Hồ sơ dân oan từ tuần 102 đến 105

VRNs (31.03.2015) – Tuần thứ 102 đến 105, tức từ ngày 09/03 đến ngày 28/03/2015, Văn phòng Công lý-Hoà bình DCCT Sài Gòn nhận được hồ sơ của Dân oan các Tỉnh/Thành phố Đồng Nai, Kiên Giang, Lâm Đồng và Sài Gòn.

1) ĐỒNG NAI:

a) Bà Nguyễn Thị Kim Hoa- ngụ tỉnh Tiền Giang- người đại diện hợp pháp cho con là Nguyễn Hùng Chiến:

Ông Nguyễn Hùng Chiến bị Tòa án nhân dân thị xã Long Khánh tỉnh Đồng Nai, tại bản án số 121/2014/HSST ngày 29/12/2014 kết tội “cố ý gây thương tích” theo khoản 3 Điều 104 Bộ luật hình sự do có hành vi gây thương tích cho ông Đặng Hiệp Thành. Bản án sơ thẩm cho rằng: “Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm sức khỏe của người khác mà còn ảnh hưởng đến an ninh trật tự địa phương. Tại bản kết luận giám định tâm thần số 512 ngày 17/7/2012, Viện giám định pháp y tâm thần TW – phân viện phía nam kết luận: bị cáo bị rối loạn nhân cách và hành vi thực tổn, hiện tại bệnh trong giai đoạn ổn định. Tại thời điểm gây án và hiện nay: bị cáo có năng lực nhận thức và điều khiển hành vi nhưng bị hạn chế do bệnh”, từ đó tuyên phạt bị cáo Nguyễn Hùng Chiến 05 (năm) năm tù. Thời hạn tính từ ngày 17/7/2014. Về trách nhiệm dân sự …buộc bà Nguyễn Thị Kim Hoa và bị cáo Nguyễn Hùng Chiến phải liên đới bồi thường cho ông Đặng Hiệp Thành số tiền 54.483.702 đồng. Tuy nhiên tại Biên bản giám định pháp y tâm thần số 06/2013-PYTT của Trung tâm giám định pháp y tâm thần – Sở y tế tỉnh Tiền Giang ngày 22/1/2013, chúng tôi thấy “Kết luận: Hiện tại (ông Nguyễn Hùng Chiến)

+ Về y học: tâm thần phân liệt thể hoang tưởng (F20.0 theo CDI10)

+ Về pháp luật: đương sự không đủ năng lực hành vi dân sự, có hành vi nguy hiểm cho gia đình và xã hội đề nghị nhập viện điều trị bắt buộc tại bệnh viện tâm thần TW II (Biên Hòa – Đồng Nai)”.

Hiện tại, Bà Hoa đã kháng cáo và nhận được Giấy triệu tập đương sự – của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, yêu cầu có mặt tại Hội trường A – TAND tỉnh Đồng Nai. Số 40A, CMT8, TP Biên Hòa để xét xử phúc thẩm. Do không có hồ sơ vụ án, Văn phòng đề nghị bà liên hệ Luật sư đã bào chữa, bảo vệ quyền lợi cho bà và ông Chiến tại tòa án cấp Sơ thẩm giúp đỡ.

b) Bà Võ Thị Thương và bà Trần Thị Gọn, huyện Định Quán:

+/ Bà Võ Thị Thương yêu cầu “hủy bỏ Biên bản số 02/BB-VPHC ngày 12/2/2015, Quyết định số 09/QĐ-XPVPHC ngày 13/2/2015 của UBND xã La Ngà và Quyết định số 24/QĐ-UBND ngày 26/2/2015 về việc sửa đổi bổ sung quyết định 09/QĐ-XPVPHC ngày 13/2/2015 vì cho rằng trái pháp luật, không có đạo đức xã hội”. Quyết định số 09/QĐ-XPVPHC của UBND xã La Ngà UBND huyện Định Quán UBND tỉnh Đồng Nai ngày 13/2/2015 về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt; và Quyết định số 24/QĐ-UBND của xã La Ngà ngày 26/2/2015 về việc sửa đổi, bổ sung Quyết định 09/QĐ-XPVPHC ngày 13/3/2015 của Chủ tịch UBND xã La Ngà về việc xử phạt vi phạm hành chính đối với bà Võ Thị Thương, cư ngụ ấp 1 xã La Ngà.

