Bước tiếp (7): Tâm linh và bản tính con người

VRNs (24.03.2015) – Sài Gòn – Đôi khi người ta hỏi tôi những câu hỏi ‘trời ơi’ như: “Bác sĩ Peck, xin ông cho biết bản tính con người là gì?” Và vì vốn có tính sốt sắng, nên tôi cố xoay xở cho ra những câu trả lời cho các câu hỏi xương xẩu ấy – và câu trả lời đầu tiên của tôi là: “Bản tính con người, đó là mặc quần đi vào phòng tắm!” (14)

Thật vậy, lúc ban đầu mỗi người chúng ta đều làm mọi việc một cách hoàn toàn tự nhiên và thoải mái: thích gì làm nấy! Nhưng rồi, thử hình dung, khi chúng ta tới độ tuổi lên hai, mẹ chúng ta – hoặc cũng có thể là cha – nói với chúng ta: “Này, con là một đứa con ngoan. Con đáng yêu lắm. Nhưng nếu con biết tự dọn vệ sinh sau mỗi khi con phóng uế thì sẽ tốt hơn biết bao!”

Ban đầu, một yêu cầu như thế sẽ không có nghĩa lý gì đối với đứa trẻ. Làm tất cả mọi chuyện xảy đến một cách hoàn toàn tự nhiên – như đái hoặc thậm chí đại tiện ra quần – đó mới là nghĩa lý! Hơn nữa, kết quả sẽ luôn luôn thú vị, và … mỗi lần mỗi khác. Đôi khi, thằng bé có thể ‘xả vòi’, vẽ loăng quăng lên tường, và đôi khi nó có thể xây những ‘ngọn tháp vàng bốc hơi nghi ngút’ trên sàn nhà! Nhưng sẽ là điều hoàn toàn vô nghĩa nếu làm những gì rất ư không tự nhiên, chẳng hạn cố ‘nín’ để đi kịp vô toa-lét và xem cái ‘sản phẩm’ của mình tuôn ra một chỗ – một cách thật phung phí, vì chẳng hề được vận dụng vào một mục đích nào cả!

Tuy nhiên, nếu có một mối quan hệ tốt giữa đứa trẻ và mẹ nó, và nếu mẹ nó có đủ kiên nhẫn để không quá đòi hỏi hay quá kiểm soát nó, thì đứa trẻ sẽ tự nhủ: “À, mẹ mình thật tốt đối với mình trong những năm này. Mình cần làm một cái gì đó để đáp lại mẹ. Mình muốn tặng mẹ một loại quà nào đó cho thấy mình trân trọng mẹ. Nhưng mình chỉ là một đứa trẻ, một đứa trẻ hai tuổi bất lực, vì thế cái mình có thể tặng mẹ – và cũng là cái mẹ muốn – sẽ chẳng là gì khác ngoại trừ cái công việc kỳ cục kia (tức cố ‘nín’ để đi kịp vô toa-lét và giải quyết mọi sự trong đó).

Thế là đứa trẻ, vì muốn tặng quà cho mẹ, bắt đầu biết cố ‘nín’ và đi vào toa-lét. Nhưng bạn hãy xem điều gì xảy ra ở đây sau vài năm. Một cái gì đó rất tuyệt vời. Cho tới khi mà đứa trẻ được bốn hay năm tuổi, nếu có một lúc nào đó bị ‘căng’ hay mệt và nó quên mất, để ‘tai nạn’ xảy ra trong quần, nó sẽ cảm thấy thật không tự nhiên về sự ‘lộn xộn’ ấy. Bởi vì lúc này, việc đi vào toa-lét đối với nó đã trở thành hết sức tự nhiên. Trong giai đoạn ngắn ngủi này, để làm một món quà yêu thương cho mẹ, đứa trẻ đã thay đổi bản tính của nó.

150314009

BẢN NĂNG VÀ BẢN TÍNH CON NGƯỜI

Vì thế, khi người ta hỏi bản tính con người là gì, câu trả lời khác mà tôi thường dùng hơn, đó là nói rằng không có một cái gì gọi là bản tính con người cả. Và nếu buộc phải kể ra những gì gì đó, thì trước hết phải kể đó là niềm vinh dự của chúng ta trong tư cách là con người.

Điều phân biệt con người chúng ta với các sinh vật khác không phải là ngón tay cái của chúng ta, không phải là thanh quản độc đáo giúp chúng ta nói được, cũng không phải là vỏ não to lớn của chúng ta, nhưng đó là sự kiện chúng ta thiếu các bản năng hay các khuôn thức ứng xử có tính di truyền và chế định sẵn – là yếu tố vốn trao cho các sinh vật khác một bản tính rõ ràng hơn nhiều so với chúng ta.

Tôi sống ở Connecticut trên một vùng bờ hồ, và trên hồ ấy, khi băng tan vào mỗi độ cuối tháng ba, một đàn mòng biển bay về; rồi mỗi tháng 12, khi mặt hồ đóng băng trở lại, đàn mòng biển ấy lại bay đi, có lẽ về các vùng ở miền Nam. Tôi chẳng bao giờ biết chúng đi đâu, nhưng một vài người bạn vừa mới cho tôi biết rằng nơi mà chúng đến là Florence, ở Alabama.

Dù có những con mòng biển di trú hay không, các nhà khoa học nghiên cứu các loài chim di trú đã nhận ra rằng chúng thực sự có khả năng di chuyển bằng các vì sao trên trời. Qua di truyền, chúng đã xây dựng nơi chúng những mẫu phức tạp của sự di trú theo các yếu tố trên bầu trời, giúp chúng luôn luôn hạ cánh chính xác ở Florence, Alabama. Điều phải lưu ý ở đây là chúng không hề có tự do để làm điều đó. Những con mòng biển kia không thể nói: “Tôi nghĩ tôi thích trải qua mùa đông này ở Bermuda hay Bahamas hoặc Barbados.” Chúng chỉ có thể đến hoặc Florence, Alabama hoặc không gì cả!

Đàng khác, điều đặc trưng cho con người chúng ta là sự tự do phi thường và khả năng ứng xử vô cùng đa dạng. Trong trường hợp của những con mòng biển trên, chúng ta có thể đi Bahamas hay Bermuda hay Barbados tùy mình thích. Hoặc chúng ta có thể làm một cái gì đó hoàn toàn không tự nhiên, chẳng hạn, giữa mùa đông lạnh thấu xương, chúng ta bay lên phía bắc, đến Stowe, Vermont hay đến vùng núi Colorado! Sự tự do phi thường này – cho phép chúng ta làm những điều khác hẳn và thường xem ra không tự nhiên – là nét nổi bật nhất của bản tính con người chúng ta.

