Bước tiếp (2): Phiền trách và tha thứ

VRNs (19.03.2015) – Sài Gòn – Một phần quan trọng của tiến trình lớn lên là học biết tha thứ. Chúng ta đi qua cuộc đời với những phiền trách kẻ khác về các nỗi đau của mình. Và phiền trách luôn luôn phát xuất từ giận dữ.

Giận dữ là một trạng thái tâm cảm rất mạnh mẽ bắt nguồn trong bộ não. Trong bộ não con người có những cụm tế bào thần kinh gọi là các trung tâm thần kinh. Và trong vùng não mà chúng ta gọi là thần kinh trung ương, các trung tâm này phụ trách việc điều hành và sản xuất ra các trạng thái tâm cảm. Thực ra các bác sĩ giải phẫu thần kinh đã định vị được những trung tâm này. Đặt một người nằm trên bàn giải phẫu và gây mê cục bộ cho người ấy, đưa các điện cực – bằng những mũi kim rất nhỏ – vào trong não, rồi kích một dòng điện 1 milivolt vào đầu kim.

Lấy ví dụ, chúng ta có một trung tâm ngây ngất – và nếu các bác sĩ giải phẫu thần kinh cắm một mũi kim vào đó và kích một dòng điện 1 milivolt vào đầu kim, bệnh nhân nằm trên bàn sẽ nói: “Ối dào! Tuyệt quá. Các anh bác sĩ ở đây thật tuyệt vời. Bệnh viện này là số dách. Nữa đi! Thưa bác sĩ.” Cảm giác ngây ngất này rất mãnh liệt, và sở dĩ một số ma túy như heroin rất dễ gây nghiện bởi vì chúng có một tác dụng kích thích đối với trung tâm ngây ngất của chúng ta.

Người ta đã thực hiện một số các nghiên cứu trên chuột. Các bác sĩ giải phẫu thần kinh đưa một điện cực vào trung tâm ngây ngất của con chuột và cho phép nó tự kích động bằng cách nhấn lên một đòn bẩy có đặc tính nối và ngắt dòng điện. Kết quả là con chuột sẽ mải mê nhấn lên cái đòn bẩy kia đến nỗi không còn thiết gì đến chuyện ăn uống, và cuối cùng chết vì đói. Con chuột hưởng thụ niềm khoái cảm cho đến chết!

150314009

Không xa trung tâm ngây ngất có một trung tâm phụ trách một trạng thái tâm cảm hoàn toàn khác – đó là trung tâm trầm cảm. Nếu các bác sĩ giải phẫu thần kinh đưa một điện cực vào trung tâm này và kích vào đó một dòng điện 1 milivolt, bệnh nhân nằm trên bàn sẽ kêu lên: “Chúa ơi, buồn thảm quá. Mọi sự khủng khiếp và tồi tệ quá. Xin dừng lại, xin làm ơn dừng lại!” Tương tự, có một trung tâm giận dữ, và nếu bạn muốn kích động trung tâm này thì tốt hơn bạn nên … trói chặt bệnh nhân lại trên bàn trước đã!

Những trung tâm này đã được tạo nên trong não bộ con người qua hàng triệu năm tiến hóa. Và chúng ở đó để phục vụ cho một mục đích. Chẳng hạn, nếu bằng cách nào đó bạn cắt bỏ trung tâm giận dữ trong não của một đứa trẻ, nó sẽ không thể giận dữ được nữa, bạn sẽ có một đứa trẻ rất thụ động. Nhưng bạn biết điều gì sẽ xảy ra cho một đứa trẻ thụ động như thế khi nó ở nhà trẻ hay vào lớp một hoặc lớp hai không? Nó sẽ bị giẫm bẹp, thậm chí nó có thể chết ngoẻo! Sự giận dữ phục vụ cho một mục đích; chúng ta cần nó để có thể sống còn. Tự thân, sự giận dữ không có gì xấu.

