Mẫu thức 1: Mạc khải xét như là giáo lý (3)

VRNs (07.04.2015) – Sài Gòn – Xem ra thuận tiện việc ta bắt đầu với lý thuyết quen thuộc nhất này – vì lịch sử lâu dài của nó và vì ưu thế tuyệt đối của nó trong những thời gian qua. Các yếu tố của mẫu thức “giáo lý” – hay mẫu thức “xác định” – có thể được truy tìm ngược về nơi những lý thuyết về sự linh hứng của giới rabbi trong thời kỳ cuối kỷ nguyên Do Thái giáo, và nơi các giáo phụ của Giáo Hội thời sơ khai – một số vị trong đó đã nhận ảnh hưởng từ các rabbi. Nhưng sẽ là hơi quá khi bảo rằng lý thuyết này giữ vai trò thống lĩnh trong những thời kỳ của các giáo phụ hay trong thời kỳ trung cổ; bởi vì trong những thời kỳ này mạc khải thường được giải thích bằng những cách diễn tả linh động hơn và bằng ít ngôn từ hơn. Vào cuối thời trung cổ, tư tưởng “xác định” được kích thích bởi việc áp dụng lạm phát của tam đoạn luận luận lý vào thần học. Vào thế kỷ XVI, khuynh hướng này được kích động thêm nữa bởi sự quan tâm cao độ của các nhà nhân bản về việc phê bình các bản văn và về khoa khảo cổ, và kết quả là các nhà thần học thuộc phong trào nhân bản đã đi đến nhìn mạc khải như một sự ủy trao lời nói phải được tái lập bằng các khám phá khảo cổ học. Vào các thế kỷ XVII và XVIII, khi mạc khải bị phủ nhận bởi phái Thần luận và được bênh vực bởi các Kitô hữu chính thống, ý niệm về “xác định” trở thành vấn đề thời sự hàng đầu. Bị ảnh hưởng phần nào bởi chính chủ nghĩa duy lý mà họ cố tìm cách phi bác, các Kitô hữu chính thống thường giải thích mạc khải như một cơ cấu ý tưởng sáng sủa và phân biệt – từ đó người ta có thể suy diễn ra các kết luận “với hậu kết tốt đẹp và thiết yếu” – như cách nói của Tuyên Ngôn Westminster. Vào thế kỷ XIX và XX, khi những lý thuyết “không xác định” về mạc khải trở thành lan tràn, các Kitô hữu gắn bó với quan điểm “xác định” được mệnh danh là những kẻ bảo thủ. Họ thường trách tư tưởng giải phóng và tư tưởng duy tân là những kẻ phá hoại đức tin đích thực.

Trong chương này chúng ta sẽ khảo cứu hai hình thức của mẫu thức “xác định” được thấy trong thế kỷ XX: chủ nghĩa duy Tin mừng bảo thủ và tư tưởng tân kinh viện Công Giáo.

15040400

Chủ Nghĩa Duy Tin Mừng Bảo Thủ:

Suốt hai thế kỷ 19 và 20, quan điểm “xác định” về mạc khải được triển khai chi tiết ở chủng viện Princeton bởi một loạt những thần học gia danh tiếng thuộc giáo phái Trưởng Lão – mà đáng để ý nhất là Benjamin B. Warfield (1851 – 1921). Ngày nay lý thuyết này được bênh vực trong thế giới nói tiếng Anh bởi đông đảo các nhà thần học theo chủ nghĩa duy Tin mừng, bao gồm trong đó là Gordon H. Clark, James I. Packer, John Warwick Montgomery và Carl F. H. Henry. Những quan điểm của trường phái này được nhiệt tình quảng bá bởi các tổ chức như Hội Đồng Thế Giới về tính không sai lầm của Thánh Kinh – là tổ chức đã đỡ đầu cho “Tuyên Bố Chicago về sự không sai lầm của Thánh Kinh” dài 4000 từ, vào năm 1978.

Trong khi hoàn toàn thừa nhận rất nhiều trường phái khác nhau có thể được bao gồm dưới danh hiệu “duy Tin mừng,” ở đây chúng ta sẽ dùng từ ngữ “phái Tin mừng bảo thủ” để chủ yếu chỉ về các nhà thần học thuộc chiều hướng vừa mô tả trên. Những từ ngữ như “chính thống Thánh Kinh” và “chính thống Tin mừng” đôi khi cũng được dùng như những từ đồng nghĩa trong thực tiễn với hệ thống mà chúng ta đang bàn.

Bất chấp một số tính đa dạng xét theo cá nhân, những người thuộc phái Tin mừng bảo thủ này nói chung là gặp nhau trong những nét khái quát theo bản tổng luận sau đây, chủ yếu dựa vào Warfield. Trên nguyên tắc Thiên Chúa tự mạc khải chính Ngài qua tự nhiên, để trong một ý nghĩa nào đó người ta có thể nói về mạc khải tự nhiên (hay “thông thường”) – luôn luôn có sẵn và có sẵn ở khắp nơi. Nhưng do bởi sự siêu việt của Thiên Chúa và do những hậu quả tàn phá của tội nguyên tổ, trong thực tế người ta không thể đạt được một tri thức chắc chắn và có sức cứu độ về Thiên Chúa bằng mạc khải tự nhiên hay thần học tự nhiên. Việc tự biểu lộ của Thiên Chúa qua tự nhiên có hệ quả chính yếu của nó là những ai không biết và không thờ phượng Thiên Chúa thì không được miễn chấp (cf. Rm 1, 20). Vì sự tri thức về chân lý cứu độ là cần thiết – nên mạc khải siêu nhiên (hay “đặc biệt”) là cần thiết. Mạc khải siêu nhiên này đã được phú ban cho trong những thời kỳ Thánh Kinh cổ xưa với những hiện tượng thần khải và những thị kiến tiên tri, nhưng khi được triển khai thì mạc khải nầy càng ngày càng mang lấy hình thức giáo lý. Trong giai đoạn cuối cùng, mạc khải đã xảy ra đặc biệt qua một “tác động nhị trùng” trong đó Thánh Linh khơi gợi và kiểm soát những năng lực con người khi những năng lực ấy được thể hiện trong việc nghiên cứu lịch sử, trong việc lý luận luận lý và trong việc trước tác văn chương.

Đức Giêsu Kitô đưa mạc khải siêu nhiên tới một giới hạn cuối cùng xét về mọi hình thức của nó. Trong cuộc sống Nhập Thể của Người, Người là hình ảnh tuyệt vời nhất của Thiên Chúa – và trong ý nghĩa đó Người là một sự hiển linh của Thiên Chúa. Năng lực tiên tri của Người là trác tuyệt, đối với Người Thiên Chúa Cha không dè giữ một sự kín nhiệm nào. Người lý luận và phát biểu với sự hỗ trợ của Thánh Thần Chân lý mà Người được ban cho một cách sung mãn.