Không đâu khác trình bày điều nói trên tốt hơn quyển Thanh Gươm Trong Đá (The Sword in the Stone) của T.H. White. Tôi xin lược tóm câu chuyện của quyển sách này. Đó là vào thuở rất xa xưa, khi tất cả các sinh vật trên trái đất vẫn còn ở dạng phôi. Buổi chiều nọ, Thiên Chúa tập trung tất cả các phôi nhỏ bé ấy lại và nói: “Ta sẽ cho mỗi đứa trong các ngươi ước ba điều – bất cứ ba điều gì các ngươi muốn. Nào, hãy bước tới đây, lần lượt, và nói lên ba điều ước để Ta ban cho.”

Thế là phôi bé bỏng đầu tiên bước tới và nói: “Lạy Chúa, con muốn có tay và chân, giống như những cái xẻng, để con có thể tự đào hang làm một chỗ ở an toàn cho con dưới đất; con thích có bộ lông dày để giữ con ấm suốt mùa đông, và con thích có một số răng nhọn phía trước để con có thể gặm cỏ.”

Và Chúa nói: “Tốt, hãy đi và trở thành một con chuột chũi.”

Phôi thứ hai bước tới, thưa: ”Lạy Chúa, con thích nước. Con thích có một tấm thân mềm dẻo để con có thể bơi trong nước. Con cũng muốn thở dưới nước với một loại ‘mang’ nào đó. Và con muốn một hệ thống giữ cho con ấm bất kể nhiệt độ của nước nóng lạnh thế nào.”

Chúa phán: “Tốt, hãy đi và làm một con cá.”

Thiên Chúa đáp ứng thỏa mãn mọi điều ước của các phôi nhỏ bé, cho đến khi chỉ còn một phôi cuối cùng, trông có vẻ rất khép nép – có lẽ vì lý do mà tôi đã nhắc đến trước đây: nó quá xấu hổ, đến nỗi Thiên Chúa phải động viên nó và hỏi: “Nè, hỡi phôi bé nhỏ cuối cùng, ba điều ước của ngươi là gì?” Nó rụt rè thưa: “Dạ, con không muốn tự tiện định đoạt gì. Không phải vì con không muốn hàm ơn. Bởi thực sự con muốn. Nhưng … nhưng con tự hỏi nếu Chúa vui lòng, thì con xin cứ vẫn là con như cũ – là một phôi bé bỏng. Có lẽ một lúc nào đó con sẽ đủ khôn ngoan để biết đâu là ba điều mà Chúa nghĩ rằng cần thiết cho con.”

Và Chúa mỉm cười nói: “A! Ngươi là con người. Và vì ngươi đã chọn vẫn tiếp tục làm một phôi, ta sẽ trao cho ngươi quyền thống trị trên mọi sinh vật khác.”

Thực tế, đa số trong chúng ta ném bỏ tình trạng phôi của mình. Khi chúng ta lớn lên, chúng ta trở thành cứng lì trong những cung cách của mình, những bản tính của mình. Hồi tôi còn nhỏ, quan sát cha mẹ mình và những người khác khi các ngài bước vào tuổi 50 hay 60, tôi thấy dường như các ngài ít quan tâm đến các điều mới mẻ; các ngài ngày càng xác tín về sự đúng đắn của những quan niệm và thế giới quan của các ngài.

Quả thật tôi cũng thấy đó là điều tất nhiên, cho đến khi tôi lên hai mươi tuổi. Mùa hè năm đó, tôi đến sống với tác giả nổi tiếng John Marquand, bấy giờ đã 65 tuổi, và ông đã làm tôi thay đổi hoàn toàn cách nghĩ của mình. Tôi nhận ra rằng ông già 65 tuổi này thích thú với mọi sự, kể cả với tôi. Và tôi chưa từng gặp một người nào 65 tuổi trước đó đã từng quan tâm nghiêm túc đến tên oắt con 20 tuổi vô danh tiểu tốt này như thế. Tối nào ông cụ và tôi cũng chuyện trò, tranh luận tới khuya lơ, và rất nhiều lần ông nhìn nhận rằng tôi có lý, rất nhiều lần ông phải thay đổi quan điểm này hay lập trường nọ. Tôi nhận ra rằng người đàn ông này, thay vì già cỗi về tâm thần, lại tỏ ra ngày càng trẻ trung hơn, ngày càng cởi mở, mềm dẻo hơn đa số các thanh thiếu niên.

Chính lúc ấy, lần đầu tiên, tôi hiểu rằng người ta có thể không già đi về tâm thần. Về thể lý, dĩ nhiên chúng ta phải ngày càng già đi. Tất cả chúng ta cuối cùng đều phải già khọm và chết, nhưng về tâm thần thì không thế. Nhiều khi chúng ta chẳng lưu ý đến điều này. Nhưng kỳ thực chính khả năng thay đổi không ngừng này là nét nổi bật nhất của bản tính con người chúng ta.

CÁC CHẶNG ĐƯỜNG TRƯỞNG THÀNH TÂM LINH

Khả năng thay đổi, một khả năng độc đáo của con người chúng ta, được phản ảnh nơi tâm linh con người. Xuyên qua các thời đại, những con người suy tư sâu sắc biết xem xét chính mình đã nhận ra rằng tất cả chúng ta không ở cùng một cấp độ về tâm linh hay tín ngưỡng. Đời sống tâm linh hay tín ngưỡng có những chặng đường khác nhau. Viết về vấn đề này, người nổi danh nhất hiện nay là giáo sư James Fowler ở Trường Thần Học Candler, Đại Học Emory. Ông là tác giả của nhiều sách, trong đó có cuốn Những Chặng Đường Đức Tin (Stages of Faith).

Fowler mô tả sáu chặng đường trưởng thành tâm linh, mà tôi toát lược thành bốn, song những điều cốt yếu vẫn không khác. Tác phẩm của Fowler có tính học thuật hơn những trình bày của tôi nhiều, trong đó đầy những tham chiếu chuyên môn đến các tác phẩm của các lý thuyết gia khác như Piaget. Erikson, Kohlberg… Còn phần mình, tôi nhận hiểu những chặng đường này không phải do đọc từ sách vở nhưng là qua kinh nghiệm, cách riêng, một số trong các kinh nghiệm ấy được tôi gọi là những kinh nghiệm ‘bất ngờ’. Kinh nghiệm đầu tiên trong số đó xảy ra hồi tôi 15 tuổi, khi tôi quyết định ghé thăm một số nhà thờ Kitô giáo ở vùng của mình. Một phần, tôi muốn xem thử Kitô giáo nơi nhà thờ bao gồm những sự gì, nhưng chủ yếu là tôi nhằm muốn ngắm … các cô gái!