Trung tâm giận dữ nơi con người làm việc y hệt như cách nó làm việc nơi mọi sinh vật khác. Nó chủ yếu là một cơ cấu có tính khu vực, nó báo động khi bất cứ một sinh vật nào khác bén mảng đến khu vực của nó. Chúng ta không khác gì một con chó vùng lên chiến đấu với một con chó khác lân la vào trong lãnh giới của mình. Chỉ có điều vì chúng ta là những con người nên các định nghĩa của chúng ta về lãnh giới phức tạp hơn rất nhiều. Không chỉ vì chúng ta có một lãnh giới địa lý và chúng ta nổi giận khi có ai đó không mời mà đến vùng đất của mình và bắt đầu bẻ cành ngắt hoa của chúng ta; nhưng chúng ta còn có một lãnh giới tâm lý nữa, và chúng ta nổi giận bất cứ khi nào có người phê phán mình. Về thần học và về ý thức hệ, chúng ta cũng có một lãnh giới, và chúng ta thường nổi giận khi có ai đó phê phán niềm tin hay phỉ báng các quan niệm của chúng ta.

Vì lãnh giới của con người quá phức tạp nên trung tâm giận dữ của chúng ta thường xuyên báo động và phản ứng. Những báo động và phản ứng này rất thường không thích đáng. Nhiều khi chúng ta ‘sửng cồ’ cả với những người mà chính chúng ta mời bước vào trong lãnh giới của mình!

Cách đây chừng hai mươi năm, khi tôi bắt đầu một cuộc phân tâm, tôi vốn dành rất nhiều quan tâm đến mối tương quan giữa tâm lý và tâm linh, và vì biết rằng Carl Jung đã nhấn mạnh đến mối tương quan này nên tôi cố tìm cho ra một nhà trị liệu thuộc trường phái Jung. Nhưng thật công dã tràng! Anh ta làm việc với tôi như thể một nhà trị liệu thuộc trường phái Freud chính cống. Có điều, về sau tôi mới nhận ra rằng phương pháp trị liệu của anh ta lại đúng là phương pháp mình cần.

Sau khi chào hỏi và giới thiệu ban đầu, trong suốt bảy buổi gặp trị liệu đầu tiên nhà trị liệu này không nói với tôi một lời nào. Anh ta gợi cho một mình tôi nói huyên thiên hết chuyện này đến chuyện khác, và tôi bắt đầu ngày càng bực bội anh ta hơn. Cần nhắc đến ở đây là tôi phải chi trả cho anh ta 25 đô la/ một giờ, một món tiền không nhỏ theo thời giá lúc đó – thế mà xem chừng anh ta chẳng làm hay nói gì để đáng nhận món tiền thù lao kia. Cuối cùng, vào buổi gặp thứ chín, khi tôi đang trình bày cảm nghĩ của mình đối với một vấn đề cụ thể thì anh ta lên tiếng. Anh ta nói: “Ồ, tôi thấy cách suy nghĩ của bạn trong vấn đề này hơi kỳ cục.” Tôi độp lại anh ta: “Gì hử? Tôi nghĩ vậy mà kỳ cục hả?” Lần đầu tiên anh ta thách đố lãnh giới tâm lý của tôi, và tôi đã ‘sửng cồ’ với anh ta, dù tôi chi trả cho anh ta là để anh ta làm công việc đó, việc mà tôi mời anh ta làm.

Đừng quên, chúng ta là những con người, trung tâm giận dữ của chúng ta hầu như bị kích động thường xuyên, và thường một cách không thích đáng. Vì thế chúng ta phải học nhiều cách khác nhau để xử lý cơn giận dữ của mình. Đôi khi chúng ta phải suy nghĩ, như tôi đã làm trong câu chuyện giữa tôi và nhà trị liệu của mình: “Cơn giận của mình thật ngớ ngẩn và ấu trĩ. Đó là lỗi của mình.“ Hay đôi khi chúng ta phải kết luận: “Anh chàng này đã xâm phạm đến lãnh giới của mình. Nhưng đó chỉ là vô tình. Mình không có lý do gì để nổi nóng lên về điều đó.” Hoặc: “Chà, hắn ta có vẻ hơi xâm nhập vào lãnh giới của mình. Nhưng thật ra không đáng kể và không đáng để làm ầm lên.”