Các Tông Đồ đón nhận mạc khải rất xác định qua giáo huấn của chính Đức Giêsu – một giáo huấn mà về sau  họ có thể giải thích nhờ sự giúp đỡ của Thánh Thần được ban cho vào dịp lễ Ngũ tuần. Ngày nay chúng ta không còn nhận mạc khải qua các tiên tri, qua Đức Giêsu Kitô hay qua các Tông Đồ như những trung gian sống động, nhưng không phải vì thế mà chúng ta không có mạc khải. Giáo huấn của các tiên tri và các Tông Đồ đã được thu thập lại cho chúng ta trong Thánh Kinh. Theo Warfield, Thánh Kinh chứa đựng toàn bộ mạc khải và bản thân Thánh Kinh là mạc khải cuối cùng của Thiên Chúa.

Sự linh hứng của Thánh Kinh, dù không đồng nghĩa với mạc khải, vẫn có liên hệ chặt chẽ với mạc khải. Mạc khải – theo nghĩa là một điều xảy ra – là sự thông tin hay thông tri đầu tiên cho những người tiếp nhận đầu tiên, trong khi linh hứng là sự xung động và sự cộng tác thần linh được điều hợp sao cho những mạc khải được nhận lãnh trước đó có thể được trải ra một cách phù hợp và một cách chính xác trên giấy trắng mực đen. Theo Warfield, “mạc khải chỉ còn là một nửa mạc khải nếu như nó không được truyền đạt một cách bất khả ngộ; và truyền đạt chỉ còn là một nửa truyền đạt nếu như nó không được thu nhận một cách bất khả ngộ.” Thánh Kinh – xét toàn thể và xét từng phần – được linh hứng đến nỗi, trong những bản thảo nguyên thủy, nó hoàn toàn không sai lầm và là chính lời Thiên Chúa được viết ra. Đối với chúng ta là những người sống vào thời hậu Thánh Kinh thì Thánh Kinh là mạc khải đã được khách thể hóa. Được đọc một cách toàn bộ, Thánh Kinh sẽ giải thích chính nó – và do đó không cần bất kỳ một chuẩn mực hay cơ quan bất khả ngộ nào ngoài Thánh Kinh để giải thích Thánh Kinh.

Xem ra lý thuyết “xác định” về mạc khải vẫn có thể đứng được với chỉ cần một số khẳng định của Thánh Kinh là lời Thiên Chúa, nhưng phái Tin mừng bảo thủ gần như nhất trí khẳng định rằng tất cả không trừ lời nào trong Thánh Kinh đều được linh hứng. Nếu chỉ một tuyên bố đơn độc nào đó của Thánh Kinh bị lọt ngoài đặc tính vô ngộ – thì toàn bộ giáo lý về linh hứng mà lý thuyết này lấy làm cơ sở hẳn sẽ bị đặt vấn đề lại, và người ta sẽ phải tìm kiếm một tiêu chuẩn mới cho mạc khải. Vì thế mà Clark Pinnock, mới hồi năm 1971, đã có thể nói rằng sự vô ngộ có tính giới hạn là một bờ dốc – đúng hơn là một mặt đất bằng – mà người ta phải đứng. Trước đó mấy thế kỷ, Johann Andreas Quenstedt đã trình bày “lập luận domino” một cách rất sắc bén:

 “Nếu một cái gì đó trong qui điển Thánh Kinh đã được viết ra theo một cách thế nhân loại hoặc bởi công phu nhân loại chứ không bởi sự linh hứng thần linh – thì tính rường cột và tính chắc chắn của Thánh Kinh sẽ bị lâm nguy, và thẩm quyền của Thánh Kinh – là chính thẩm quyền thuộc linh – sẽ mất đi, và đức tin của chúng ta sẽ rúng chuyển.””

Tương tự, vào thế kỷ XVII Abraham Calov đã lập luận rằng nếu Thánh Kinh không bất khả ngộ trong toàn thể của nó – thì nguồn gốc của thần học sẽ chỉ có giá trị cái nhiên, và do đó mọi kết luận thần học đều phải đặt vào sự nghi ngờ.

Mạc khải, đối với những người thuộc phái Tin mừng chính thống này, vì thế đồng nhất với ý nghĩa của Thánh Kinh hiểu như là một tổng hợp những tuyên bố có tính xác định – mỗi tuyên bố diễn tả một khẳng định thần linh, có giá trị mọi nơi và mọi thời. Họ khẳng quyết rằng những gì Thiên Chúa đã mạc khải đều xác thực và đều có thể được truyền đạt cho trí óc con người qua những lời giải thích. Chẳng hạn, Carl Henry tuyên bố rằng Thiên Chúa được mạc khải “trong toàn bộ qui điển Thánh Kinh là nơi mà từ đó nội dung và ý nghĩa của tất cả mạc khải của Thiên Chúa được truyền đạt một cách khách quan và bằng hình thức những lời xác định.” Một chỗ khác, ông tuyên bố: “Mạc khải của Thiên Chúa là sự truyền thông thuộc lý tính được chuyển tải trong những ý tưởng khả niệm và những lời nói rõ nghĩa – nghĩa là – trong hình thức ngôn ngữ qui ước.” Ông đắc ý trích lại khẳng định của Gordon Clark: “Ngoài những câu mệnh lệnh cách và một số câu cảm thán trong các Thánh Vịnh thì Thánh Kinh là một tổng hợp các xác định. Những xác định này cho biết về Thiên Chúa và về mối quan hệ giữa Người với con người.” Francis Schaeffer cũng nhất trí: “Thiên Chúa đã trình bày – trong một hình thức ngôn ngữ xác định – sự thực về chính Người, về con người, lịch sử và vũ trụ.” Clark Pinnock khẳng định tương tự: “Mạc khải được bảo tồn trong những bút tích và chủ yếu có tính xác định trong bản chất.” James I. Packer xác quyết rằng quan điểm nầy được cắm rễ tốt trong truyền thống thần học: “Từ những thời gian sơ khai nhất của Kitô giáo, toàn thể Giáo Hội đã xem Thánh Kinh là một kết dệt các chân lý mạc khải, các lời nói được ghi lại của Thiên Chúa làm chứng về chính Ngài.” Một chỗ khác Packer xác định rằng “quan điểm Thánh Kinh cho thấy những hành động quyền năng của Thiên Chúa không phải là mạc khải chi cả, ngoại trừ trong mức độ mà chúng được kèm theo những lời giải thích về chúng.””