Ngôi nhà thờ đầu tiên mà tôi quyết định ghé thăm chỉ cách có vài khối phố. Nhà thờ này có một vị giảng thuyết lừng danh nhất thời ấy. Các bài giảng Chúa Nhật của ông được truyền đi khắp nước qua các làn sóng phát thanh. Ở tuổi 15, tôi chẳng có một chút bận tâm gì khi phát hiện ra ông ta không hay ho như thiên hạ tưởng. Tuy nhiên, tôi cũng tiếp tục chuyến du lãm, đến một nhà thờ khác, cũng có một nhà giảng thuyết tên tuổi – dù có vẻ không danh tiếng bằng vị trên kia. Tên của nhà giảng thuyết thứ hai này là George Buttrick; và ở tuổi 15, tôi cũng hoàn toàn không có chút quan tâm gì khi nhận ra ông là một con người rất thánh thiện, một con người đích thực của Chúa!

Cái đầu óc tội nghiệp của một thiếu niên 15 tuổi như tôi quả quá chật hẹp. Ở đây là nhà giảng đạo Kitô giáo thời danh nhất, và theo sự nhận xét của tôi lúc ấy, tôi đã tiến xa hơn ông trên các chặng đường trưởng thành tâm linh. Nhưng rồi, cũng trong một nhà thờ Kitô giáo, có một vị giảng thuyết khác rõ ràng bỏ xa trước tôi đến nhiều …năm ánh sáng! Điều đó đối với tôi xem chừng chẳng có ý nghĩa gì, và đó là một trong những lý do tôi quay lưng lại với nhà thờ Kitô giáo suốt gần 25 năm sau đó.

Một trong những kinh nghiệm bất ngờ khác đã xảy ra từ từ về sau này trong đời tôi. Sau khi tôi hành nghề trị liệu tâm lý được một số năm, tôi ghi nhận một ‘qui luật’ kỳ lạ: Nếu những con người sùng ngưỡng đến gặp tôi vì họ đang gặp đau khổ và rắc rối, và họ thực sự dấn mình vào cuộc trị liệu, thì rất thường, họ sẽ kết thúc cuộc trị liệu trong tư cách là những người chất vấn, hồ nghi, thậm chí vô thần! Đàng khác, nếu những con người vô thần hay hồ nghi đến gặp tôi trong đau khổ, rắc rối, và nghiêm túc nhận sự trị liệu, thì rất thường, họ kết thúc cuộc trị liệu trở thành những con người sùng ngưỡng sâu sắc và có thiên hướng mãnh liệt về tâm linh.

‘Qui luật’ ấy thật là vô lý! Cùng một nhà trị liệu, cùng một liệu pháp và cùng thành công, nhưng lại có những kết quả cuối cùng trái ngược nhau. Tôi đã không thể hiểu ra, cho đến khi sự việc bắt đầu từ từ sáng tỏ trong tôi rằng: Tất cả chúng ta không đang ở cùng một cấp độ trên các chặng đường tâm linh. Tuy nhiên, chúng ta phải nhìn những chặng đường ấy một cách cẩn trọng và một cách linh động, vì đôi khi Thiên Chúa có những cách thức độc đáo của Ngài để can dự vào các phạm trù của tôi, và không phải bao giờ người ta cũng rơi vào đúng y một chỗ nào đó trong sơ đồ tâm lý và tâm linh như tôi phác họa sau đây.

Đầu tiên, ở cấp độ thấp nhất là Chặng I, mà tôi mệnh danh là chặng “hỗn loạn”. Giai đoạn này có lẽ bao gồm khoảng 20% người ta, trong đó có bao hàm những người mà tôi gọi là ‘những người man trá’. Nói chung, đây là một giai đoạn hoàn toàn thô lậu, và người ta ở giai đoạn này hết sức bừa bãi, vô nguyên tắc. Họ không có cơ chế nào để nắm giữ họ, ngoại trừ ý chí của chính họ. Vì ý chí bất kham có thể nay thế này mai thế khác, nên con người họ rất hỗn loạn. Kết quả là những con người trong chặng này thường xuyên rơi vào tù tội, bệnh viện, hoặc văng ra lang thang trên đường phố. Tuy nhiên, một số trong họ có thể thực có kỷ luật lúc này hay lúc khác, để phục vụ cho tham vọng của họ, và họ có thể tiến lên những chức vụ có uy tín và có quyền lực đáng kể. Họ thậm chí có thể trở thành tổng thống hay những nhà truyền đạo nổi tiếng.

Những người ở Chặng I có thể đôi khi đụng phải những sự lộn xộn do chính họ gây ra. Và khi họ gặp như vậy, đó có lẽ là kinh nghiệm đau đớn nhất mà một con người có thể có. Nói chung, họ nhắm mắt để quên; nhưng nếu kinh nghiệm này vẫn tiếp tục, họ có thể tự tử – và tôi nghĩ rằng một số vụ tự tử không thể giải thích được có thể nằm trong trường hợp này. Hoặc đôi khi họ có thể chuyển sang Chặng II. Những sự chuyển biến như thế thường rất bất ngờ và đầy kịch tính (tôi nói ‘thường’ vì luôn có những ngoại lệ). Dường như chính Thiên Chúa đưa tay ra và nắm lấy linh hồn ấy để lôi nó lên trong một bước đột phá. Một cái gì đó rất kỳ diệu xảy ra với đương sự và thường là một cách vô thức. Nếu điều đó trở thành ý thức, tôi nghĩ dường như đương sự có thể tự nhủ mình như sau: “Tôi sẵn sàng làm bất cứ gì – vâng, bất cứ gì – để giải phóng chính mình ra khỏi mớ hỗn loạn này, ngay cả việc tự đặt mình vào một khuôn khổ.”

Vì thế, tôi gọi Chặng II này là chặng “khuôn khổ” hay “kiểu thức”. Gọi như vậy bởi vì những người trong chặng này phụ thuộc vào một cơ chế để giám quản mình. Đối với một số người, cơ chế ở đây có thể là một nhà tù. Theo kinh nghiệm của tôi, trong những nơi như thế, luôn luôn có một người tù mà – khi có vị bác sĩ tâm thần mới chuyển đến làm việc trong trại tù – sẽ tập trung một nhóm bạn tù lại để cùng nhau tiến hành một buổi trị liệu nhóm. Người ấy sẽ là trợ thủ đắc lực của cai tù; nhưng – một cách nào đó – người ấy có thể không bao giờ gặp rắc rối với các bạn mình. Anh ta là một anh tù mẫu mực và là một công dân mẫu mực. Bởi vì anh ta thích nghi rất tốt với cơ chế, anh ta luôn luôn được ân xá sớm hơn mọi người khác. Thế nhưng, ra tù, anh ta lập tức trở thành một kẻ … ba trợn! Và nội trong một tuần, anh ta bị tóm trở lại, được tống trở vào phía sau các song sắt. Ở đó, một lần nữa, anh ta trở thành một công dân mẫu mực, với những bức tường cơ chế vây quanh anh để qui định con người anh.