Đàng khác, cũng có trường hợp sau khi đã suy nghĩ kỹ, chúng ta có thể thấy rõ rằng có kẻ đã xúc phạm nghiêm trọng đến lãnh giới của chúng ta. Bấy giờ, có thể cần phải đến gặp người đó và nói: “Này, giữa tôi và anh có vấn đề cần phải làm rõ đây.” Và đôi khi thậm chí chúng ta cần phải nổi giận và trấn áp người đó ngay lập tức.

Như vậy, có ít nhất là năm cách để phản ứng khi trung tâm giận dữ của chúng ta cựa quậy. Chúng ta không những cần biết các cách phản ứng khác nhau ấy mà còn cần phải biết cách nào là thích đáng trong một trường hợp cụ thể. Đây là một công việc vô cùng phức tạp – và không lạ gì khi có rất ít người biết cách xử lý tốt cơn giận của họ trước khi họ bước vào tuổi 30 hay 40. Cũng có những người cả đời không bao giờ biết cách xử lý cơn giận của mình.

PHIỀN TRÁCH VÀ XÉT ĐOÁN

Khi chúng ta nổi giận và phiền trách một ai đó đã làm chúng ta giận, chúng ta cũng đồng thời đang đưa ra một phán xét về người ấy – chúng ta cho rằng cách này hay cách khác người ấy đã xúc phạm đến chúng ta.

Hồi tôi 16 tuổi, tôi thắng trong cuộc thi đầu tiên và duy nhất của tôi về môn thuyết trình – chủ đề là: “Đừng xét đoán, để bạn khỏi bị xét đoán”. Đăm đăm bám sát vào lời Chúa Giêsu, tôi trình bày rằng chúng ta không nên xét đoán người khác, và tôi đã đoạt giải thưởng là một hộp banh tennis.

Bây giờ thì tôi không còn tin rằng người ta có thể đi qua cuộc đời mà không hề xét đoán gì về người khác. Chúng ta phải xét đoán về người mà chúng ta lấy làm chồng hay làm vợ mình. Chúng ta phải xét đoán lúc nào là lúc thích hợp để can thiệp vào đời sống của con cái chúng ta và lúc nào là lúc không thích hợp. Chúng ta phải xét đoán về người mà chúng ta tuyển dụng hay sa thải. Thật vậy, chất lượng của cuộc đời chúng ta được xác định chính xác bởi chất lượng khả năng phán đoán nơi chúng ta.

Bạn đừng tưởng rằng ở đây tôi đang mâu thuẫn với Đức Giêsu. Trước hết, lời của Đức Giêsu thường bị diễn dịch sai lạc. Đức Giêsu nói: “Đừng xét đoán, và bạn sẽ không bị xét đoán”. Nhưng mỗi khi bạn xét đoán, thì bạn hãy sẵn sàng để xét đoán chính bản thân mình. Và thứ hai, Ngài lập tức nói tiếp: “Hỡi kẻ giả hình, hãy lấy cái xà ra khỏi mắt ngươi đã, rồi ngươi sẽ thấy rõ cái rác trong mắt người anh em ngươi.” Nói cách khác, Đức Giêsu nói rằng bạn phải xét đoán chính bản thân mình trước khi xét đoán bất cứ ai khác.

Cũng vậy, khi gặp một đám đông cuồng nộ sắp sửa ném đá một người phụ nữ ngoại tình, Đức Giêsu nói: “Ai vô tội thì hãy ném viên đá đầu tiên đi.” Vì tất cả chúng ta đều là những tội nhân, phải chăng điều đó có nghĩa rằng chúng ta không nên ném đá bất cứ ai? Phải chăng chúng ta không nên phiền trách hay xét đoán bất cứ ai? Quả thực, không có ai ném viên đá nào vào người phụ nữ ấy. Và Đức Giêsu nói với chị: “Không ai xử tội chị sao? Tôi cũng không xử tội chị.” Lần nữa, ở đây Đức Giêsu bảo chúng ta xét đoán chính mình trước khi xét đoán người khác.