Chủ trương duy Tin mừng bảo thủ, theo ý nghĩa của từ ngữ được hiểu ở đây, dường như có thể được định nghĩa bằng sự gắn chặt của nó vào Thánh Kinh như một sự hướng dẫn duy nhất bất khả ngộ cho niềm tin và cho thực hành Kitô giáo. Tuy nhiên, nội trong khuynh hướng này cũng có những cách hiểu khác nhau về sự vô ngộ. Một số đại biểu – như Harold Lindsell – hiểu đó là sự vô ngộ của các bản thảo nguyên thủy (được gọi là “những bản thủ bút”), đồng thời sự vô ngộ đó có liên hệ đến một ơn gìn giữ trong đó Thánh Thần bảo vệ một số bản văn được đón nhận cho khỏi sai lầm. Những người khác, như Carl Henry, chủ trương sự vô ngộ của các thủ bút nhưng nhìn nhận rằng có thể có những sai lầm nhỏ về những điều tùy phụ khi truyền đạt các bản văn. Một quan điểm thứ ba, do Clark Pinnock chủ trương, bảo vệ tính vô ngộ của đại ý bản văn nhưng không bảo đảm sự vô ngộ trong các chi tiết tỉ mỉ của bản văn. Quan điểm thứ tư, được đại diện bởi Bernard Ramm, hiểu sự vô ngộ chỉ có trong “tri thức (soteric),” chứ không có trong những vấn đề lịch sử và khoa học. Một quan điểm thứ năm, hơi có kẻ không ăn khớp với chủ nghĩa duy Tin mừng bảo thủ, chủ trương rằng Thánh Kinh vô ngộ trong những khẳng định chủ yếu về thần học chứ không vô ngộ trong mọi vấn đề thuộc tôn giáo và luân lý, huống chi là những vấn đề khoa học và lịch sử. Donald G. Bloesch và Paul K. Jewett chủ yếu đứng trong phạm trù cuối cùng này. Không một quan điểm nào trong năm quan điểm trên hiểu linh hứng như việc đọc chính tả từng chữ của Thiên Chúa.

Nhờ sự tiến bộ trong “chữ viết” – theo những nhà thần học thuộc chiều hướng này – mạc khải được chuyên chở trong những bản văn rõ ràng, có thể làm thành một nội dung xác định đòi hỏi sự chấp nhận của chúng ta. Đức tin – được họ giải thích chủ yếu bằng những từ ngữ có tính chủ tri – được hiểu như một sự chấp nhận đối với mạc khải. Warfield viết: “Đức tin trong mọi hình thức của nó là một xác tín về chân lý, và do đó dĩ nhiên được đặt nền tảng trên chứng cứ rõ ràng.” Gordon Clark càng nhấn mạnh hơn nữa: “Kitô giáo không thể tồn tại mà không có chân lý trong một số xác định rõ ràng trong lịch sử… Nhờ đức tin, chúng ta hiểu rằng Thiên Chúa đã tạo dựng nên vũ trụ; nhờ đức tin, chúng ta chấp nhận (điều khẳng định) rằng Thiên Chúa là Đấng ban thưởng cho những ai chuyên cần tìm kiếm Ngài; nhờ đức tin chúng ta biết rằng Đức Giêsu đã sống lại từ cõi chết.” Carl Henry cũng nghĩ tương tự như thế khi ông tuyên bố: “Đức tin tách rời khỏi sự chấp nhận những xác định có thể trong một thời gian được chủ trương một cách quá khích là Đức tin Kitô giáo, nhưng không chóng thì chầy cũng bị lật tẩy ra rằng những việc thực hành có tính thần bí như thế không phải là của Kitô giáo cũng không mang tính chất của niềm tin đích thực.””

Chủ yếu phát xuất từ truyền thống Calvin, phái duy Tin mừng bảo thủ không bỏ qua vai trò của Thánh Linh trong việc linh hứng và giải thích Thánh Kinh, nhưng họ chống lại những khuynh hướng của một số người thuộc tân phái Calvin bằng cách không ghép Thánh Linh cho lời Thánh Kinh. Họ khẳng định rằng dấu chứng bên trong của Thánh Linh giúp cho người ta nhận ra các sách Thánh Kinh là lời Thiên Chúa – và hỗ trợ cho việc giải thích những đoạn văn khó. “Nhưng để làm nên sự soi sáng là sự điều hợp – một lý do để giải thích làm sao giáo huấn Thánh Kinh có thể được nhận hiểu nhanh nhạy – là điều không có cơ sở,” đó là ý kiến của Henry. Và ông xác định: “Mạc khải được rút từ Thánh Kinh chứ không từ kinh nghiệm, cũng không từ Thánh Thần hiểu như một nguồn gốc thứ hai đi theo và độc lập với Thánh Kinh – trừ phi chúng ta nghĩ rằng mình cũng có chức năng và cũng có những đặc sủng dành riêng cho các ngôn sứ và các Tông Đồ.””

Tư Tưởng Tân Kinh Viện Công Giáo

Trong thần học Công Giáo Rôma của thời kỳ từ khoảng 1850 đến 1950, một lý thuyết về mạc khải – có nhiều điểm tương tự với chủ nghĩa duy Tin mừng bảo thủ vừa khảo sát trên – đã chiếm một tầm ảnh hưởng cao rộng hơn tất cả. Được giới thiệu rất đầy đủ trong các sách giáo khoa tân kinh viện, tiêu thức thần học này được mô phạm hóa bởi các tác giả như Reginald Garrigon – Lagrange, Christian Pesch và Hermann Dieckmann. Các văn kiện công đồng và các văn kiện của Rôma trong thời kỳ này – được các nhà thần học tên tuổi hàng đầu của trường phái Rôma soạn thảo – đã chính thức hậu thuẫn cho tư tưởng tân kinh viện, như có thể được thấy trong Hiến Chế về Đức tin Công Giáo của Công Đồng Vatican I (1870), các văn kiện chống phái Duy tân do Rôma đưa ra trong những năm 1907 – 1910, và Thông Điệp Humani generis (1950) của Đức Piô XII. Như chúng ta sẽ thấy trong những chương sau này, Công Đồng Vatican II đã gạt bỏ một số điểm nhấn mạnh đặc biệt và một số nguyên tắc của tư tưởng tân kinh viện.

Cũng như phái duy Tin mừng của Tin Lành, phái tân kinh viện phân biệt giữa hai loại mạc khải: mạc khải tự nhiên và mạc khải siêu nhiên. Pesch phát biểu: “Mạc khải tự nhiên được ban cho qua các việc làm (per facta), còn mạc khải siêu nhiên qua lời nói. Qua việc làm thì ngay cả các sự vật cũng tự biểu lộ được chúng, còn chỉ có các ngôi vị mới có thể tự biểu lộ mình qua lời nói mà thôi.” Khi những người thuộc phái này dùng từ “mạc khải” mà không nói rõ thêm, thì đó là  họ đang nói đến mạc khải siêu nhiên.

Khi nhìn ngắm trật tự của tự nhiên (và do đó, trên căn bản của cái gọi là “mạc khải tự nhiên”), người ta có thể – dù trong tình trạng sa ngã của mình – dùng lý trí để nhận ra sự hiện hữu của một Thiên Chúa có ngã vị, là Đấng Sáng Tạo và là cứu cánh cuối cùng của mọi sự. Nhưng vì lý trí mù mờ – do tội lỗi – của chúng ta thật khó mà đạt được tri thức chắc chắn và xác thực về Thiên Chúa và về các chân lý của tôn giáo tự nhiên, nên thực tế phần đông người ta cần đến sự mạc khải siêu nhiên về các chân lý này. Hơn nữa, mạc khải như thế là điều hoàn toàn cần thiết cho bất cứ ai muốn hiểu biết các mầu nhiệm thiết yếu – chẳng hạn giáo lý về Chúa Ba Ngôi và về Mầu Nhiệm Nhập Thể. Bởi đó, nếu không có mạc khải thì loài người vẫn mù tịt về cứu cánh thật sự của mình và về phương thế để đạt đến cứu cánh đó. Nghĩa là, mạc khải cần thiết cho ơn cứu độ.

