạc khải nếu không muốn rơi vào một sự sùng bái ngẫu tượng. Tôn giáo đích thực sẽ bị phá sản khi đức tin bị ngộ nhận là “một sự hưởng ứng về mặt tri thức đối với một chứng từ lịch sử hay một định thức giáo lý.””

Là người vốn xem mạc khải là một ấn tượng thụ động do kinh nghiệm về giới thần linh, Tyrrell tiếp tục khẳng định rằng không thể có những tuyên bố hoặc những giáo lý được mạc khải, bởi vì những điều này chẳng qua là do tâm trí lập nên. Nhưng ông thêm rằng những sự kiến tạo của tâm trí như thế – dù có tính nhân loại – vẫn có thể có sức gợi ra chân lý mạc khải xét vì chúng xuất ra từ một xung động của mạc khải. Theo Tyrrell, đức tin tông truyền chứa đựng chân lý tôn giáo chứ không phải chân lý khoa học. Xét như là một trình bày có tính biểu tượng rõ ràng về kinh nghiệm của các tông đồ, đức tin ấy luôn luôn có giá trị trong việc định hình và hướng dẫn đời sống tâm linh của các Kitô hữu.

Tyrrelll chủ trương rằng các tín điều của Giáo Hội là “một lớp vỏ bọc bảo vệ hạt nhân là mạc khải tông truyền” – một lớp vỏ bọc rõ ràng hữu ích cho việc gìn giữ mạc khải ấy nhưng không phải là chính mạc khải ấy. Tyrrell khẳng định sở dĩ có chân lý mạc khải trong tín điều thì đấy là vì tín điều bảo trọng tính-biểu-tượng-được-khơi-lên theo đó những chứng nhân nguyên thủy đã diễn tả kinh nghiệm có tính mạc khải của mình.

Cũng như các nhà duy tân đã phân biệt giữa chân lý khoa học và chân lý biểu tượng, Hocking phân biệt giữa chân lý thường nghiệm và chân lý nguyên sơ. Khi nhà thần bí tuyên bố về những điều khác ngoài kinh nghiệm cá nhân của mình về Thiên Chúa, “ông ta đã làm một công việc sơ phác, nghĩa là, mở ra cho người đọc thiện chí sau này đẽo gọt, bổ sung cho những tuyên bố của ông.” Những tuyên bố ấy có thể không đúng thật theo những tiêu chuẩn thường nghiệm thông thường, nhưng đối với người đọc tinh tế và thiện chí thì chúng có chuyển tải một chân lý có tầm sâu hơn. Đối với những “giáo lý vững chắc” của Giáo Hội cũng thế. “Chân lý của họ có tính nguyên, nhưng cũng có tính nữa.””

Phương thức “kinh nghiệm” một cách nào đó có tính lưỡng phân về giá trị rõ ràng của những gì vốn có tính chuyên biệt đối với mỗi truyền thống tôn giáo. Nếu yếu tính của mạc khải được nghĩ là có bao hàm một cuộc trực diện khôn tả với giới thần linh – thì những biểu tượng và những giáo lý đặc thù của mọi truyền thống tôn giáo như ta thấy sẽ được xem như cái gì thứ yếu và phụ tùy. Evelyn Underhill đã nói rất rõ:

Như thế ta có thể nói rằng những đường nét tư duy cụ thể mà nhà thần bí vẽ nên cho điểm nhắm của ông, thần học truyền thống mà ông chấp nhận – thì không có tính chủ yếu. Bởi vì nó không bao giờ tương ứng, và mức độ tương ứng của nó chỉ chiếm tầm quan trọng hạng nhì… Phải thành thật nhìn nhận rằng chẳng có khác biệt đáng kể giữa những nhà đạo sĩ Balamôn, Hồi giáo và nhà thần bí Kitô giáo tại những gì tinh túy nhất của họ.

Đàng khác, tất cả các đại biểu của mẫu thức thần học này đều chia sẻ giả định rằng những dị biệt tôn giáo chỉ có tính phụ thuộc so với kinh nghiệm tôn giáo. Herrmann – như đã thấy – chủ trương rằng kinh nghiệm chắc chắn về mối hiệp thông riêng với Thiên Chúa, tức ý nghĩa thật của mạc khải, chỉ xảy ra với những ai mở lòng đón nhận sự sống thâm trầm của Đức Giêsu như Thánh Kinh và truyền thống Giáo Hội đã cho thấy. Cũng như thầy mình là Ritschl, Herrmann hết sức nghi ngờ thần bí thuyết xét vì thuyết này cố bỏ qua con người Đức Giêsu trong thân phận trần thế của Người và tự nhận rằng có thể kết hợp với giới thần linh một cách trực tiếp chứ không cần trung gian.