Đối với những người khác, cơ chế có thể là quân đội. Đây là một vai trò rất tích cực mà các tổ chức quân đội đảm trách trong các xã hội của chúng ta. Có hàng vạn người rất có thể sẽ sống những cuộc sống hỗn loạn nếu như không có đời sống quân sự làm cơ cấu giám quản họ.

Đối với nhiều người khác, cơ chế cũng có thể là một công ty kinh doanh được tổ chức chặt chẽ. Nhưng đối với phần lớn người ta thì cơ chế ở đây là nhà thờ, là Giáo Hội. Thật vậy, phần đôngnhững người đi nhà thờ là những người của Chặng II này, chặng ‘khuôn khổ’. Mặc dù có những khác biệt giữa họ, nhưng có thể rút ra một số khuynh hướng chung của nhóm người này. Như chúng ta đã đề cập, họ phụ thuộc vào cơ chế Giáo Hội để cai quản họ. Và tôi gọi tình trạng của họ là “kiểu thức”, bởi vì họ rất gắn chặt với những hình thức của tôn giáo.

Những người ở Chặng II sẽ trở nên rất bối rối nếu có ai đó bắt đầu thay đổi các hình thức nghi lễ, thay đổi phụng vụ của họ hoặc giới thiệu những bài thánh ca mới. Chẳng hạn, trong Giáo Hội Giám Chế (Episcopal), vào giữa thập niên 1970, người ta quyết định rằng có thể thay đổi các bản văn phụng vụ một cách linh động qua mỗi Chúa Nhật, thế là nhiều người đã phản kháng dữ dội đến nỗi đã dẫn tới một vụ ly khai hoàn toàn. Một ví dụ khác, vào thập niên 1960, Công Đồng Vatican II của Giáo Hội Công Giáo Rôma đã mở ra những thay đổi căn bản trong Giáo Hội, và 30 năm sau, Giáo chủ Gioan Phaolô II vẫn xem ra đang cố hủy bỏ những thay đổi ấy (15). Và đây không là chuyện riêng của Giáo Hội Episcopal hay Giáo Hội Công Giáo mà thôi. Loại khủng hoảng này thường xuyên diễn ra trong mọi cảnh vực tôn giáo trên thế giới. Và chúng ta không lạ gì khi những người ở Chặng II này trở nên quá bối rối khi các hình thức của tôn giáo họ bị thay đổi, bởi vì chính đấy là những hình thức mà họ lệ thuộc vào để giữ mình khỏi lộn xộn.

Một điểm nữa có tính đặc trưng cho thái độ tôn giáo của người ta trong chặng này, đó là họ có một nhãn quan hoàn toàn ‘ngoại tại’ (external) về Thiên Chúa. Họ không hiểu mấy về một nửa của Thiên Chúa vốn ở ngay bên trong mỗi người chúng ta – điều mà các nhà thần học gọi là ‘nội tại’. Họ dường như thuần túy nghĩ về Thiên Chúa như ở trên đó, ở ngoài kia … Nói chung, họ mường tượng Thiên Chúa theo mẫu nam tính, và trong khi họ tin Ngài là một hữu thể yêu thương, họ cũng đồng thời qui gán cho Ngài một loại quyền trừng phạt nào đó mà Ngài không ngại dùng trong những trường hợp thích đáng. Trong nhãn giới đó, người ta nhìn Thiên Chúa như một ông cảnh sát tốt bụng trên trời. Và về nhiều phương diện, đấy chính là loại thiên chúa mà những người ở Chặng II cần.

Chúng ta thử hình dung hai người trong Chặng II này gặp nhau, cưới nhau và sinh con đẻ cái. Họ nuôi con trong một mái gia đình ổn định, bởi vì sự ổn định là một giá trị lớn của những người trong giai đoạn này. Họ trân trọng phẩm giá và tầm quan trọng của con cái họ, bởi vì Giáo Hội dạy rằng con cái họ rất quan trọng và rằng phẩm giá của chúng phải được tôn trọng. Và trong khi tình yêu của họ có thể có những lúc hơi cứng ngắt, không có tính sáng tạo, thì họ vẫn đầy tình yêu – bởi vì Giáo Hội dạy họ yêu thương và đồng thời dạy họ một số điều về cách bày tỏ tình yêu thương.

Điều gì xảy ra với một đứa con lớn lên trong một mái nhà với tình yêu thương và sự ổn định như thế, được tôn trọng phẩm giá như thế? Đứa con ấy sẽ hấp thụ những nguyên tắc tôn giáo của cha mẹ nó – sẽ là Kitôhữu, là tín đồ Phật giáo, Hồi giáo hay Aán giáo – như nó bú sữa mẹ vậy. Cho đến khi đứa con đến tuổi thanh niên, những nguyên tắc này đã trở thành hầu như được khắc sâu trong tâm hồn nó, được nó ‘nội tâm hóa’ – nói theo ngôn ngữ tâm thần học. Nhưng một khi điều này xảy ra, đương sự đã trở thành một con người có nguyên tắc, biết tự quản, một con người không còn cần phụ thuộc vào một cơ chế để cai quản mình nữa. Chính lúc này, những người con như thế bắt đầu nói lên rằng: “Chúng tôi không cần những thần thoại và những mê tín ngớ ngẩn ấy, chúng tôi không cần đến cái cơ chế cũ rích ấy.” Thế là chúngï bắt đầu rơi ra khỏi Giáo Hội, trở thành những con người nghi ngờ, hay bất khả tri, hay vô thần – và điều này thường làm cho các cha mẹ hoảng sợ phiền muộn một cách không cần thiết. Đây là lúc mà những người con ấy bắt đầu chuyển sang Chặng III, mà tôi gọi là chặng “hồ nghi”.

Một lần nữa, nói chung, những người ở Chặng III tiến xa hơn những người ở Chặng II trong đời sống tâm linh, mặc dù họ không ‘ngoan đạo’ theo nghĩa thông thường của từ ngữ. Họ thường can dự sâu sắc vào xã hội. Họ là loại người có xu hướng đặt nền móng cho những tổ chức như Hiệp Hội Các Y Sĩ Thiện Nguyện hay Phong Trào Bảo Vệ Sinh Thái. Họ là những người cha người mẹ đầy yêu thương và quan tâm. Thường họ là những nhà khoa học, và chắc chắn là họ suy nghĩ rất nặng đầu óc khoa học. Họ tìm kiếm chân lý đến nơi đến chốn. Và nếu họ tìm kiếm tới mức đủ sâu đủ rộng, họ sẽ bắt đầu gặp thấy điều mà họ tìm kiếm. Họ tổng hợp đủ những mảng sự thật để có được những cái nhìn thoáng qua bức tranh lớn và thấy rằng nó không chỉ rất xinh đẹp, mà còn rất giống với nhiều thần thoại cổ sơ và những sự mê tín mà ông bà cha mẹ họ đã tin vào. Và ở đây, họ bắt đầu chuyển sang Chặng IV, chặng “thần bí”.