Nhưng, cho dẫu tất cả chúng ta đều là những tội nhân, có những lúc chúng ta cũng cần phải ném một viên đá. Chẳng hạn, đó là trường hợp bạn nói với một công nhân của mình: “Đây là năm thứ tư liên tiếp anh không hoàn thành chỉ tiêu; và đây là lần thứ sáu tôi bắt gặp anh nói dối. Tôi e rằng tôi phải sa thải anh.”

Sa thải một người, đó quả là một quyết định vô cùng đau đớn và khốc liệt. Làm sao bạn biết bạn đang đưa ra một xét đoán vừa đúng vừa hợp thời? Làm sao bạn biết bạn đang đúng khi phiền trách người ấy? Bạn không thể nào chắc chắn được. Nhưng bạn phải luôn luôn nhìn lại chính mình trước đã. Ngay cả khi bạn nhận thấy rằng mình không còn sự chọn lựa nào khác ngoài việc sa thải người ấy, bạn vẫn có thể nhận thấy có nhiều điều mình đáng lẽ đã làm nhưng thực tế mình đã không làm; và nếu mình đã làm thì giờ đây chắc hẳn mình không phải đưa ra quyết định này.

Bạn cần đặt ra cho mình những câu hỏi như: “Tôi có đã quan tâm đến con người này và các vấn đề của anh ta không? Tôi có đã vạch rõ cho anh ta thấy khi tôi phát hiện anh ta nói dối lần đầu tiên không? Hay là việc nói thẳng với anh ta thật khó đối với tôi và tôi đã nhắm mắt cho qua cho đến khi tình hình không thể chịu đựng được nữa?” Nếu bạn thành thực trả lời những câu hỏi như thế, bạn có thể thấy rằng bạn sẽ đối xử với các công nhân khác một cách khác hẳn, và có lẽ bạn khỏi phải lại đưa ra một xét đoán như thế trong tương lai.

CÁI KHỔ CỦA TÌNH TRẠNG KHÔNG HIỂU BIẾT

Nhưng làm thế nào chúng ta biết chính xác lúc nào là lúc phù hợp để đưa ra một sự phiền trách hay xét đoán thay vì là tự phê phán chính mình? Khi lần đầu tiên nói trước công chúng, tôi không biết việc diễn thuyết ấy của mình có phải là việc thích đáng hay không. Phải chăng thực sự Thiên Chúa muốn tôi làm điều đó? Hay đó chỉ là do tính háo danh của tôi, do tôi ham thích sự tán thưởng của đám đông? Tôi phân vân không xác định được và tôi đã khổ sở tìm kiếm câu trả lời. Cuối cùng, tôi có được sự giúp đỡ – và điều này khích lệ tôi rằng mọi sự xảy ra trong cuộc sống đều nhằm giúp phát triển tinh thần của chúng ta, và rằng chúng ta rất cần nhau trong phương diện này. Tôi đã chia sẻ nỗi khổ sở của mình với người bảo trợ cho cuộc diễn thuyết thứ hai của tôi. Và khoảng một tháng sau đó, chị ấy gửi cho tôi một bài thơ do chính chị sáng tác. Khi viết bài thơ, chị không liên tưởng gì đến tôi, nhưng những giòng cuối cùng của bài thơ ấy quả đúng là cái tôi cần nghe vào thời điểm bấy giờ:

The Truth is that I want it

and the price I must pay

is to ask the question again and again and again.