Nathan Soderblom, cố tìm một quan điểm trung dung, đã đả kích trường phái của Ritschl rằng đã không lưu ý đến “những hiện tượng quan trọng có yếu tính thần bí trong tôn giáo mạc khải, trong kỷ nguyên Kitô giáo và cả trước thời Đức Kitô.” Vì thế ông phân biệt hai loại thần bí thuyết: – thuyết thần bí về tự nhiên hay về vĩnh hằng, như có thể thấy trong các tín ngưỡng ngoại giáo – và thuyết thần bí về ngôi vị tính, là đặc điểm của đức tin theo Thánh Kinh. Soderblom cho rằng Dean Inge và những người khác đã quá cuồng nhiệt với những kinh nghiệm xuất thần là những kinh nghiệm vươn tới cõi thâm u thần linh hiểu như là cái “vô thể không tên tuổi không hình dạng.” Soderblom lập luận rằng điểm đặc thù hơn nơi tôn giáo mạc khải đó là thẩm quyền riêng của những người được Thiên Chúa tuyển chọn mà qua họ những kẻ khác có được sự hiệp thông với Thiên Chúa. Vì mạc khải Kitô giáo phải được tìm thấy bằng một cách thế đặc biệt nơi “đời sống linh hồn của các tiên tri,” mạc khải ấy hoàn thành nơi con người của Đức Kitô, Đấng chuyển thông cho ta mối thông hiệp của Ngài với Thiên Chúa. Vì thế, Kitô giáo đích thực chỉ biết đến một thẩm quyền – và thẩm quyền ấy có ngôi vị tính.

Thẩm Quyền Và Các Tiêu Chuẩn

  1. H. Dodd, trong một tác phẩm sớm sủa của mình, xem ra đã bênh vực thẩm quyền của Thánh Kinh. Ông không xu theo chủ trương rằng những xác định được ghi lại trong Thánh Kinh tự nó là mạc khải, hoặc cho rằng sự tiếp nhận của các tiên tri được thần linh bảo vệ để tránh mọi sai lầm. Ông tuyên bố rằng mầu nhiệm mạc khải là “mầu nhiệm về cách thế mà Thiên Chúa dùng những tư tưởng, những tình cảm, những ngôn ngữ và những hành động bất toàn của con người dễ sai lầm – để chuyên tải chân lý vĩnh cửu cho chính những con người ấy, và qua họ – cho những kẻ khác nữa.” Ông nhìn nhận rằng Thánh Kinh – xét như một toàn thể – là một mạc khải của Thiên Chúa, một mạc khải đạt đến tột đỉnh của nó nơi cuộc sống và giáo huấn của Đức Kitô. Thánh Kinh chuyển thông chân lý thần linh – trước hết, qua các tiên tri là những người có “thẩm quyền tự nhiên về tôn giáo” – rồi, qua sự vận dụng các nhận thức của các tiên tri nơi toàn thể cộng đoàn, “kinh nghiệm của cộng đoàn qua nhiều thế hệ sẽ giảo nghiệm, củng cố và tu chỉnh những nhận thức ấy; và cuối cùng là qua cuộc sống của Đức Giêsu – “nơi Ngài thiên năng tôn giáo đạt đến tột đỉnh và chuyển đến một cái gì đó còn cao trọng hơn.””

Theo một số tác giả của khuynh hướng này, mặc dù mạc khải xảy ra một cách trọn vẹn nơi đời sống cá nhân của Đức Giêsu – nó vẫn tiếp tục trong thế kỷ đầu của kỷ nguyên chúng ta. Nói theo Sabatier thì “mạc khải thần kinh – nếu không được nhận ra nơi chúng ta và không có tính trực tiếp – thì không tồn tại đối với chúng ta.” Vì thế, mạc khải – dù nó giả thiết một sự sửa soạn về con người và về lịch sử nào đó, vẫn đến với mỗi cá nhân một cách trực tiếp, “vì kẻ bé nhất trong Nước Trời còn cao trọng hơn kẻ lớn nhất trong các tiên tri”; S?derblom nhất trí điều đó. Ông chủ trương “có một mức độ mạc khải – tức một sự tự vén mở thần linh – bất cứ ở đâu có một lòng tín ngưỡng chân thành.” Như thế, không thể trung kiên với đức tin vào mạc khải mà không mở rộng nó ra khỏi những thời kỳ của Thánh Kinh. Mẫu thức kinh nghiệm về thần học mạc khải – vì chấp nhận mạc khải có tính tiếp tục – đã cho thấy có đối nghịch với hai mẫu thức nói trước kia.