Một nguyên tắc hàng đầu của tư tưởng tân kinh viện, cũng như của tư tưởng duy Tin mừng Tin Lành, là mạc khải siêu nhiên chuyển đạt tri thức rõ ràng bằng ngôn từ (hay tiếng nói). Dieckmann khẳng định theo với Pesch rằng trong mạc khải, Thiên Chúa “thông truyền cho con người một cái gì đó mà Người biết.” Vẫn Dieckmann nói: “Lời nói là một hành vi trong đó người ta trực tiếp biểu lộ cho kẻ khác ý tưởng của mình… Sự biểu lộ ý tưởng thần linh này (mentis divinae) tự bản chất của nó là chủ tri và thuộc trong ý niệm; nó có những chân lý làm đối tượng của nó – và người ta không thể nắm được nó bằng cách nào khác ngoài tri thức, dù xem ra nó có thể được tỏ bày cho con người qua một số hình ảnh. Mạc khải – Dieckmann kết luận – không thể chỉ là kinh nghiệm về những cảm nhận do cảm quan bẩm sinh về tôn giáo gợi lên, nó cũng không thể được ban cho qua những tiếng rên rỉ hoặc những cảm xúc trống rỗng ý nghĩa, vì những dấu hiệu này không chuyên chở sự hiểu biết thuộc tri thức hoặc ý niệm. Mạc khải, vì thế, có thể được định nghĩa là “lời Thiên Chúa nói với con người” (Locutio Dei ad homines).

Bởi đó Dieckmann khẳng định rằng trong mạc khải, Thiên Chúa hành động như chứng nhân có thẩm quyền, nghĩa là như một thầy dạy. Thiên Chúa đòi hỏi người ta chấp nhận lời Ngài trên cơ sở thẩm quyền của Ngài. Những thủ bản khác trong cùng truyền thống này cũng nhất trí như vậy. Họ xác định rằng mạc khải – không giống như sự soi sáng hay sự rót tri thức cho người ta – bao hàm sự chấp nhận các ý tưởng của người khác được biểu lộ qua lời nói khả niệm.

Nhiều tác giả tân kinh viện – như Dieckmann – rút ra bản chất lời chứa khái niệm của mạc khải chủ yếu từ một phân tích trừu tượng về ý niệm mạc khải nói chung. Tuy nhiên, những tác giả khác tiến hành công việc ấy một cách chắc chắn hơn dựa trên cơ sở những gì mà các văn kiện của Giáo Hội đã nói về đức tin siêu nhiên. Chẳng hạn, họ trích dẫn những tuyên bố của Công Đồng Vatican I về “Lời Thiên Chúa” xét như là sự trao ban nội dung của đức tin: “Tất cả những điều đó phải được tin bằng đức tin thuộc linh và Công Giáo, là đức tin được hàm chứa trong lời Thiên Chúa – được viết ra hay được thông truyền (in verbo Dei scripto vel tradito), và cũng là đức tin mà Giáo Hội – hoặc bằng một phán quyết trịnh trọng, hoặc bằng sự dạy dỗ phổ quát và thông thường của mình – đề ra cho niềm tin hiểu như là bởi Thiên Chúa mạc khải.” Bản Tuyên Thệ Chống Phái Duy Tân (1910) cũng khẳng định rằng đức tin là “sự chấp nhận thực sự của trí năng đối với chân lý được truyền đạt tới cho mình qua ngả lắng nghe – theo đó, dựa vào thẩm quyền của Thiên Chúa toàn chân, chúng ta tin là đúng thật những gì đã được nói, được làm chứng và được tỏ lộ cho chúng ta bởi vị Thiên Chúa có ngã vị – là Đấng Sáng Tạo và là Chúa chúng ta.””

Trong những thảo luận về đức tin của mình, các tác giả này phân tích cách thế mà mỗi cá nhân đạt được sự chắc chắn về sự kiện mạc khải. Họ khẳng quyết rằng quyết định tin là một quyết định hợp lý, cho dẫu những nội dung của lời mạc khải không thể được trực tiếp chứng minh là đúng thật. Để làm những cơ sở chủ yếu cho tính chất đáng tin, họ nghĩ đến các phép lạ và những lời tiên tri hoàn toàn được ứng nghiệm.

Cách chung phái tân kinh viện nhìn nhận rằng những dấu hiệu bên ngoài của mạc khải không thể cung ứng gì hơn là một sự chắc chắn luân lý (đôi khi được gọi là “sự chắc chắn cái nhiên”) về sự kiện mạc khải, ngay cả đối với những tín hữu có đủ trí năng và giáo dục để đánh giá đúng mức sức mạnh của chứng cứ. Thế thì lấy gì để bảo đảm chính thức cho hành vi tin, cả đối với trường hợp những tín hữu bình dân thất học? Để giải đáp cho câu hỏi rắc rối này, nhiều người thuộc phái tân kinh viện quay lại với giáo huấn của kinh viện trung cổ, nhất là quay lại với Thôma Aquinô – để nói về sự làm việc của ân sủng bên trong linh hồn người tín hữu. Họ khẳng định rằng Thiên Chúa đặt vào trong ý muốn con người một “bản năng” siêu nhiên hay một xu hướng tự nhiên hướng về thần linh. Những người nào không cưỡng lại sự thúc đẩy siêu nhiên này sẽ được rót cho một “ánh sáng đức tin” giúp họ nhận ra đâu là Thiên Chúa đích thực. Mặc dù ánh sáng đức tin nầy giữ một vai trò cần thiết để mang mạc khải đến cho cá nhân người tín hữu, nhưng theo các nhà tân kinh viện, sự soi chiếu nầy không phải là lời nói và do đó không phải là mạc khải. Ánh sáng đức tin nầy – không nắm được một cách rõ ràng bằng nội quan – là một định đề thần học để giải thích sự chắc chắn của đức tin. Nếu ánh sáng này có thể được nói là do mạc khải, theo bất cứ nghĩa nào, thì sự mạc khải đó được chứa trong những lời chứng của Thánh Kinh và truyền thống.