Sửa đổi các biện pháp khắc phục hậu quả nêu tại Điều 1 Quyết định số 09/QĐ-XPVPHC ngày 13/2/2015 của Chủ tịch UBND xã La Ngà: Quyết định số 09/QĐ-XPVPHC nêu yêu cầu bà Võ Thị Thương tháo dỡ phần diện tích 32 m2 xây dựng trong đất dành cho đường bộ và khôi phục lại tình trạng ban đầu theo quy định nay sửa đổi thành: Yêu cầu bà Võ Thị Thương tháo dỡ toàn bộ công trình tạm (nhà tạm) trong đất dành cho đường bộ với diện tích 4mx8m = 32 m2; kết cấu: khung, cột gỗ, kèo gỗ, mái lợp tôn, vách là ván ép và tôn và khôi phục lại hiện trạng ban đầu theo quy định”.

+/ Và Bà Trần Thị Gọn yêu cầu “hủy bỏ Quyết định số 11/QĐ-XPVPHC của UBND xã La Ngà – UBND huyện Định Quán – UBND tỉnh Đồng Nai ngày 3/3/2015 về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt”. Theo Quyết định này: Bà Gọn “đã thực hiện hành vi vi phạm hành chính: Vào ngày 28/2/2015, bà Trần Thị Gọn tự ý dựng công trình tạm thời khác (nhà tạm) trái phép trong phạm vi đất dành cho đường bộ (hành lang an toàn đi bộ) đường dẫn cầu La Ngà), với diện tích 3mx3m = 9m2; kết cấu: khung, cột làm bằng gỗ, nền và mái chưa lợp tôn (trong thời gian ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với bà Trần Thị Gọn thỉ bà Trần Thị Gọn tiếp tục lợp tôn và dựng vách bằng tôn cũ) quy định tại điểm b, khoản 3, Điều 12 của Nghị định 171/2013/NĐ-CP ngày 13/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt”

Do hồ sơ nộp theo đường bưu điện, không có đầy đủ chứng cứ, Văn phòng sẽ liên hệ trực tiếp với Quí bà.

2) KIÊN GIANG:

Bà Nguyễn Thị Năm – huyện Giồng Riềng:

+/ Về vụ việc hình sự: Bản án số 26/2015/HSPT của TAND tỉnh Kiên Giang ngày 4/2/2015 xét xử phúc thẩm vụ án đối với bị cáo: Lê Thanh Tùng, Lê Thanh Liêm (con bà Năm) và Lê Thanh Nhàn (con ông Lê Thanh Liêm). Do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 40/2014/HSST ngày 20/8/2014 của TAND huyện Giồng Riềng tỉnh Kiên Giang. Bản án cho rằng: “Do có mâu thuẫn từ việc tranh chấp đất đai giữa ông Nguyễn Văn Đức và bà Nguyễn Thị Năm đã được cơ quan có thẩm quyền xét xử và có hiệu lực pháp luật nên ngày 7/6/2014 ông Nguyễn Văn Đức kết hợp với đoàn cán bộ xã, ấp để tiến hành gieo sạ lúa trên phần đất ngụ ấp Hòa Phú, xã Hòa Hưng, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang. Tại đây ông Đức đã xảy ra cự cãi với gia đình bà Năm gồm ông Lê Văn Hải (chồng bà Năm), Lê Thanh Liêm, Lê Thanh Tùng, Lê Thanh Tuấn (các con bà Năm), Lê Thanh Nhàn (con ông Lê Thanh Liêm), sau đó 2 bên xảy ra đánh nhau, bị cáo Lê Thanh Liêm là người đầu tiên đánh ông Đức bằng tay, bị cáo Tùng đứng gần đó thấy vậy cũng chạy vào đánh cùng với vị cáo Liêm, ông Đức té ngửa thì bị cáo Liêm, Tùng cũng tiếp tục đánh ông Đức, bị cáo Nhàn thấy vậy cũng chạy đến dùng tay đánh vào ông Đức làm đầu ông Đức chảy máu. Hậu quả là sức khỏe ông Đức bị giảm do thương tích gây nên 16%. Do vậy, án sơ thẩm đã xét xử các bị cáo Lê Thanh Nhàn, Lê Thanh Liêm, Lê Thanh Tùng về tội “cố ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 104 BLHS và tuyên mức án đối với bị cáo Lê Thanh Nhàn là 9 tháng tù, các bị cáo Lê Thanh Liêm, Lê Thanh Tùng đều 6 tháng tù là thỏa đáng…” Từ đó, TA tỉnh “Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Lê Thanh Nhàn, Lê Thanh Tùng, Lê Thanh Liêm, giữ nguyên bản án sơ thẩm”.