Đối với những tác giả này, đâu là tiêu chuẩn của mạc khải chính thực? Tất cả đều hoàn toàn nhất trí tẩy chay mọi chỉ định có tính lý luận như những năng lực tiên tri, những phép lạ, vv… Họ khẳng định rằng tiêu chuẩn của mạc khải là phẩm chất của chính kinh nghiệm. Theo Sabatier thì rõ ràng mạc khải không cần bất cứ chứng cứ nào – vì những chứng cứ sẽ chẳng cho những người vô tín ngưỡng thấy được gì, vì họ đâu có kinh nghiệm – còn đối với người sùng tín thì chứng cứ hóa ra thừa thãi, bởi họ đã có kinh nghiệm mạc khải. Ông viết: “Chỉ một tiêu chuẩn đầy đủ và không thể sai lầm – đó là mọi mạc khải thần linh, mọi kinh nghiệm tôn giáo nào có thể nuôi dưỡng và nâng đỡ linh hồn bạn, phải có thể lặp lại và tiếp tục như một mạc khải thực sự và một kinh nghiệm cá nhân trong chính ý thức của bạn.” Cũng vậy, Tyrrell nại đến điều mà ông gọi là “những tiêu chuẩn của đời sống, của hoa trái tinh thần.” Ông viết: “Những lý do mà chúng ta đưa ra cho mình chỉ là những hậu kết của một sức đánh động không bởi lý luận mà bởi những trực cảm của tinh thần về sự thánh thiện.””

Theo Dean Inge thì tiêu chuẩn vững chắc là phương thế mà sứ điệp mạc khải đánh thức một lời đáp trả trong cõi lòng chúng ta. Ông nói: “Chính Đức Kitô cư ngụ nơi người ta là thẩm quyền tiên quyết.” Soderblom  cũng nhìn nhận rằng chúng ta có được sự chắc chắn “nhờ một kinh nghiệm hiệp thông với sự sống của Thiên Chúa.” Nhằm giảm thiểu tối đa những khía cạnh ngoại tại của thẩm quyền, Dodd khẳng định: “Tiêu chuẩn nằm trong chính chúng ta, trong sự đáp trả của tinh thần chúng ta trước Thánh Thần là Đấng đã tự ngỏ lời trong Thánh Kinh.” Ở đây ông tham chiếu đến luận điểm cổ điển của Tin Lành về chứng cứ bên trong của Thánh Thần  (testimonium Spiritus Sancti internum).

Việc đề cập đến chứng cứ bên trong của Thánh Thần dường như muốn nói rằng phái Calvin chính thống tìm thấy trong Thánh Thần một nguồn mạc khải có tính trực tiếp thuộc kinh nghiệm bên cạnh các lời Thánh Kinh. Trường hợp này xem ra không mấy phổ biến. Khi chỉ ra rằng Calvin, cũng như Luther, chống lại sự “nhiệt thành” của những nhà cải cách cấp tiến – phái Calvin hiện đại tỏ ra dè chừng đối với những hiện tượng xung quanh lễ Ngũ tuần. Carl Henry, người mà chúng ta đã trích dẫn – vốn chủ trương rằng Thánh Thần chỉ mạc khải những gì được ghi trong Thánh Kinh, đã cố sao để xếp quan điểm của mình vào lập trường của Calvin.

Tổng Lược

Để đúc kết phương thức kinh nghiệm về mạc khải, chúng ta có thể theo những chủ điểm thông thường của chúng ta về hình thức, nội dung, năng lực cứu độ và sự đáp trả thích đáng. Về hình thức thì dĩ nhiên đấy là  một kinh nghiệm trực tiếp trong nội tâm. Đối với phần đông các tác giả thì kinh nghiệm này nằm trong một cuộc gặp gỡ trực tiếp không qua trung gian với thần linh, mặc dù một số tác giả khẳng định (với truyền thống Thánh Kinh và Kitô giáo) rằng kinh nghiệm này được thấy nơi sự hiệp thông với các tiên tri và nhất là với Đức Giêsu là Đấng mà sự kết hợp mật thiết của Ngài với Thiên Chúa đạt mức sâu xa không ai bằng. Theo đó thì đức tin bao hàm một “tính trực tiếp được chuyển thông.””