Trong hệ thống thần học này, mạc khải được mang cả một ý nghĩa chủ động lẫn một ý nghĩa khách quan. Một cách chủ động, nó có nghĩa là toàn bộ quá trình trong đó sự trao ban đức tin được thực hiện trong những thời kỳ Thánh Kinh, bao gồm những lời tiên tri, sự linh hứng và giáo huấn của Đức Giêsu. Thứ đến – hay là  một cách mở rộng ra – mạc khải có nghĩa là quá trình theo đó những nội dung mạc khải được thông truyền tới các tín hữu sau thời các Tông Đồ (mạc khải qua trung gian). Một cách khách quan, mạc khải chỉ về chính điều trao ban, nghĩa là cơ cấu chân lý xác định chứa đựng trong Thánh Kinh và trong truyền thống Tông Đồ. Mạc khải nầy được ủy thác cho Giáo Hội và được dạy một cách có thẩm quyền bởi các vị chủ chăn của Giáo Hội là những người phát biểu nhân danh chính Đức Kitô và phải được tin một cách mặc nhiên, như lời dạy của Thánh Kinh: “Ai nghe các ngươi là nghe Ta” (Lc 10, 16). Chức năng giảng dạy của Giáo Hội (hay “quyền giáo huấn”) là chuẩn mực phổ quát và trực tiếp nhất để ấn định xem điều gì là mạc khải. Khi quyền giáo huấn phổ quát (bao gồm đức giáo hoàng và các giám mục khi các vị nầy giảng dạy trong sự hiệp thông với ngài) dạy một điều gì như một tín điều, thì điều đó không thể sai lầm, vì Đức Kitô đã hứa không bỏ các môn đệ Người một mình khi các vị nầy thi hành sứ mạng của họ. Vì thế người ta phải tin các tín điều như thể là những điều đó được chính Đức Kitô nói ra. Khi đồng hóa các tín điều của Giáo Hội với mạc khải thần linh, phái tân kinh viện đã trung thành với quan điểm của họ về mạc khải “xác định.” Rồi đến lượt nó, ý niệm tín điều như một chân lý của mạc khải thần linh lại giúp để củng cố cho quan điểm “xác định” về mạc khải.

Quyền giáo huấn – trong giáo huấn chính thức của nó về đức tin – được gắn kết chặt chẽ với sự ủy trao mạc khải cho các Tông Đồ, được thấy trong Thánh Kinh và trong truyền thống. Nó giảng dạy một cách có thẩm quyền về cái gì trong sự ủy trao đó mà người ta phải tìm thấy – để không phải cần đến một chuẩn mực nào chứng minh rằng nó đã hiểu chính xác nội dung được trao ban. Chính các học giả cũng phải nể trọng quyền giáo huấn chính thức.

Phái tân kinh viện Công Giáo nói chung là nhất trí với phái duy Tin mừng bảo thủ trong sự thẩm xét về Thánh Kinh. Họ lấy khởi điểm của mình nơi tuyên bố của Công Đồng Vatican I (1870) rằng các sách Cựu và Tân Ước, “với mọi phần trong đó… đều có tính linh thánh và đều là qui điển, bởi vì do được viết nhờ sự linh hứng của Thánh Thần chúng có tác giả là chính Thiên Chúa và chúng được trao nguyên vẹn cho Giáo Hội.” Họ chủ trương rằng hoàn toàn không thể có chuyện Thiên Chúa là tác giả của một sự sai lầm nào đó. Vì thế có thể đưa ra luận đề sau đây như một điều mà mọi người Công Giáo phải nhất thiết chấp nhận vịn vào đức tin thuộc linh: “Tất cả mọi tuyên bố (sententiae) của Thánh Kinh đều là chân lý bất khả ngộ.” Ngay cả khi một văn sĩ Thánh Kinh – nhờ đặc sủng linh hứng – viết ra một cái gì đó mà người ấy đã học biết trước qua phương thế tự nhiên chứ không phải mạc khải, thì những từ ngữ được viết ra cũng vẫn là lời Thiên Chúa, và là mạc khải đối với người đọc chúng. Thiên Chúa nói với Giáo Hội và với các phần tử của Giáo Hội qua Thánh Kinh hiểu như là lời của Người được ghi lại.

Trong khi bác bỏ cái nhìn của Tin Lành rằng Thánh Kinh tự nó đã đủ và trọn vẹn, phái tân kinh viện chủ trương cách chung rằng mạc khải được chứa đựng trong hai nguồn: đó là Thánh Kinh và truyền thống Tông Đồ, cả hai nguồn này đều phải được trân trọng “với sự ái mộ và tôn kính như nhau” –– theo cách nói của Công đồng Trente. Truyền thống có vai trò bổ sung và làm sáng tỏ những chân lý chứa đựng trong Thánh Kinh. Một tác giả tiêu biểu của phái tân kinh viện định nghĩa truyền thống là “sự thu thập những những chân lý mạc khải mà Giáo Hội đã nhận lãnh qua các Tông Đồ cùng với Thánh Kinh linh hứng và là những chân lý mạc khải mà Giáo Hội gìn giữ qua quyền giáo huấn liên tục và tông truyền. Quyền giáo huấn này – rút ra trên truyền thống cũng như trong Thánh Kinh – có thể xác định những chân lý tín lý đã không được ghi lại, hay ít nhất đã không được ghi lại một cách rõ rệt trong Thánh Kinh.

Tổng Lược

Như vậy, tóm lại là lý thuyết “xác định” chủ trương rằng mạc khải siêu nhiên được ban cho bằng hình thức là những lời nói có nội dung xác định rõ ràng – và mạc khải như vậy rất cần thiết cho ơn cứu độ, vì nó giúp chúng ta hiểu biết về sự ban bố ơn cứu độ của Thiên Chúa nơi Đức Giêsu Kitô, để nhờ đó – như phái tân kinh viện đã nói – chúng ta có thể lựa chọn đúng đắn con đường đạt đến cứu cánh cuối cùng của mình. Nhìn một cách khách quan, mạc khải được đồng hóa với gia sản mang tính tiên tri và tông đồ được ủy thác cho Giáo Hội. Gia sản này được hiểu là bao gồm – ít nhất một phần – bộ qui điển Thánh Kinh xét như là một thu thập những xác định được linh hứng và không sai lầm, và phải được chấp nhận với đức tin không nghi ngại. Ngoài sự chia sẻ giáo lý nầy về Thánh Kinh với những người Tin Lành duy Tin mừng, phái tân kinh viện Công Giáo còn thêm rằng có một nguồn thứ hai nữa mang tính tông truyền – gọi là truyền thống – giữ vai trò bổ sung và giải thích Thánh Kinh! Đối với phái tân kinh viện, quyền giáo huấn của Giáo Hội có thể công bố một số xác định như là mạc khải thần linh, dù không thấy được dạy rõ ràng trong Thánh Kinh, nhưng được tìm thấy trong di sản Tông Đồ với sự giúp đỡ của truyền thống sống động.

Theo các nhà thần học của cả phái duy Tin mừng bảo thủ lẫn phái tân kinh viện, sự đáp trả đúng đắn đối với mạc khải là đức tin hiểu theo nghĩa là một sự chấp nhận cương quyết đối với những chân lý mạc khải chứa đựng trong các nguồn có thẩm quyền. Đối với cả hai nhóm, đức tin ấy là kết quả của sự tác động của Thánh Thần trong tâm hồn người tín hữu. Phái tân kinh viện và rất nhiều người thuộc phái duy Tin mừng còn thừa nhận thêm rằng đức tin ấy không mù quáng, nhưng là một hành động hợp lý dựa trên những dấu chỉ khả tín bên ngoài.

Những Đóng Góp Của Mẫu Thức “Xác Định””

Trước khi chuyển sang xem xét những hướng nhìn khác về mạc khải, thiết tưởng chúng ta nên cân nhắc những điểm mạnh và những điểm yếu của mẫu thức mà chúng ta vừa tìm hiểu, đối chiếu với những tiêu chuẩn đã được nêu ra ở chương I. Mẫu thức xác định cho thấy thế mạnh của nó ở những khía cạnh trung thành với truyền thống, sự nhất quán nội tại và có những ích lợi thực tiễn; nhưng nó không được mạnh lắm nếu xét theo những tiêu chuẩn khác.