Tôi dùng từ “thần bí” để mô tả chặng này ngay cả dù đó là từ ngữ rất khó định nghĩa và là từ ngữ vốn được gán cho một liên tưởng không tốt lắm trong nền văn hóa của chúng ta. Các nhà thần bí là những người đã nhận ra một loại nối kết bên dưới bề mặt của các sự vật. Qua các thời đại, các nhà thần bí đã nhìn thấy các mối nối kết giữa đàn ông và phụ nữ, giữa người và vật, giữa người đang đi lại trên mặt đất với những người không đang còn sống trên mặt đất này. Nhìn thấy loại nối kết dưới bề mặt ấy, các nhà thần bí của mọi nền văn hóa và tôn giáo đã nói về mọi sự trong nhãn giới hiệp nhất và cộng đồng. Họ cũng luôn luôn nói về sự nghịch lý.

Thần bí‘ (mystical) có gốc nơi từ ‘huyền nhiệm’ (mystery). Nhà thần bí là người yêu các huyền nhiệm. Họ thích giải mã các huyền nhiệm, nhưng đồng thời họ biết rằng mình càng giải mã, mình càng đối mặt với huyền nhiệm nhiều hơn. Họ rất thung dung sống trong một thế giới huyền nhiệm, trong khi những người ở Chặng II sẽ rất không thoải mái khi sự vật không sáng sủa rõ ràng.

Những nguyên tắc này xác thực không chỉ cho Kitô giáo và không chỉ cho Hoa Kỳ mà còn cho mọi dân tộc, mọi nền văn hóa, mọi tôn giáo. Thật vậy, một trong những đặc điểm của mọi tôn giáo lớn trên thế giới chính là các tôn giáo ấy đều có khả năng để – cùng một trật – nói với những người ở cả Chặng II lẫn Chặng IV, chừng như chính bản thân các giáo huấn của một tôn giáo đều có hai cách diễn dịch khác nhau. Hãy lấy ví dụ từ Do Thái giáo, Thánh Vịnh 111 kết thúc với câu “Kính sợ Chúa là bắt đầu khôn ngoan”. Ở Chặng II, câu ấy được diễn dịch thành: “Khi bạn bắt đầu sợ ‘ông cảnh sát bự ‘ ở trên trời ấy, thì bạn thực sự khôn ngoan.” Điều đó đúng. Ở Chặng IV, câu trên được diễn dịch thành: “Lòng kính sợ Chúa sẽ cho bạn thấy con đường giác ngộ.” Và điều này cũng đúng.

Chúa Giêsu là Đấng Cứu Độ tôi”, đó là một câu nói rất quen thuộc giữa các Kitôhữu. Đối với những người ở Chặng II, câu nói ấy thường được diễn dịch rằng Đức Giêsu là một loại bà tiên nào đó có thể cứu tôi bất cứ khi nào tôi lâm vào rắc rối miễn là tôi nhớ kêu cầu Danh Ngài. Điều đó đúng. Ngài sẽ làm đúng y như vậy. Trong khi đó, ở Chặng IV, qua câu đó người ta hiểu rằng Đức Giêsu – nhờ cái chết và cuộc Phục Sinh của Ngài – đã dạy tôi con đường mà chính tôi phải theo để nhận lãnh ơn cứu độ. Và điều này cũng đúng.

Như tôi đã lưu ý, loại diễn dịch ‘hai mặt’ này không chỉ có trong Kitô giáo và Do Thái giáo, mà còn có mặt trong cả Lão giáo, Phật giáo, Aán giáo … Thực vậy, tôi nghĩ đó là cái làm cho các tôn giáo ấy trở thành những tôn giáo lớn. Các tôn giáo ấy có chỗ cho các tín đồ ở cả hai chặng II và IV.

SỰ PHẢN KHÁNG VÀ ĐỨC TIN

Vấn đề lớn nhất của những chặng này – và lý do lớn nhất cần phải hiểu chúng – đó là có tồn tại một cảm thức đe dọa nơi những người thuộc các mốc điểm khác nhau trên hành trình tâm linh.

Một mức nào đó, tất cả chúng ta đều có thể bị đe dọa bởi những người vẫn còn ở trong chặng mà chúng ta đã đi qua, bởi vì chúng ta vẫn chưa chắc hay chưa an tâm trong căn tính mới của mình. Nhưng cách chung, mối đe dọa ấy bộc lộ ở hướng khác, và chúng ta đặc biệt có khuynh hướng bị đe dọa bởi những người thuộc các chặng ở phía trước mình.

Những người ở Chặng I thường có vẻ như những con mèo lãnh đạm, xem ra không có gì quấy rầy họ lắm. Nhưng nếu bạn có thể xuyên thủng cái vẻ mặt bên ngoài ấy, bạn sẽ thấy rằng họ sợ hãi hầu như mọi sự.

Những người ở Chặng II không bị đe dọa cách riêng bởi những người ở Chặng I: những người tội lỗi! Họ yêu người tội lỗi. Họ nhìn thấy những người tội lỗi là mảnh đất tốt cho mình ‘dụng võ’. Nhưng họ thường bị đe dọa hơn bởi những người “hồ nghi” ở Chặng III, và nhất là bởi những người ở Chặng IV – tức những người dường như tin cùng những điều họ tin, song lại tin với một thứ tự do mà họ thấy là hết sức khủng khiếp.

Những người ở Chặng III, những người “hồ nghi”, không bị đe dọa nhiều lắm bởi những người vô nguyên tắc của Chặng I hay bởi những người thuộc Chặng II – là những người mà họ cho là khù khờ nông cạn. Nhưng họ dễ bị đe dọa bởi những người thuộc Chặng IV – là những người cũng có đầu óc khoa học như họ song đó cũng là những người vẫn tin vào Thiên Chúa một cách lạ lùng. Và nếu bạn đề cập đến hai tiếng “cải hóa” với những người ở Chặng III, họ sẽ cho rằng bạn đang muốn dụ dỗ họ, và họ sẽ trề môi bỏ đi.