Đọc bài thơ, tôi chợt nhận ra rằng mình đã mải kiếm tìm một sự mạc khải, một công thức định sẵn nào đó từ Thiên Chúa, kiểu như: “Ừ, Scotty, ngươi cứ việc bước lên diễn đàn”, hay: “Ồ đừng, đừng phát biểu dù chỉ một lời!” Nhưng không hề có một công thức định sẵn nào. Không hề có một câu trả lời dễ dãi nào, và tôi biết rằng điều mà tôi sẽ phải làm mỗi khi tôi được mời diễn thuyết – mỗi khi tôi thảo luận lại lịch thuyết trình hằng năm của mình – đó là lại tiếp tục tự đặt ra cho mình câu hỏi kia: “Kìa, lạy Chúa, có phải Chúa muốn con làm việc này không?” Khi đối diện với một vấn đề khó khăn, bất cứ ai trong chúng ta cũng có thể tự đặt ra cho mình câu hỏi ấy – và uống lấy nỗi khổ do câu hỏi ấy. Chẳng hạn, bạn là cha hay mẹ của một đứa con gái muời sáu tuổi đang xin phép bạn cho nó đi chơi một buổi tối cuối tuần đến 2 giờ sáng. Bạn sẽ làm gì? Có ba cách mà các bậc cha mẹ có thể chọn. Một là trả lời: “Không. Dứt khoát không được, con ạ. Con có nhớ là con không được đi chơi quá 10 giờ tối không?” Hay cách khác, bạn nói: “Ồ, được chứ, con gái yêu. Con cứ đi tùy thích!” Hai cách phản ứng trên có thể được gọi là hữu khuynh và tả khuynh. Chúng rành rành đối lập nhau, nhưng chúng vẫn có một điểm chung. Chúng là những câu trả lời theo khuôn rập sẵn. Hai cách phản ứng ấy không đòi cha mẹ phải tốn công sức chút nào cả!

Theo quan điểm của tôi, điều mà các bậc cha mẹ nên làm là tự hỏi chính mình: “Tối nay mình có nên cho con gái mình đi chơi đến hai giờ sáng không nhỉ?” Và họ có lẽ sẽ trả lời: “Thật khó xử. Quả là thường tình nó không đi đâu quá 10 giờ tối, nhưng mình ấn định giới hạn đó khi nó mười bốn tuổi. Bây giờ thì một giới hạn như thế không còn cần thiết nữa. Đàng khác, tại bữa liên hoan tối nay của con bé chắc chắn sẽ có rượu, và như vậy là hơi rắc rối đây. Nhưng mà, con bé được điểm tốt ở trường, nó làm bài tập ở nhà rất đàng hoàng. Rõ ràng nó có tinh thần trách nhiệm. Có lẽ mình nên tin tưởng vào ý thức trách nhiệm của con gái mình. Mà này, tay bạn trai mà con gái mình sắp gặp tại buổi liên hoan trông có vẻ như một tay ba trợn. Mình nên hay không nên cho phép đây nhỉ? Nên nhượng bộ để cho phép nó đi chơi? Đó có phải là một nhượng bộ đúng không? Thật là khó xử! Nên cho nó đi chơi tới nửa đêm? Hay tới mười một giờ? Hay một giờ sáng? Quả là khó quyết định!”

Rốt cục, các bậc cha mẹ như thế đi đến quyết định nào, cái đó không quan trọng lắm. Bởi vì ngay cả dù con gái họ không vui vẻ lắm với quyết định cuối cùng của họ, nó cũng biết rằng nó được cha mẹ trân trọng quan tâm, vấn đề của nó đã được cha mẹ cân nhắc kỹ lưỡng. Và nó biết rằng nó được yêu thương, nó có đủ giá trị để cho cha mẹ nó phải chịu khổ sở trong thế lưỡng nan bất quyết của họ.

Chính vì thế, khi người ta hỏi tôi: “Thưa Bác sĩ Peck, xin vui lòng cho tôi một qui tắc để tôi biết khi nào là đúng lúc để phiền trách và khi nào là không đúng lúc”, tôi trả lời: “Tôi không thể đưa ra cho bạn một công thức tiền chế nào như thế.” Mỗi trường hợp mỗi khác, mỗi trường hợp đều cá biệt. Vì thế, trong mỗi trường hợp như vậy, nếu bạn muốn kiếm tìm sự thật, bạn phải tự đặt cho mình câu hỏi trên kia, và rồi bạn sẽ có cơ may đi đến quyết định chính xác, nhưng bạn cũng phải chịu đựng nỗi đau của tình trạng không biết chắc hành động của mình là đúng hay sai.

CHÂN LÝ VÀ Ý CHÍ

Tôi vừa mới đề cập đến cả chân lý lẫn Thiên Chúa. Sự gần gũi ở đây không phải là một cái gì ngẫu nhiên, bởi vì khi chúng ta nói về chân lý, chúng ta đang nói về một cái gì đó cao hơn chính mình. Chúng ta đang nói về việc tìm kiếm và qui phục một “Sức Mạnh Siêu Vượt”.