+/ Còn vụ việc dân sự: Bản án số 283/2012/DS-PT của TAND tỉnh Kiên Giang ngày 26/12/2012 xét xử “về việc tranh chấp quyền sử dụng đất” giữa Nguyên đơn: ông Nguyễn Văn Đức, và Bị đơn: bà Nguyễn Thị Năm, Tòa án đã tuyên: “Buộc bà Nguyễn Thị Năm và ông Lê Văn Hải phải có nghĩa vụ giao trả lại cho ông Nguyễn Văn Đức quyền sử dụng đất diện tích 3.280 m2, thuộc thửa số 699, tờ bản đồ số 32, tọa lạc tại ấp Hòa Phú, xã Hòa Hưng, huyện Giồng Riềng, Kiên Giang do ông Nguyễn Văn Đức đứng tên quyền sử dụng đất số D.0821596 cấp ngày 1/7/1995. Theo biên bản xem xét thầm định tại chỗ ngày 18/5/2012, phần đất có số đo như sau: cạnh HM=85,39m, cạnh NI-21,59m, cạnh HK=117,94m, cạnh KH=26,7m”.

Do hồ sơ bà gửi theo bưu điện, Văn phòng không xác định được yêu cầu của bà. Đây là những vụ việc tranh chấp cá nhân, đề nghị bà nhờ các Luật sư đã bào chữa, bảo vệ cho gia đình giúp đỡ thủ tục “đề nghị có kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm” các Bản án dân sự, hình sự …nêu trên.

3) LÂM ĐỒNG:

Bà Lê Kim Trang và ông Nguyễn Văn Quí, huyện Bảo Lâm:

Ông/bà viết: “Gia đình tôi có diện tích đất nông nghiệp là 8.710 m2 thửa 217, 219 tờ bản đồ số 24, GCNQSD đất số 349.949, 349.950, đất có nhà ở, đối diện khu nhà ở công nhân bauxit, đất thuộc tổ 15 thị trấn Lộc Thắng, huyện Bảo Lâm. Nay bị thu hồi để làm khu văn hóa, thể thao khu công nhân bauxit.

Vào tháng 8/2008 nhân viên của TTPTQĐ tỉnh Lâm Đồng có đến diện tích nói trên để kiểm tra hiện trạng, tài sản có trên đất “dự kiến thu hồi để thực hiện dự án”. Sau đó gửi bản chiết tính chi tiết bồi thường cho gia đình tôi, đến tháng 4 năm 2009 TTPTQĐ tỉnh Lâm Đồng báo cho gia đình tôi lấy tiền bồi thường, hỗ trợ (xin gửi kèm biên bản kiểm tra + bản chiết tính + giấy mời lấy tiền). Ngoài ra không có một giấy tờ gì khác của UBND huyện Bảo Lâm liên quan đến thu hồi đất gia đình tôi đang canh tác. Tôi chưa nhận tiền vì tôi chưa nhận được quyết định thu hồi đất…