Tôi đã dùng từ ‘cải hóa’ khá thoải mái để mô tả sự thay đổi từ chặng này sang chặng khác trong hành trình tâm linh. Tuy nhiên, mỗi trường hợp là một kinh nghiệm khác nhau. Những cuộc ‘cải hóa’ từ Chặng I sang Chặng II thường rất bất ngờ và có nhiều kịch tính. Trong khi đó, những cuộc ‘cải hóa’ từ Chặng II đến Chặng IV thường diễn ra từ từ. Chẳng hạn, bản thân tôi chia sẻ cùng một kinh nghiệm với Paul Vitz, tác giả cuốn Tâm Lý Học và Tôn Giáo; khi được hỏi ông đã trở thành một Kitôhữu khi nào, ông gãi đầu và nói: “Chà, chuyện đó xảy ra vào lúc nào đó giữa năm 1972 và 1976.” Hãy đối chiếu điều đó với những người ở Chặng II khi họ nói: “Đó là lúc 8 giờ tối ngày 17 tháng 8.” Rõ ràng có một sự khác biệt bộc lộ ở đây.

Tôi đã mô tả những người ở Chặng III – những kẻ hồ nghi – như là những người có bước trưởng thành tâm linh cao hơn đại đa số những con chiên siêng năng đi nhà thờ thuộc Chặng II. Những người này cũng đã trải qua một ‘chuyển biến’ để tiến tới tình trạng hồ nghi của họ – cuộc cải hóa này là một cái gì tương ứng với điều mà Thánh Kinh gọi là ‘cắt bì trong tâm hồn’. Họ đang đi trước những người ở Chặng II – tức những người nhận ra Đức Giêsu là Chúa và là Đấng Cứu Độ của mình vào đúng 8 giờ tối ngày 17 tháng 8 song có lẽ chưa trải qua một cải hóa để tiến tới hòa bình và công lý. Cải hóa không phải là một cái gì của một thời điểm mà thôi. Như bất cứ loại phát triển tinh thần nào, nó là một tiến trình liên tục. Tôi vuốt ve hy vọng rằng mình sẽ tiếp tục được cải hóa cho đến ngày mình lìa đời.

VẺ BÊN NGOÀI CÓ THỂ ĐÁNH LỪA

Tôi thấy cần phải đề cập ở đây về cách mà Thiên Chúa có thể can thiệp vào những phạm trù của tôi, và về lý do tại sao chúng ta cần cẩn trọng và linh động khi đưa ra chẩn đoán về mức độ trưởng thành tinh thần nơi người khác – và cả cho chính chúng ta. Có rất nhiều người trông có vẻ như đang ở chặng này, song thực sự họ lại đang ở một chặng khác. Chẳng hạn, có những người đi nhà thờ và trông có vẻ như đang ở Chặng II, nhưng thực sự họ đang bất mãn với tôn giáo của họ, đã trở thành nghi ngờ về tôn giáo ấy và đã bắt đầu suy nghĩ đậm tính khoa học. Tình hình này phổ biến đến nỗi có rất nhiều cộng đoàn đã được lập ra với rất ít sắc thái sùng ngưỡng. Nhiều mục sư của phái Methodist và Trưởng Lão tại những cộng đoàn đô thị giàu có, vào các sáng Chúa Nhật, đã bắt đầu nói với cộng đoàn của mình không phải về Thiên Chúa nhưng là về … tâm lý! Thiên Chúa cấm họ nói về Thiên Chúa. Trong khi đó, có những người nói về Thiên Chúa nhưng lại chẳng có chút thiên hướng tâm linh hay tín ngưỡng. Đó là những người có vẻ đạt tới Chặng IV, mang lốt Chặng IV, giống như một số thủ lãnh các giáo phái, song thật sự họ đang là những tội phạm ở Chặng I!

Cũng vậy, không phải mọi nhà khoa học đều ở Chặng III. Họ là chuyên gia trong lãnh vực chật hẹp của họ, nhưng họ an tâm phớt lơ mọi huyền nhiệm của thế giới. Những nhà khoa học như thế trong thực tế là những người thuộc Chặng II.

Cũng có những người mà các bác sĩ tâm thần gọi là những nhân cách phi giới tuyến. Một trong những đặc điểm của họ là dường như họ có một chân ở Chặng I, một chân ở Chặng II, một tay ở Chặng III và một ngón tay ở Chặng IV! Họ có mặt ở hết mọi chặng. Họ thiếu tính nhất quán, và xét một nghĩa nào đó thì đấy là lý do tại sao chúng ta gọi họ là ‘phi giới tuyến’: Họ không có những đường ranh hay những vành đai rõ ràng.

Thêm nữa, có những người xem ra đã bắt đầu bước vào một chặng cao hơn, song rồi lại tụt lùi. Trong thực tế, chúng ta có một tên để gọi những người thụt lùi từ Chặng II trở lại Chặng I: họ là những ‘kẻ tái phạm’. Dẫn một hình ảnh đặc trưng, đó có thể là một anh chàng lè nhè uống ruợu, đánh bạc, mê gái, và sống một cuộc sống phóng đãng, cho tới một ngày anh ta bất chợt gặp một ‘nhà truyền đạo’ nào đó nói chuyện với anh ta và anh ta được cứu. Trong vài năm tiếp đó, anh ta sống đàng hoàng, điều độ, biết kính sợ Chúa. Và rồi một ngày nọ, anh ta biến mất, và không ai biết anh ta ở đâu. Cho đến sáu tháng sau, người ta lại khám phá ra anh ta trong một đám du côn hay một sòng bạc nào đó. Những người bạn ngoan đạo của anh khuyên giải anh, anh được cứu lần nữa và lại sống rất đàng hoàng trong vài năm … cho đến khi anh tụt lui một lần nữa!

Cũng có những người trồi sụt giữa hai Chặng II và III. Bạn thử hình dung một người siêng năng đi nhà thờ. Anh ta nói: “Dĩ nhiên tôi vẫn tin vào Chúa. Tôi muốn nói đến thiên nhiên tuyệt vời biết bao: Những ngọn đồi xanh ngát một màu, những đám mây trắng bềnh bồng trôi trên kia, và muôn loài hoa khoe sắc … Dĩ nhiên không một con người nào có thể tạo ra được vẻ đẹp như thế, vì vậy phải có một trí khôn thần linh sắp đặt tất cả hàng triệu triệu năm cách đây. Nhưng, tôi cũng cảm thấy rằng vẻ đẹp của sân gôn cũng chẳng khác nào vẻ đẹp trong nhà thờ vào sáng Chủ Nhật. Tôi tin rằng mình hoàn toàn có thể thờ phượng Chúa ở trên sân gôn!”