Trong mẫu thức này, nội dung của mạc khải không phải là thông tin về những gì đã qua – cũng không phải là chân lý giáo lý trừu tượng. Đúng hơn, nội dung đó là Thiên Chúa hiểu như Ngài ưu ái thông truyền chính Ngài cho linh hồn đang mở ra đón nhận Ngài. Như Hocking nói về mạc khải của nhà thần bí, điều chủ yếu của nội dung nầy “là tôn giáo phải tồn tại như kinh nghiệm chứ không chỉ như ý niệm mà thôi.””

Năng lực cứu độ của mạc khải được đồng nhất với chính mạc khải. Mạc khải cung ứng một kinh nghiệm hồng phúc về sự liên kết với Thiên Chúa – có thể được gọi là “sự sống vĩnh cửu.” Mặc dù không có yếu tố nào trong mẫu thức này đòi người ta phải phủ nhận sự sống bên kia cái chết, mẫu thức này cũng không chấp nhận rằng sự bất tử hay sự sống lại là những tín điều được thần linh mạc khải; mẫu thức này cũng không đặt năng lực cứu độ phụ thuộc vào những giáo lý như vậy.

Sự đáp trả thích đáng đối với mạc khải – như được hiểu trong mẫu thức này – thì không phải là một sự bám víu vào một cơ cấu chân lý xác định, cũng không phải là sự đảm nhận một loại hoạt động đặc thù nào đó, nhưng đúng hơn – như Dodd nói – đó là “một thái độ và một cách nhìn (có tính) tôn giáo,” được đặc điểm hóa bởi điều mà Schleiermacher gọi là “những tâm tình sùng mộ,” còn Sabatier thì mô tả là “kinh nguyện của tâm hồn.””

Những Đóng Góp Của Mẫu Thức Kinh Nghiệm:

Sau những thế kỷ của tư tưởng kinh viện cằn cỗi và suy bại – mà người ta thấy rõ là đã gây ra những trào lưu vô tín ngưỡng của những người tôn sùng lý trí, mẫu thức kinh nghiệm về mạc khải xuất hiện như một thiện ích lớn cho các Giáo Hội. Trong một thời đại bị thống trị bởi tư tưởng phê bình tri thức của Kant, mẫu thức này giúp người ta có thể chấp nhận sự phê bình đó mà không rơi vào tư tưởng hồ nghi. Bằng cách nhấn mạnh sự khác nhau giữa mạc khải và tri thức có tính dữ kiện hay ý niệm, phương thức kinh nghiệm đã làm nhẹ gánh nặng đòi các Kitô hữu phải biện giải toàn bộ hệ thống những niềm tin mình đã hấp thụ. Bởi vì mạc khải tồn tại trong một chiều kích khác với khoa học, và có một thứ chân lý khác, vấn đề đụng chạm giữa mạc khải và tư tưởng khoa học được phòng tránh ngay tự mầm mống. Trong bối cảnh của chủ nghĩa bất khả tri và chủ nghĩa thực dụng của Kant, một phương thức tiếp cận mạc khải như phương thức nầy có một tính thuyết phục nào đó.

Hơn nữa, mẫu thức này hỗ trợ rất nhiều cho đời sống sùng ngưỡng. Nó kích động nhiệt tình tôn giáo như ta thấy rõ ràng nơi những tác giả đã được nhắc đến. Những gạch nối mới mẻ bắt đầu xuất hiện giữa thần học hệ thống và thần học tu đức. Đời sống cầu nguyện và kinh nghiệm thần bí, bốn bị gạt ra khỏi trục lộ chính của thần học, đã lại hiện ra như những chủ điểm nòng cốt. Các tác phẩm về lòng sùng tín và những tự thuật tâm linh trở thành chiếm địa vị ưu tiên trong việc nghiên cứu mạc khải.

Đàng khác, nhờ sự phân biệt giữa mạc khải và giáo lý, những người ủng hộ khuynh hướng nầy cảm thấy cần phải có một thái độ tích cực hơn đối với những tôn giáo ngoài Thánh Kinh so với thái độ thông thường được thấy nơi các Kitô hữu. Người ta đã có thể chủ trương rằng không chỉ Kitô giáo mà là mọi tôn giáo – với những mức độ tinh thuần và thâm thúy khác nhau – đều mang dấu vết của sự tự mạc khải của Thiên Chúa sống động. Thái độ này đem lại rất nhiều thuận tiện cho cuộc đối thoại giữa các tôn giáo.