Để bạn khỏi bị cám dỗ gạt bỏ điều đó như gạt bỏ một ý niệm sơ khai về tôn giáo, tôi muốn chỉ ra rằng khoa học là thái độ qui phục chân lý. Phương pháp khoa học không phải gì khác hơn là một loạt những qui ước và thủ tục mà chúng ta đã phát triển qua hàng bao thế kỷ trong mối quan tâm tìm kiếm sự thật, để chống lại xu hướng muốn tự đánh lừa chính mình nơi con người chúng ta. Và vì thế, khoa học qui phục một trọng tài cao hơn, một sức mạnh cao hơn, tức chân lý.

Mahatma Gandhi nói: “Sự thật là Thiên Chúa và Thiên Chúa là sự thật”. Tôi tin rằng Thiên Chúa là ánh sáng và tình yêu, nhưng chắc chắn Thiên Chúa cũng là chân lý nữa. Như vậy, tôi cho rằng cuộc săn đuổi kiến thức khoa học – dù nó không giải đáp được hết mọi câu hỏi – nó vẫn là một thái độ đầy sùng ngưỡng, đầy ‘ngoan đạo’, nó qui phục một sức mạnh cao hơn.

Khi người ta có một ý chí mạnh mẽ nhưng lại thiếu sự qui phục một sức mạnh cao hơn, đó là nguyên nhân lớn nhất dẫn người ta tới những phiền trách không thích đáng. Ý chí mạnh mẽ, tôi cho đó là một tài sản tốt nhất mà một con người có thể chiếm hữu – không phải vì nó bảo đảm cho thành công, nhưng bởi vì một ý chí yếu ớt thì xem ra luôn gắn liền với thất bại. Những người có ý chí mạnh mẽ là những người tiến triển tốt trong cuộc trị liệu tâm lý. Họ là những người tha thiết lớn lên. Và vì thế, ý chí mạnh mẽ là một tài sản vĩ đại và một hồng ân lớn lao. Nhưng hồng ân nào cũng tiềm tàng nơi chính nó lời nguyền rủa. Cái gì cũng có hiệu ứng phụ. Và hiệu ứng phụ tồi tệ nhất của một ý chí mạnh mẽ là một tính khí dễ phẫn nộ.

Tôi thường giải thích điều này cho các thân chủ của tôi bằng cách bảo họ rằng việc bạn có một ý chí bạc nhược cũng giống như bạn có một con lừa bé nhỏ trong vườn sau nhà bạn. Nó không thể gây sự cố gì đáng kể cho bạn – cùng lắm nó chỉ kê mõm gặm mấy khóm hoa tu-líp của bạn. Nhưng, nó cũng chẳng giúp ích gì mấy cho bạn. Còn nếu bạn có một ý chí mạnh, thì đấy tương tự như bạn có một bầy ngựa chiến sau nhà. Những con ngựa chiến rất cao lớn và mạnh mẽ. Nếu chúng không được huấn luyện tốt, không được uốn nắn tốt và không được thắng dây cương, chúng sẽ lồng lộn lên húc đổ sập nhà bạn như chơi. Ngược lại, nếu chúng được huấn luyện tốt, được uốn nắn tốt và được thắng dây cương, chúng sẽ giúp đưa bạn lên tới tận các đỉnh núi cao chót vót.

Nhưng lấy gì để đóng dây cương cho ý chí? Bạn không thể đóng dây cương cho ý chí mình bằng … chính ý chí mình – vì nếu vậy, kể như là nó chưa được đóng dây cương gì cả! Ý chí của bạn phải được khống chế bởi một sức mạnh cao hơn chính bạn.