Như vậy, anh chàng nói trên đã chọn sân gôn ưu tiên hơn nhà thờ. Và mọi thứ đều ổn, cho tới khi công việc làm ăn của anh ta gặp một hoạn nạn, và anh ta nói: “Ồ, lạy Chúa! con đã biếng trễ việc đi nhà thờ. Con đã lơ là việc cầu nguyện.” Thế là anh trở lại nhà thờ và bắt đầu cầu nguyện miệt mài, cho đến khi – vài năm sau – kinh tế của anh lại cất cánh (chắc hẳn nhờ ở đời sống cầu nguyện của anh). Và anh bắt đầu thụt lùi trở về sân gôn của mình ở Chặng III.

Rồi, cũng có những người đong đưa giữa Chặng III và Chặng IV. Tôi có một người bạn như thế tên là Theodore. Vào ban ngày, Theodore có một đầu óc thuần túy khoa học, với khả năng suy lý sắc bén. Nhưng vào buổi tối, khi Theodore uống một hai ly và hút một ‘điếu’, anh ta bất chợt nói về ý nghĩa sự sống, sự chết, vinh quang, … Anh trở thành một con người tâm linh sâu sắc đến nỗi tôi rất có thể ngồi dưới chân anh ta và say sưa lắng nghe. Nhưng sáng hôm sau, anh sẽ đến gặp tôi và nói: “Mình không biết tối qua quỉ thần nào bắt mình nói thế. Mình đã nói toàn chuyện tầm phào. Chắc từ nay mình phải chừa rượu và chừa hút thôi!” Tôi không có ý ủng hộ việc sử dụng ma túy ở đây, nhưng tôi chỉ muốn vạch ra rằng trong trường hợp cụ thể này, ma túy dường như giúp anh ta thư giãn đủ để trôi trên chiều hướng mà anh được gọi – nhưng rồi từ chiều hướng đó, trong ánh sáng lạnh lùng của ban ngày, anh lại sợ hãi tháo lui về tính duy lý quen thuộc của Chặng III.

PHÁT TRIỂN NHÂN BẢN &ø TRƯỞNG THÀNH TÂM LINH

Khi chúng ta chưa bám rễ chặt vào một chặng thì chúng ta hoàn toàn có thể tụt lùi về chặng trước; trong khi đó, chúng ta không thể ‘nhảy cóc’ để bỏ qua bất cứ chặng nào phía trước mình và tiến lên chặng cao hơn trong hành trình phát triển tâm linh – cũng như nói chung người ta không thể bỏ qua bất cứ chặng nào để tiến lên chặng cao hơn trong cuộc phát triển tự nhiên của tâm lý con người. Thật vậy, hai mô hình phát triển này theo cùng một bậc thang tiến bộ như nhau. Chẳng hạn, trẻ em cho đến tuổi lên 5 là những điển hình rất rõ của Chặng I. Chúng chưa nội tâm hóa sự khác biệt giữa đúng và sai, chúng sẽ nói dối, gian lận, ăn cắp, … Đành rằng nhiều đứa trong chúng lớn lên thành những người lớn dối trá, lừa đảo, trộm cướp, song có một thực tế khó hiểu là tại sao rất nhiều đứa trong chúng lớn lên lại có thể trở thành những người lương thiện, đứng đắn, đàng hoàng.

Từ khoảng 5 đến 12 tuổi, trẻ em có khuynh hướng đặc trưng cho Chặng II. Chúng có thể nghịch ngợm, láu lỉnh, nhưng chúng không phản loạn quá quắt. Một cách căn bản, chúng nghĩ rằng cách mà cha mẹ chúng nghĩ về mọi sự là cách đúng đắn. Chúng là những kẻ bắt chước rất giỏi. Nhưng với tuổi thanh niên, tất cả hỏa ngục đều vỡ tung. Mọi điều cha mẹ nói – trước đây vốn được xem như lời của Chúa – thì bây giờ bị các cô cậu thẳng tay bác bỏ. Đây là chặng chất vấn và hồ nghi. Và Chặng IV chỉ có thể bắt đầu khi đương sự vượt qua được tình trạng này của tuổi thanh niên.

Để tiến lên trong lộ trình này, không một chặng nào có thể bị bỏ qua. Nhưng sự chuyển biến từ chặng này qua chặng khác có thể khá nhanh đối với một số người và khá chậm đối với một số người khác. Chẳng hạn, tôi có một người bạn lớn lên trong một gia đình Công Giáo Ai-len thuộc Chặng II. Khi anh 15 tuổi, vừa khi anh bước vào giai đoạn phản loạn của tuổi thanh niên, công ty của bố anh chuyển gia đình anh tới Amsterdam. Ở đó, bạn tôi được gửi vào một trường Dòng Tên của Hà Lan. Các tu sĩ Dòng Tên Hà Lan là những người rất thâm trầm sâu sắc. Anh bạn tôi rơi vào tay của các tu sĩ Dòng Tên rất sâu sắc và phóng khoáng này. Sự nghi ngờ nơi anh được khuyến khích. Anh được dẫn dắt bước đi trong sự nghi ngờ của anh. Khi anh từ Amsterdam trở về, năm 19 tuổi, anh đã bắt đầu bước vào Chặng IV rồi.

Trái lại, có người có thể mắc kẹt lâu dài trong một chặng nào đó. Cách đây nhiều năm, khi tôi là một nhà tư vấn cho một tu viện, tôi đã phỏng vấn các thỉnh sinh của tu viện ấy trước khi họ được mặc tu phục để trở thành tập sinh – tức bắt đầu chính thức trở thành tu sĩ của tu viện ấy. Tôi đặc biệt nhớ một trong các thỉnh sinh ấy. Đó là một phụ nữ ở tuổi trên 40. Tôi được yêu cầu phỏng vấn chị vì người giám tập quan tâm đặc biệt về chị. Chị đã tỏ ra là một thỉnh sinh lý tưởng, nhưng các thỉnh sinh và tập sinh khác … không thích chị lắm!

Nói chuyện với người phụ nữ này, tôi bỗng có cảm tưởng như trước mặt mình không phải là một phụ nữ 45 tuổi. Dáng vẻ và cung cách của chị xem ra giống với một … bé gái 8 tuổi hơn. Khi tôi hỏi về đời sống tâm linh của chị, những gì chị trả lời chẳng nghe có vẻ độc đáo và cá vị chút nào. Tôi cảm thấy như mình đang nghe một bé gái ngoan ngoãn đọc lại bài giáo lý mà bé đã học thuộc lòng trong sách. Dĩ nhiên, là một bác sĩ tâm thần, tôi không thể không liên tưởng đến thuở ấu thời của con người này. “Hãy kể cho tôi sơ lược về thời thơ ấu của chị!” – Tôi nói.