Phê Bình Mẫu Thức Kinh Nghiệm:

Mẫu thức kinh nghiệm, trong hình thức được nghiên cứu ở đây, không tránh khỏi những điểm yếu nghiêm trọng. Về một điểm, nó có vẻ kén chọn về Thánh Kinh về thậm chí còn mâu thuẫn với nhiều bản văn Thánh Kinh. Tất cả các bản văn Thánh Kinh được dùng hậu thuẫn cho mỗi trong hai mẫu thức trước đều đối lập với mẫu thức thứ ba nầy. Trong khi chuyển từ những phạm trù Thánh Kinh về những hành động và lời nói của Thiên Chúa sang phạm trù tâm lý về thiên năng tôn giáo và kinh nghiệm thần bí, mẫu thức này đã phế bỏ sự tự thức của các tiên tri – nhiều vị trong đó, từ Môsê tới Giêrêmia, đã cố nại đến sự hèn kém của mình đối với sứ mạng mà mình được mời gọi.

Dodd – người được thấy là hay dùng phạm trù thiên năng tôn giáo trong tác phẩm đầu của mình – đã càng ngày càng nhận ra những giới hạn của nó trong việc chú giải sứ điệp của các tiên tri và các Tông Đồ. Trong những tác phẩm sau nầy, ông đã nhấn mạnh đến phạm trù “Lời của Thiên Chúa” và cho thấy một đánh giá sâu sắc hơn về lịch sử xét như một trung gian của mạc khải. Phê bình ý niệm về thiên năng tôn giáo, ông đã viết:

Tuy nhiên, các tiên tri không hề trao cho ta ấn tượng rằng các vị xem như dân tộc mình có được một thiên hướng tự nhiên về tôn giáo. “A, dân tội lỗi! Giòng giống đầy tà vạy! Mầm mống gian ác! Những đứa con nghịch tặc!” (Is 1, 4). Đấy chỉ là một ít trong số rất nhiều những từ ngữ mà các tiên tri dùng để đả kích những người đương thời. Trường hợp của Tân ước cũng không khác mấy. Tân ước không bao giờ có ý nói rằng Giáo Hội tuyển chọn của Thiên Chúa bao gồm những người có một thiên hướng tự nhiên về tôn giáo. Có lẽ hoàn toàn ngược lại mới phải. “Con Người đến không phải để kêu gọi những người công chính, nhưng để kêu gọi những tội nhân” (Mc 2, 17). Và bao giờ cũng có những Kitô hữu – những kẻ không thuộc loại tệ nhất – thú nhận rằng mình có thiên hướng tự nhiên về tư tưởng vô thần, chứ không phải về ân sủng của Thiên Chúa. Chúng ta không thể loại bỏ ý tưởng về một hành động tự do của Thiên Chúa gắn liền với ý tưởng về “sự chọn lựa.””

Khó khăn khác của việc xem mạc khải là ưu tiên cho thiên năng tôn giáo là ở chỗ nó đóng vai trò của một chủ nghĩa đặc quyền tự nhiên trong ý niệm Thánh Kinh về sự tuyển chọn. Kinh nghiệm thiêng liêng nội tâm, nhất là ở những trình độ cao – như Schleiermacher nói – được coi như chỉ xảy đến cho những người có “một năng khiếu đặc biệt về tôn giáo” – và là những người được ban cho điều mà Schleiermacher gọi chung là ý thức mãnh liệt về Thiên Chúa. Nhưng xem ra nhiều người – cũng như Max Weber nói về chính mình – là những kẻ “mụ mẫm về tôn giáo.” Nếu mạc khải phải là một kinh nghiệm nội tâm trực tiếp, thì hóa ra mạc khải – và do đó đức tin – chẳng giới hạn nơi một thiểu số được biệt đãi đó sao? Có thể nào chúng ta chấp nhận một giáo lý trói buộc chặt chẽ ân sủng thần linh vào với những bổng lộc bẩm sinh?