Về điểm thứ nhất, có thể nói rằng lý thuyết này có một nền tảng nào đó trong Thánh Kinh – vì Thánh Kinh có vẻ thường xuyên nói về việc Thiên Chúa đã trao các sứ điệp của Ngài bằng ngôn ngữ nhân loại. Trong Cựu Ứơc, các sách Luật và các sách tiên tri được xem như là lời của Thiên Chúa. Nhiều chỗ trong Tân ước, những trích dẫn Cựu Ứơc được trích dẫn như chính lời của Thiên Chúa. Trong khi không có bằng chứng thuyết phục rằng mọi đoạn văn Kinh Thánh đều được xem như lời của Thiên Chúa, thì người ta vẫn thấy nhiều đoạn văn Thánh Kinh được trích dẫn (một cách) như thể là chính Thiên Chúa nói những gì Thánh Kinh nói. Bất cứ khi nào Thánh Kinh được trích dẫn thì cũng được xem như là thẩm quyền tuyệt đối.

Hơn nữa, cách hiểu “xác định” về Thánh Kinh có thể tìm thấy một nền tảng nào đó trong truyền thống. Khi sử dụng Thánh Kinh, các giáo phụ và các vị tiến sĩ của Giáo Hội cho thấy một khuynh hướng xem những tuyên bố riêng thuộc Thánh Kinh là chính lời của Thiên Chúa một cách không chút e dè. Từ thời Cải Cách cho đến thế kỷ XIX, cả Tin Lành và Công Giáo dường như đều nhất trí chấp nhận cái nhìn “xác định” về mạc khải và nhất trí xem Thánh Kinh như một thu thập các sứ điệp thần linh.

Lý thuyết “xác định” cũng không thiếu tính nhất quán nội tại. Hễ khi các tiên đề được nhìn nhận thì toàn bộ lý thuyết sẽ được nhìn nhận theo một cách tất nhiên. Điều nầy, đến lượt nó, lại giúp cho việc đánh giá kết quả xét về mặt lý thuyết. Mẫu thức xác định đưa ra những tiêu chuẩn chặt chẽ về giáo thuyết, để cho những quan điểm thần học chính thống và không chính thống có thể được đo lường tương đối dễ dàng bằng cách qui chiếu đến những tiêu chuẩn khách quan và đã được nhất trí về chân lý mạc khải. Một phần cũng bởi lý do nầy mà mẫu thức “xác định” đã được đắc dụng bởi các nhà thần học biện thuyết hồi thế kỷ XVI và XVII – là thời kỳ mà người ta ưa chuộng cách lập luận theo phương pháp diễn dịch. Thánh Kinh đã được xem như một “kho khí giới thần linh” chứa các chân lý mạc khải.

Mẫu thức “xác định,” nhất là trong hình thức của nó nơi tư tưởng duy Tin mừng của Tin Lành, cung ứng nền tảng cho một phương pháp thần học đơn giản hơn. Carl Henry đã phát biểu:

Thần học Kitô giáo là công việc hệ thống hóa những nội dung chân lý minh nhiên và mặc nhiên trong các văn phẩm được linh hứng. Chủ yếu công việc nầy gồm có việc lặp lại, kết hợp và hệ thống hóa chân lý mạc khải trong hình thức đã được ban cho một cách xác định nơi Thánh Kinh. Công việc của thần học là tập chú vào nội dung khả niệm và những tương quan luận lý của mạc khải được ban cho trong Thánh Kinh nầy, và trình bày giáo huấn của nó xét như một tổng thể.””

Như vậy, thần học giữ vai trò hệ thống hóa các dữ kiện mạc khải, bênh vực chúng trước những chống đối – và trình bày những hàm chứa được thấy là có lý của chúng. Thần học suy lý biến thành một “khoa học của những kết luận” với những tiền đề lấy từ Thánh Kinh – hay như trong trường hợp của phái tân kinh viện – thì còn lấy từ tín lý của Giáo Hội nữa. Một thần học như thế đặc biệt thích hợp cho thời đại duy lý – khi mà Giáo Hội thấy mình bị những kẻ không tin quá khích tấn công từ bên ngoài. Thần học theo phương pháp này có một dáng vẻ nào đó có tính “khoa học” và không vướng phải những điểm hàm hồ của một qui phạm thiếu những tiền đề vững chắc.

Đáng kể nhất trong số những ích lợi rõ ràng của mẫu thức này là kết quả thực tiễn của nó đóng góp vào việc hiệp nhất và phát triển Giáo Hội. Nó củng cố lòng trung thành đối với những văn kiện và những truyền thống căn bản của Giáo Hội và do đó giúp cho các phần tử của Giáo Hội có được một cảm nhận rõ ràng về tính duy nhất. Mẫu thức xác định cũng khơi lên một cảm nhận về sự liên đới, qui tụ tất cả những tín hữu đích thực vào mối thống nhất rõ ràng, bởi họ cùng chấp nhận chung những giáo lý thuộc mạc khải thần linh như nhau. Các Giáo Hội chấp nhận mẫu thức “xác định” sẽ dễ đạt được tính cách chính thống, vì các giáo lý của những Giáo Hội nầy được công nhận là vững chắc trước sự khích bác của con người, và các Giáo Hội nầy cũng có thể loại trừ những kẻ bất đồng – tức những kẻ được xem là quay lưng lại với luật thiêng liêng của đức tin được ban cho  họ.

Cuối cùng, mẫu thức này làm tăng triển một cảm nhận sống động về sứ mạng. Nó chú trọng đến tính cách duy nhất và đặc biệt của Kitô giáo và do đó giúp cho tín hữu khỏi phải nghi ngại về những gì họ phải rao giảng. Đối với những người chấp nhận nó, mẫu thức xác định giúp họ dễ gắn bó triệt để hơn với giáo huấn của Thánh Kinh và của Giáo Hội – và giúp họ trình bày một giải thích sáng tỏ về đức tin của mình tương đối dễ dàng. Vì các Giáo Hội bảo thủ bám chặt vào mẫu thức này, nên không ngạc nhiên việc các Giáo Hội nầy đã phát triển trong một số trường hợp được thấy là rất nhanh – trong khi nhiều nhánh Kitô giáo khác tự do hơn, quan điểm ít minh bạch hơn về mạc khải, đã suy vong dần dần.

Phê Bình Mẫu Thức “Xác Định””

Cho dù có những ưu điểm đáng kể như thế, mẫu thức “xác định” nhìn chung đang lụi tàn dần, có lẽ ngoại trừ đối với những địa bàn thuộc ảnh hưởng Tin mừng bảo thủ – là nơi mà sự vô ngộ có tính xác định của Thánh Kinh đang là vấn đề tranh cãi sôi nổi. Trong phạm vi Công Giáo Rôma, thần học tân kinh viện vốn có nhiều ảnh hưởng vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX đã rơi vào thế suy vi nghiêm trọng và dường như không có cách nào cứu vãn. Khi nhận xét về quang cảnh thần học chung, một người Tin Lành thuộc khuynh hướng cởi mở đại kết – trong một bài viết cách đây hơn 10 năm – đã cảm thấy có quyền khẳng định như sau: “Không có sự xác định nào có sức thuyết phục hơn sự xác định nầy: đó là, nội dung của mạc khải không phải là một cơ cấu gồm những điều xác định mà người ta phải chấp nhận như một điều kiện của đức tin.” Chúng ta hãy khảo sát một số lý do đã góp phần hình thành nên quan điểm này.