Và chị kể: “Ồ, tôi có một thời thơ ấu rất là tuyệt vời và hạnh phúc.” Câu trả lời ấy tự nhiên làm cho tôi nghi ngờ ngay lập tức, bởi vì chẳng có ai có một thời thơ ấu tuyệt vời, hạnh phúc cả! Vì thế, tôi nói: “Nào, chị hãy nói về những điều tuyệt vời trong tuổi thơ của chị.” Người phụ nữ bắt đầu kể rằng chị có một người chị gái, lớn hơn chị một tuổi, hai chị em chơi thân với nhau và ít khi không có mặt bên nhau. Cô chị đã phát minh ra một con ma tên là Oogle, và có lần hai chị em đang tắm chung trong bồn tắm, cô chị thét lên: “Kìa, Oogle hiện ra kìa!” Thế là cô em ngụp đầu xuống nước để trốn Oogle, sau đó bị mẹ đánh đòn. Tôi hỏi tại sao bị mẹ đánh đòn, chị nói: “Vì tôi làm ướt mái tóc của mình.”

Rồi tôi được biết rằng mẹ của chị mắc chứng xơ cứng màng tế bào khi chị 12 tuổi, và đã chết khi chị 18 tuổi. Làm thế nào bạn có thể có một tính cách phản kháng của tuổi thanh niên đối với mẹ mình, là người mẹ không chỉ đánh đòn bạn vì bạn làm ướt tóc mà còn bị bệnh nguy tử vào thời gian bạn bắt đầu bước vào tuổi thanh niên, và rồi người mẹ ấy chết trước khi bạn đủ lớn để phân định sự việc? Nếu bạn không thể có một tính cách phản kháng của tuổi thanh niên, thì dường như bạn sẽ dính chặt vào Chặng II. Và đó là điều đã xảy ra cho người phụ nữ này.

HÃY KIỂM TRA HẦM TỐI CỦA BẠN

Có một điều quan trọng khác nữa về các chặng trưởng thành tâm linh – đó là dù chúng ta phát triển xa đến mức nào đi nữa, tất cả chúng ta đều vẫn lưu giữ những vết tích của các chặng trước, cũng như chúng ta lưu giữ cuống ruột thừa trong bụng mình vậy. Có một phần Chặng I giấu ẩn trong hầm tối của nhân cách tôi – Scott Peck, tên tội phạm! – mặc dù tôi không có ý muốn cho hắn chường mặt ra. Thật vậy, chính vì tôi nhận ra sự hiện hữu của hắn mà tôi có thể bổ sung một cục than cho phòng riêng của hắn đều đặn mỗi tuần hay dăm sáu ngày. Dù sao, đó là một buồng riêng rất dễ chịu. Nó được trải thảm kín sàn nhà, có một tivi màu. Đôi khi vào buổi tối, tôi có thể đi xuống hầm tối đó và nói chuyện với hắn.

Cũng vậy, có một phần Chặng II trong nhân cách của tôi – anh chàng Scott Peck có những lúc căng thẳng cũng muốn có một người anh hay người cha vĩ đại để cho mình những lời khuyên dạy rõ ràng, cụ thể trước những khó khăn và các tình thế nan giải của cuộc sống, người anh hay người cha đó sẽ nhận lãnh trách nhiệm của mình bằng cách cung cấp cho mình những công thức tiền chế, bảo mình phải làm gì, làm gì.

Và cũng vậy, có một Scott Peck của Chặng III, anh chàng Scott Peck này có những lúc căng thẳng có xu hướng thoái lui và bị cám dỗ dựa vào phương diện khoa học của mình để chống lại phương diện tâm linh nơi mình. Tôi vốn thường nói với người ta rằng nếu tôi được mời nói chuyện với Hiệp Hội Các Bác Sĩ Tâm Thần Mỹ – một cơ hội vô cùng khó xảy ra! – có lẽ tôi sẽ nói về những nghiên cứu thuần túy khoa học và sẽ không nói bất cứ gì về chủ đề tinh thần vốn không thể đo lường được này. Nhưng sự thực là tôi đã được mời nói chuyện với Hiệp Hội Các Bác Sĩ Tâm Thần Mỹ, và nói chung tôi đã ném được anh chàng Scott Peck Chặng III vào đúng cái hầm tối cùng với tên Scott Peck của Chặng I.

Bạn đừng quên: Tất cả chúng ta, dù phát triển xa đến đâu đi nữa, cũng đều lưu giữ trong chúng ta những vết tích của các chặng trước trong hành trình tâm linh của mình. Vì thế, nếu lúc này bạn đang cảm thấy mình “ngon lành” vì xác tín rằng mình đang bước đi an toàn trên con đường đúng đắn ở Chặng IV, thì bạn hãy kiểm tra cái hầm tối của bạn. Bằng trái lại, nếu bạn đang thấy mình tự tôn hoặc tự ti, thì sẽ hữu ích việc bạn nhận hiểu rằng tất cả chúng ta đều mang trong mình những dấu vết – những thoáng tiềm năng – của những chặng cao hơn phía trước. Như Oscar Wilde có lần nói: “Thánh nhân nào cũng có một quá khứ, và tội nhân nào cũng có một tương lai.”

Có một lý do khác nữa cho sự khiêm tốn nào đó trong vấn đề này. Lần đầu tiên tôi nói chuyện về những chặng này là tại một cuộc hội thảo với Paul Vitz, người mà tôi đã đề cập đến như một trong những người có thẩm quyền tại đất nước này về sự hòa hợp giữa tâm lý học và tôn giáo. Sau khi tôi phát biểu, Paul nói: “Tôi rất thích thú khi nghe Bác Sĩ Peck trình bày về các chặng đường tâm linh. Tôi nghĩ rằng chính tôi sẽ vận dụng các chặng ấy vào việc thực hành trị liệu tâm lý. Nhưng tôi muốn tất cả quí vị ghi nhớ rằng cái mà Scotty gọi là Chặng IV đó chỉ mới là bước khởi đầu mà thôi.”

M. Scott Peck

Lm. Lê Công Đức chuyển ngữ

————————

(14) Tác giả muốn nói rằng làm những điều không tự nhiên cũng là một phần thuộc bản tính con người.

(15) Nhận định này của tác giả có thể gây “sốc” cho nhiều bạn đọc, nhất là ở Việt Nam; nhưng dù sao, qua đó chúng ta cũng có một hình dung rõ hơn về tính “rộng đường dư luận ở Âu Mỹ. Theo chúng tôi, với Tông thư Tiến Tới Thiên Niên Kỷ Thứ Ba và nhiều văn kiện khác gần đây của Đức Gioan Phaolô II, ngài đã chứng tỏ là một trong những người ủng hộ Công đồng Vatican II mạnh mẽ nhất.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s