Vì lý thuyết kinh nghiệm nội tâm tự cho thấy đối nghịch lại với những cách nhìn về mạc khải như chủ yếu thuộc về những hành động bên ngoài hoặc những giáo lý (có tính) thần linh, nên nó gặp phải sự căng thẳng đáng kể đối với giáo huấn truyền thống của Giáo Hội. Không lạ gì khi cái nhìn nầy về mạc khải – ít ra trong hình thức rõ rệt của nó nơi phái duy tân – đã bị lên án một cách chính thức bởi cả Giáo Hội Công Giáo Rôma lẫn nhiều Giáo Hội Tin Lành bảo thủ. Nó cũng rất lạ lẫm đối với Chính Thống Đông phương là nơi vẫn còn rất đề cao truyền thống. Tuy nhiên vẫn phải nhận rằng mẫu thức kinh nghiệm có được một số ủng hộ từ những truyền thống thần bí của Kitô giáo Đông phương và Tây phương.

Qua việc tách rời mạc khải khỏi giáo lý, mẫu thức này đã phải trả giá. Nó làm tàn lụi nhiều hoài bão mà người ta vốn  thường ôm ấp khi tìm đến tôn giáo. Nó tuyên bố rõ ràng rằng không có những câu trả lời thần linh cho những vấn nạn sâu thẳm của con người về nguồn gốc và về vận mệnh cuối cùng của loài người và của thế giới. Một Giáo Hội có thể không cần giáo lý mạc khải thì làm sao cung ứng được sự khôn ngoan thiên giới, sự khôn ngoan mà tôn giáo mạc khải được giả thiết là phải cung ứng cho người ta. Vấn nạn của con người về ý nghĩa, vì thế, vẫn chưa được giải tỏa.

Những giá trị thực tiễn của mẫu thức kinh nghiệm, dù có thực, vẫn có nhiều hạn chế. Cuộc tìm kiếm kinh nghiệm riêng tư về tôn giáo nhiều khi đưa đến những đóng kín thái quá, chủ nghĩa cá nhân thái quá và chủ nghĩa sùng ngưỡng cực đoan – và đồng thời làm mất đi sự quan tâm đối với tính toàn vẹn của Giáo Hội và đối với sự tu sửa cơ cấu xã hội. Nơi một số tác giả, như Sabatier, người ta thấy có một chủ nghĩa duy cảm tính rất sâu đậm. Một chủ nghĩa duy cảm tính như thế rất dễ sa vào chủ nghĩa xập xí ngầu mập mờ hay chủ nghĩa bất khả tri.

William James, người chủ yếu xây dựng triết học về tôn giáo của mình trên những cảm nghĩ kết hợp với một cảm giác về sự Hiện Diện, đã nhận ra sự hàm hồ của luận chứng ấy. Ông viết: “Cảm giác thần bí về sự mở rộng, sự kết hiệp và sự thoát li tự nó chẳng hề có bất cứ nội dung đặc biệt nào. Người ta có thể hình thành những khế ước hôn nhân với chất liệu được cung ứng bởi những triết học và thần học hỗn tạp nhất…” Nó có thể làm cho người ta nhập thế hay xuất thế, phiếm thần, hữu thần hay vô thần. Những thị kiến và những mạc khải xuất thần của các tiên tri – vì chúng hậu thuẫn cho những quan điểm thần học bất tương hợp – “sẽ vô hiệu hóa lẫn nhau và chẳng cho thấy có kết quả nhất định nào.” Một số nhà diễn giải cho mẫu thức này gắn chặt với luận điểm rằng mọi kinh nghiệm tôn giáo chủ yếu là như nhau, họ chủ trương rằng những khác biệt giữa hữu thần và phiếm thần, giữa nhất nguyên và đa nguyên là không quan trọng. Chẳng hạn, Abraham Maslow lập luận rằng “tới mức độ mà mọi kinh nghiệm thần bí hay kinh nghiệm chóp đỉnh đều giống nhau xét trong yếu tính và bao giờ cũng giống nhau, thì mọi tôn giáo đều giống nhau trong yếu tính và bao giờ cũng giống nhau.” Theo Maslow, tất cả tôn giáo là nhằm dẫn đến “những kinh nghiệm tột đỉnh” và do đó không còn cần phải căn cứ đến Thiên Chúa hay bất cứ nguồn gốc siêu nhiên nào khác nữa. Những kinh nghiệm tột đỉnh sẽ đóng vai trò làm một mối liên kết không chỉ giữa những người có tín ngưỡng mà còn giữa những người tin và những người vô thần.

Maslow, dĩ nhiên, không phải là một thần học gia. Nhưng nếu trong tư cách là một thần học gia (hữu thần chứ chưa nói là Kitô hữu), người ta muốn hiểu kinh nghiệm tôn giáo – và để tránh chủ trương hạ giá con người, người ta sẽ thấy rằng cần phải nhìn những chiều kích giáo lý và lịch sử một cách nghiêm túc hơn cách nhìn – chẳng hạn – của Evelyn Underhill trong đoạn văn trích dẫn ở trên.