Mặc dầu mẫu thức xác định tự nhận là có nền tảng chắc chắn trong Thánh Kinh và trong những niềm tin phổ quát của cộng đoàn Kitô hữu, người ta có thể đặt vấn đề rằng thật sự nó trung thành với Thánh Kinh hay là với truyền thống trước Cải cách. Theo phương thức này thì Thánh Kinh được nhìn chủ yếu như một sưu tập những xác định và mỗi một trong những điều xác định ấy tự nó có thể được hiểu như là một khẳng quyết thần linh. Không kể những cố gắng đã được người ta thực hiện để chứng minh ngược lại, Thánh Kinh dường như cũng không tự tuyên bố mình có tính bất khả ngộ một cách xác định như thế. Và trong hầu hết các trường hợp, các nhà chú giải thời thượng cổ và trung cổ cũng không chủ trương cách hiểu Thánh Kinh theo nghĩa hẹp sát chữ như cách hiểu được phái bảo thủ ở thế kỷ XX cổ xúy. Các giáo phụ và những môn sinh của các ngài trong thời trung cổ nói chung có khuynh hướng mở rất rộng cho những cách giải thích theo chiều hướng thiêng liêng và có tính ngụ ngôn – và những cách giải thích nầy rõ ràng vượt quá nghĩa hẹp của những xác định riêng rẽ, thậm chí đôi khi còn bỏ qua cả ý nghĩa mặt chữ.

Mẫu thức xác định trong hình thức ta đang xem xét ở đây chủ yếu là luận đề cho rằng mọi câu tuyên bố trong Thánh Kinh – trừ phi trong văn mạch được thấy có mâu thuẫn lại – thì phải được hiểu là một diễn tả về một chân lý mạc khải nào đó. Phái tân kinh viện còn bổ sung vào đó nữa rằng bất cứ điều gì mà Giáo Hội – với quyền giáo huấn phổ quát của mình – tuyên bố rằng đó là mạc khải thì thật sự đó là mạc khải. Những luận đề này – trong một thời đại của suy tư phê bình – nhìn chung không còn đáng tin cậy.

Khoa phê bình Thánh Kinh hiện đại tập chú vào tính đa dạng của những hình thức và qui ước ngôn ngữ văn chương trong Thánh Kinh. Người ta đã xếp loại lại nhiều sách vốn được xem là sách lịch sử dưới những tiêu đề như sử thi và truyện ký lịch sử; và vạch cho thấy những mối quan hệ gần giữa các sách Tin mừng và bài giảng của Giáo Hội sơ khai. Kết quả nghiên cứu phê bình cho thấy rằng ngay cả những bản văn được nhận là có tính lịch sử cũng có tồn tại những yếu tố thi ca, huyền thoại và thần bí – và các tác giả Thánh Kinh cũng khác biệt nhau rất nhiều trong quan điểm về tôn giáo. Những tiến bộ trong khoa học và trong hình-sử-học đã làm cho gần như không thể tiếp tục dùng Thánh Kinh như một nguồn có thẩm quyền về thông tin khoa học và sử học, như tình hình đã xảy ra trong những thời kỳ chưa phê bình.

Lý thuyết xác định trong hình thức của phái tân kinh viện cũng rập theo sự đánh giá của những người Tin Lành bảo thủ về Thánh Kinh – do đó cũng chẳng được dễ dàng hơn trong cuộc đương đầu với những chứng cứ ngày càng mạnh mẽ chống lại sự vô ngộ có tính xác định của Thánh Kinh. Xét một số chiều hướng thì vấn đề càng căng hơn nữa bởi nó còn thêm vào hai tính bất khả ngộ khác: bất khả ngộ của truyền thống và của quyền giáo huấn. Trong ánh sáng có được từ việc nghiên cứu nghiêm túc về lịch sử, người ta thật khó mà khẳng quyết rằng các vị giáo hoàng và các công đồng – dù khi long trọng xác định những vấn đề thuộc đức tin – có thể thoát khỏi những lằn ranh giới hạn thuộc thời đại của mình. Nếu người ta chấp nhận rằng những minh định ấy không thể được hiểu theo giá trị mặt ngoài mà là phải giải thích lại, thì có nghĩa là người ta đã bác bỏ ý niệm có tính khách thể về chân lý hàm ẩn trong mẫu thức xác định. Các nhà chú giải Thánh Kinh thời nay – không thiết yếu phải bỏ mọi loại vô ngộ hay bất khả ngộ – vẫn tìm cách đạt được sự trung thành với những gì được ban cho mà không khư khư bám vào những định thức rõ ràng bằng lời và đã được thừa nhận.

Tổng quát hơn, người ta có thể nói rằng mẫu thức xác định dựa trên một lý thuyết mang tính khách thể hóa về tri thức là một lý thuyết đang bị chất vấn rộng rãi trong thời đại chúng ta hiện nay. Trong truyền thông liên lạc, những câu xác định giữ vai trò thứ yếu hơn. Ngay cả những câu tuyên bố cũng truyền đạt nhiều nhờ ở khả năng khơi gợi của chúng hơn là ở nội dung luận lý của chúng. Những gì có tầm quan trọng hơn thì không bao giờ có thể được trình bày một cách tương ứng bằng hình thức (ngôn ngữ) xác định – ngay cả những câu xác định cũng lệ thuộc vào rất nhiều bối cảnh để hình thành ý nghĩa cho chúng. Tôi không thể quyết chắc một người muốn nói gì qua câu nói của họ trừ phi tôi biết một điều gì đó về người ấy và về hoàn cảnh mà người ấy nói lên câu nói đó.

Cách diễn dịch của phái tân kinh viện về mẫu thức xác định rõ ràng có tiến bộ hơn chủ trương duy Thánh Kinh của những người Tin Lành – vì có thừa nhận tầm quan trọng của truyền thống xét như một trung gian giải thích mạc khải. Nhưng truyền thống – được phái tân kinh viện hiểu một cách hẹp – dường như chủ yếu bao gồm những lời giảng dạy minh nhiên. Maurice Blondel đã thẳng thắn chống lại ý niệm nầy. Ông lập luận rằng theo quan niệm thông thường thì truyền thống là sự chuyển đạt – chủ yếu bằng khẩu ngôn – những thông tin và những giáo lý không được viết ra. Nếu theo ý nghĩa nầy thì truyền thống sẽ dần dần đi đến chỗ dư thừa không cần thiết, bởi vì càng ngày những điều ghi nhớ càng được người ta ghi ra rạch ròi trên giấy trắng mực đen. Hơn nữa, truyền thống sẽ dần đi đến chỗ mất tính đáng tin cậy vì cái khoảng trống quá thênh thang giữa thời điểm xảy ra mạc khải cuối cùng và thời hiện tại. Để lấy một ví dụ không phải của chính Blondel đưa ra, người ta có thể hỏi bằng cách nào một tín điều như Đức Nữ Trinh Hồn Xác Lên Trời – được xác định năm 1950 – có thể có nền tảng rõ ràng nơi những lời chứng minh nhiên của các Tông Đồ.