Gia đình tôi rất bức xúc với các cấp của huyện và tỉnh Lâm Đồng

  • Quyết định thu hồi đất ký ngày 16/2/2009 đến ngày 30/12/2010 mới giao cho tôi (từ ngày ký quyết định định đến ngày giao cách nhau 22 tháng) vi phạm khoản 3 điều 53 Nghị định số 84/NĐ-CP ngày 25/5/2007.
  • TTPTQĐ đi kiểm tra hiện trạng và tài sản có trên đất thực hiện trước khi ký quyết định thu hồi đất số 1041 ngày 16/2/2009 khoảng 5 tháng, đã vi phạm điều 55 Nghị định số 84/NĐ-CP.
  • Bản chiết tính của TTPTQĐ chỉ có dấu treo (không có ngày tháng chữ kí của cơ quan nào) làm thay cho quyết định bồi thường đã vi phạm vào điều 57 Nghị định 84/NĐ-CP.
  • Sau khi gia đình tôi nhận quyết định thu hồi đất, không làm thủ tục bồi thường mà lại cưỡng chế lấy đất để hoang, đã vi phạm khoản 3 điều 39 Luật đất đai 2003.
  • Tôi khởi kiện quyết định 1922 ngày 13/9/2012 của UBND tỉnh Lâm Đồng ngày 17/6/2013 vẫn còn thời hiệu khởi kiện.
  • Nêu họ giữ nguyên quyết định 5221 theo điều 2 của quyết định thì họ biết đã hết thời hiệu mà trong điều 3 của quyết định 1922 lại ghi nếu tôi không đồng ý, có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại tòa án có thẩm quyền. tôi không hiểu được cách giải quyết của họ…hiện tại đất của tôi vẫn đang để hoang.
  • Nguyện vọng của gia đình tôi: bồi thường, hỗ trợ thiệt hại cho gia đình tôi theo nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009. Nếu họ không giải quyết được cho gia đình tôi thỉ trả lại đất để gia đình tôi tiếp tục canh tác”.

Vụ việc của ông/bà đã có Quyết định số 04/2014/QĐST-HC của TAND huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng ngày 8/9/2014 “về việc đình chỉ giải quyết vụ án”. TA cho rằng: “… đối với Quyết định số 1041/QĐ-UBND ngày 16/2/2009 của UBND huyện Bảo Lâm và Quyết định số 5470/QĐ-UBND ngày 27/12/2011 của UBND huyện Bảo Lâm thì người khởi kiện đã hết thời hiệu khởi kiện mà không có lý do chính đáng. Đối với Quyết định số 5221/QĐ-UBND ngày 12/12/2011 của Chủ tịch UBND huyện Bảo Lâm và Quyết định số 3965/QĐ-UBND ngày 20/8/2012 của Chủ tịch UNND huyện Bảo Lâm đây là Quyết định giải quyết khiếu nại không có nội dung sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ Quyết định hành chính do vậy cả hai Quyết định này không thuộc đối tượng khởi kiện để yêu cầu tòa án giải quyết vụ án hành chính”.

Do vụ việc ở xa, Văn phòng đề nghị ông/bà nhờ Luật sư hoặc Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Lâm Đồng trụ sở: 20 Pasteur- p. 4 Đà Lạt; hoặc chi nhánh 1: 31 Lê Hồng Phong- Bảo Lộc; chi nhánh 2: số 2 Trần Hưng Đạo, Di Linh, Lâm Đồng. Điện thoại 063.832468

4) SÀI GÒN:

Ông Phạm Văn Minh. Thủ Đức:

Vụ việc khiếu nại của ông liên quan đến chính sách bồi thường, giải tỏa Dự án Metro Bến Thành- Suối Tiên đã được Văn phòng thông tin tại Tuần 68-69. Theo yêu cầu của ông, Văn phòng sẽ giới thiệu Luật sư giúp bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho ông.

Văn phòng Công lý-Hoà bình

Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s