Ngoài những giải thích đụng chạm nhau kịch liệt như về vấn đề những kinh nghiệm mạc khải vén mở ra cái gì, vẫn còn vấn đề là những kinh nghiệm ấy tự chúng có đáng tin không. Phải chăng chúng thật sự cho biết mọi thứ ngoại trừ kinh nghiệm của bản ngã về bản ngã? William James, vào cuối cuộc phân tích kỹ lưỡng của ông về rất nhiều chứng cứ, đã kết luận rằng kinh nghiệm tôn giáo hiện lên bên ngoài một khu vực tiềm thức hay ngưỡng ý thức của tâm lý, nhưng ông cho rằng có lẽ khu vực này rất thích hợp để cảm nhận lãnh giới cao hơn của vũ trụ – và do đó, với Thiên Chúa. “Nếu có những cơ quan cao hơn thuộc tinh thần có thể trực tiếp đụng chạm đến chúng ta, thì điều kiện tâm lý để điều đó xảy ra hẳn là chúng ta phải có một vùng tiềm thức mà chỉ một mình vùng đó mở ngõ cho sự đụng chạm ấy.””

Cứ theo những cách nói giả định có tính thường nghiệm của ông, thì sự dè dặt của James là hoàn toàn dễ hiểu. Phẩm chất của một kinh nghiệm tôn giáo, được hiểu như một sự kiện tâm lý riêng biệt, không bao giờ có thể kinh nghiệm thực sự về Thiên Chúa. Hiện tượng luận về tôn giáo, giới hạn trong những mô tả thường nghiệm của nó, không thể lên tiếng gì về thực tại của mạc khải. Để giải quyết vấn đề về sự thật hay ảo tưởng, người ta phải vượt khỏi những phương pháp mô tả tâm lý và phải cứu xét chứng cứ từ nhiều nguồn khác nữa.

Nếu phải kể ra một khuyết điểm tiêu biểu của mẫu thức thứ ba này, thì đó không phải là sự nhấn mạnh của nó về kinh nghiệm, nhưng đúng hơn đó là ý niệm hạn hẹp quá của nó về kinh nghiệm. Thuyết duy nghiệm của Anh và Mỹ có khuynh hướng xem kinh nghiệm là chứng cứ tự thân có tính trực tiếp, cá nhân và khẩn thiết – và đặt kinh nghiệm (hiểu theo nghĩa đó) trên mọi hình thức tri thức khác. Một khi ý niệm nầy về kinh nghiệm được áp dụng cho mạc khải, mạc khải trở thành được xem như một dữ kiện trần trụi, không được phân tích, đi vào tâm thần con người xét như một tabula rasa [bạch bản]. Thiên Chúa trở thành một hiện tượng kỳ lạ mà người ta nắm bắt được không cần bất cứ sự cậy dựa nào vào cộng đoàn, truyền thống hoặc những hình thức trung gian trần thế khác.

Trong những thập niên gần đây, nhiều triết gia đã vạch ra tính bất xác của cách nhìn này về kinh nghiệm. Trong bất cứ kinh nghiệm nào, chủ thể cũng đóng góp rất nhiều ký ức hấp thụ nơi xã hội và những tiên kiến, những hi vọng và âu lo – là những thứ giữ vai trò lớn trong việc định hình kinh nghiệm. Kinh nghiệm càng phong phú thì những dữ kiện thu nạp phải càng nhiều. Kinh nghiệm có tính tiếp tục và bồi đắp; nó dần dần rút ra khỏi những gì đã qua và hướng về những gì phía trước. Nó được đúc kết không phải bởi những cá nhân riêng lẻ nhưng là bởi những đoàn nhóm chia sẻ và hành động hỗ tương nhau. Nó được chuyển thông bởi những cử chỉ, ngôn ngữ, và bởi nhiều dấu hiệu khác. Nó phải được diễn giải và đánh giá trong ánh sáng của nhiều tiêu chuẩn.