Blondel thẳng thắn chất vấn 2 giả định của lý thuyết nầy về truyền thống: đó là “truyền thống chỉ kể lại những gì đã minh nhiên được nói ra,” được chỉ dẫn hay được thực hiện – và “truyền thống không cung ứng một cái gì mà không thể được diễn dịch thành văn tự.” Blondel cho rằng một ý niệm về truyền thống như thế không giải thích được thỏa đáng tại sao Giáo Hội tiếp tục duy trì truyền thống. Để cho thích đáng hơn, Blondel đề ra một ý niệm linh động và mở rộng về truyền thống – theo đó những người tin được tạo điều kiện để đạt được những nhận thức mới nhờ việc theo đuổi lý tưởng người môn đệ và nhờ tích cực sống rõ nét đời Kitô hữu. Gần đây hơn, Michael Polanyi đã nhấn mạnh sự cần thiết của truyền thống xét như một phương tiện để phối kiểm sự nhận hiểu mặc nhiên hay rộng rãi. Ông viết: “Một xã hội muốn bảo tồn kho tàng tri thức cá nhân thì phải chấp nhận truyền thống.” Tương tự như Blondel, ý niệm của ông về truyền thống hoàn toàn đối ngược lại ý niệm của tư tưởng tân kinh viện.

Những mũi dùi khác chống lại mẫu thức xác định chĩa vào tính cách bất tương ứng với kinh nghiệm của mẫu thức này. Mẫu thức này có tính khá độc đoán, đòi hỏi người ta chấp nhận những ý niệm và những tuyên bố phát xuất trong những hoàn cảnh khác hẳn với những hoàn cảnh của người tín hữu thời nay. Những xác định trong Thánh Kinh và trong truyền thống Giáo Hội được nhận là mạc khải, không cần giải thích xem chúng có thực sự soi sáng cho hoàn cảnh cụ thể của người tín hữu. Trong phương thức nầy không thấy đề cập bao nhiêu đến khả năng khơi gợi của những hình ảnh và những biểu tượng thuộc Thánh Kinh; không thôi thúc bao nhiêu để người ta tìm ra những dấu chỉ về sự hiện diện của Thiên Chúa trong chính đời sống và kinh nghiệm của riêng mình, không diễn giải bao nhiêu về tính chất của đức tin mà nó tìm hiểu và khảo sát.

Bởi những lý do nói trên, mẫu thức xác định – theo nhiều nhà phê bình đánh giá – không thỏa mãn được vấn đề nhận thức tôn giáo. Nó đặt ra cho thần học một chức năng và một giới hạn xem ra quá hẹp. Nhà thần học bị buộc phải làm việc nội trong phạm vi một loạt những định thức được trình bày trong ngôn ngữ (có) khái niệm – vốn được hiểu là bởi thần linh mạc khải. Điều này dẫn đến loại thần học mà Đức Piô XII mô tả trong “Humani generis” như sau:

“ Cũng thật sự rằng các nhà thần học phải tiếp tục quay lại với những nguồn mạc khải thần linh, vì vai trò của họ là chỉ ra cho thấy làm thế nào mà những điều được dạy bởi quyền giáo huấn sống động lại có nền tảng một cách minh nhiên hay mặc nhiên trong Thánh Kinh và trong Thánh Truyền… Bởi đó, vị tiền nhiệm đáng nhớ của Ta là Đức Piô IX – khi dạy rằng công việc cao quý nhất của thần học là chỉ ra cho thấy bằng cách nào mà giáo lý đã được xác định của Giáo Hội được chứa trong những nguồn ấy – ngài đã được thúc đẩy bởi những lý do hệ trọng để thêm rằng: “và chính trong ý nghĩa ấy mà giáo lý được xác định.”””

Mặc dù hẳn là không ai phủ nhận việc các nhà thần học có thể cho thấy đúng đắn sự nối tiếp giữa những nguồn cổ xưa và giáo huấn hiện nay của Giáo Hội, người ta vẫn cảm thấy chung chung là thần học nên mở ra để có thể chấp nhận rằng một số giáo huấn của Giáo Hội hiện nay không nằm trong những nguồn mà “theo chính ý nghĩa ấy chúng được xác định.” Thần học có một công việc mang tính phê bình, để mở ra cho thấy những khiếm khuyết trong các định thức của quá khứ và hiện nay – và một công việc nữa mang tính sáng tạo, đó là tìm kiếm những phương thức tốt hơn để trình bày mạc khải cổ xưa cho một thời đại mới. Để có thể thể hiện những chức năng nầy, các thần học gia phải quan tâm kỹ đến kinh nghiệm của các Kitô hữu đương thời hơn là quan tâm đến mẫu thức xác định để động viên họ.

Cuối cùng, phải nói rằng cách hiểu có tính giáo lý xác định về mạc khải đã tự cho thấy không thuận tiện để đối thoại với các Giáo Hội khác và các tôn giáo khác.

Xác tín rằng mình nắm giữ di sản nguyên tuyền và đầy đủ, nhà thần học sẽ nhìn những người thuộc các nhóm khác như những kẻ tà giáo hay phản bội. Những người ngoài Kitô giáo, vì các giáo lý của họ không thể thuộc về những nguồn mà Kitô hữu thừa nhận là có thẩm quyền thiêng liêng, nên kể như là không thể có mạc khải. Nếu các tín hữu Kitô được tạo điều kiện cho để tự mãn nghĩ rằng mình ở trên mọi kẻ khác, thì thật khó lòng mà họ có thể chấp nhận đi vào cuộc đối thoại trên tinh thần xây dựng và kính trọng những niềm tin khác mình.

Trong chương này chúng ta đã đặt mục tiêu nghiên cứu là mẫu thức “xác định” trong hình thức khá chặt chẽ của nó. Và khi chỉ ra những khuyết điểm của loại thần học này chúng ta không hàm ý nói rằng mạc khải của Thiên Chúa không hề có giá trị tri thức hoặc cho rằng những giáo huấn rõ ràng của Thánh Kinh và những tín điều đều không có nền tảng trong mạc khải. Trong các chương sau chúng ta sẽ có dịp tìm thấy lại những yếu tố khác nhau về giá trị mà mẫu thức xác định đã bênh vực một cách đúng đắn – dù có lẽ không phải bằng những luận chứng sắc bén nhất. Cùng với mẫu thức này, chúng ta sẽ khẳng định rằng mạc khải hoàn toàn đến được với tâm trí con người, và nó có thể được nắm bắt – ít là trong một mức độ nào đó – bằng những xác tín và những khẳng định của con người.

Lm. Lê Công Đức dịch từ

nguyên tác Models Of Revelation

của Avery Dulles, S.J.

do nhà Image Books – New York xuất bản, 1985.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s