Những nhận xét về kinh nghiệm nói chung cũng được thấy nơi kinh nghiệm tôn giáo và mạc khải. Thuyết duy nghiệm về tôn giáo có khuynh hướng tập chú vào một số kinh nghiệm đặc biệt về một trật tự xem ra có tính thần bí gây ra những cảm xúc mãnh liệt của cá nhân người ta. Bối cảnh lịch sử và bối cảnh con người không mấy được đếm xỉa đến. Thế nhưng bối cảnh ấy lại có tầm quan trọng quyết định. John Smith cho rằng mọi kinh nghiệm tôn giáo có ý nghĩa đều liên quan với những yếu tố trung gian, chính vì thế mà “mọi kinh nghiệm (được nói là) về Thiên Chúa đều cũng đồng thời là kinh nghiệm về một cái gì đó khác nữa.” Cứu xét đến bối cảnh con người và xã hội, Smith có thể nói rằng những sự khai mở đặc biệt như trường hợp những biến cố trong Thánh Kinh có thể được xem như là mạc khải. Sự cắm rễ của một tôn giáo trong một truyền thống tiếp tục không làm suy giảm tính kinh nghiệm của tôn giáo đó. “Bởi vì mạc khải diễn tả một sự phát triển xa hơn của lãnh vực kinh nghiệm về tôn giáo, vì kinh nghiệm là trung gian duy nhứt qua đó mọi điều khác có thể được mạc khải cho con người.””

Edward Schillebeeckx, trong một số tác phẩm mới đây, đã đặc biệt lưu ý đến tương quan giữa mạc khải và kinh nghiệm. Không thể có mạc khải nếu không có kinh nghiệm, nhưng mạc khải siêu vượt mọi  kinh nghiệm của con người. Nó không bao giờ tồn tại mà không có kèm theo một sự diễn dịch. Nhằm cố ý phản đối những nhà duy nghiệm và những thần học gia bị ảnh hưởng bởi chủ nghĩa duy nghiệm, Schillebeeckx khẳng định rằng mọi  kinh nghiệm đều bao hàm, và được biến đổi, bởi những yếu tố diễn dịch. Những yếu tố diễn dịch – vốn liên hệ nội tại với kinh nghiệm về ơn cứu độ được ban cho nơi Đức Giêsu, chứ không phải ai khác, là một phần trong mạc khải Kitô giáo. Khi kinh nghiệm nguyên thủy bị bao phủ bởi những diễn dịch ngoại lai được gán vào nó từ bên ngoài do những suy tư sau nầy, thì mạc khải có thể bị tối mờ đi, và người tín hữu thời nay sẽ bị ách tắc trong việc tìm thấy ơn cứu độ nơi Đức Giêsu.

Đối với quan điểm có thể được chấp nhận một cách căn bản này, triết gia Louis Dupré đã thêm vào hai lưu ý quan trọng. Thứ nhất, Schillebeeckx đã quá xem nhẹ sự diễn dịch so với kinh nghiệm, cơ hồ như sự diễn dịch bao giờ cũng phải được rút ra từ kinh nghiệm. Theo Dupré, kinh nghiệm nguyên thủy về Đức Giêsu không thể chuyển tải bất cứ mạc khải nào trừ phi nó được kèm theo một sự diễn dịch tiên quyết vốn ngang tầm với chính kinh nghiệm. Cả kinh nghiệm và sự diễn dịch căn bản đều ngang tầm với nhau và đều phải được bảo trọng.

Hai nữa, theo Dupré, cả kinh nghiệm lẫn sự diễn dịch đều không nên được hiểu như được ban cho trọn vẹn trong những cuộc gặp gỡ đầu tiên của các môn đệ với Đức Giêsu, hay thậm chí cả trong những biến cố xung quanh Phục Sinh. “Thay vì một kinh nghiệm đơn độc và đặc biệt về Đức Giêsu ngay tự đầu tiên, tôi muốn nghĩ đến một tiến trình tiếp diễn của kinh nghiệm đã được diễn dịch, những thế hệ về sau xem kinh nghiệm đó là bước khởi đầu và chưa trọn vẹn cho đến – rất lâu sau khi phần đông những thị chứng nhân đã mệnh một – nó được hệ thống hóa trong cái mà sau này trở thành bản văn qui điển.”

Một khi thế lưỡng phân giữa kinh nghiệm và sự diễn dịch đã được vượt qua, phương thức kinh nghiệm mới thôi không còn đứng ở thế đối lập triệt để với những phương thức về lời nói và hành động mà ta đã khảo sát trong các chương trước. Tuy nhiên, trước khi đối chiếu những phương thức này, chúng ta sẽ xem xét đến hai phương thức khác nữa về thần học mạc khải.

Lm. Lê Công Đức dịch từ

nguyên tác Models Of Revelation

của Avery Dulles, S.J.

do nhà Image Books – New York xuất bản, 1985.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s