Sự khác biệt giữa một ý chí được khống chế và một ý chí không được khống chế đã được Gerald May minh họa rất hay trong quyển Ý Chí và Tinh Thần (Will and Spirit) của ông. Chương đầu tiên của quyển sách có tựa đề là Sốt Sắng và Ngang Ngạnh (Willingness and Willfulness). Ngang ngạnh tượng trưng cho ý chí không được khống chế của con người; còn sốt sắng chính là ý chí mạnh mẽ của một con người sẵn sàng đi đến nơi mà mình được gọi hay dẫn tới bởi một sức mạnh cao hơn.

Sự phân biệt ấy cũng được mô tả một cách đầy chất thơ trong vở kịch rất ấn tượng mang tênEquus (4). Vở kịch nói về một cậu bé làm đui mắt sáu con ngựa, và vị bác sĩ tâm thần chữa trị cho cậu là Martin Dysart, người đang trải qua một cơn khủng hoảng tinh thần của lứa tuổi trung niên. Ở hồi cuối của vở kịch, để giải thích bằng cách nào ông đã vượt qua được cơn khủng hoảng ấy của mình, Dysart nói:

Tôi không dám đi quá xa để gọi đó là một sự kiện được thánh hiến bởi Thiên Chúa. Tuy nhiên, tôi phải cung kính cúi đầu trước sự kiện ấy. Giờ đây và mãi mãi tôi vẫn còn sững sờ kinh ngạc…”

TRÒ PHIỀN TRÁCH

Không phải ngẫu nhiên mà những người vướng vào các tội ác ghê gớm nhất thế giới này là những người không nhận ra một sức mạnh nào cao hơn chính họ. Người ác là người có ý chí rất mạnh. Và đồng thời bởi vì họ là những kẻ tự yêu (narcissistic), những kẻ vị kỷ tột bực, nên họ là những người dễ dính vào những phiền trách không thích đáng và đầy tai hại. Họ không thể “lấy cái xà ra khỏi mắt mình”.

Đối với phần đông trong chúng ta, nếu có chứng cứ chung quanh cho thấy tội lỗi và sự trục trặc của chúng ta và nếu chứng cứ ấy dồn chúng ta vào chân tường, chúng ta thường nhận ra rằng có gì đó đang bất ổn nơi mình và mình cần tự điều chỉnh. Còn những người không nhận ra và không chấp nhận tự điều chỉnh như vậy, tôi gọi họ là “những con người dối trá” (5) – bởi vì một trong những đặc điểm nổi bật của họ là khả năng dối gạt chính mình – cũng như dối gạt kẻ khác. Họ khư khư phớt lờ các tội lỗi và sai trái của họ. Cho dù có chứng cứ gì đi nữa vạch rõ những trục trặc của họ, họ vẫn cố sao để luôn luôn cảm thấy thoải mái bằng mọi giá. Thay vì dùng các chứng cứ ấy để thực hiện một cuộc thay đổi chính mình, họ lại dốc hết sức để lấp liếm hay bác bỏ các chứng cứ ấy. Họ sẽ dùng mọi khả năng trong tầm tay họ để áp đặt ý chí của họ lên người khác, nhằm bảo vệ bản ngã bệnh hoạn của chính họ. Và thế là họ vướng vào hết điều dữ này đến tội ác khác – do sự lấp liếm hay sự phiền trách không thích đáng ấy.

Thật cần thiết phải ghi nhận rằng sự phiền trách có đem lại thích thú. Cơn giận đem lại thích thú. Oán ghét đem lại thích thú. Và cũng giống như mọi hành động đem lại khoan khoái cho người ta, sự phiền trách trở thành một thói quen. Bạn sẽ nghiện nó. Khi đọc một vài bản văn về quỉ ám, tôi đã nhận ra điều nói trên có tính xảo quyệt biết bao. Chẳng hạn, người ta mô tả về một kẻ được coi là bị quỉ ám đang ngồi trong xó nhà, gập lưng xuống gặm nhấm mắt cá chân mình. Điều này nhắc tôi nhớ lại một bức họa thời Trung Cổ mô tả hỏa ngục, trong đó bạn có thể trông thấy một hình ảnh tương tự: một kẻ bị nguyền rủa đang gặm nhấm mắt cá chân của hắn! Thật là một điều kỳ dị và khó chịu. Tôi chẳng quan tâm gì đến điều ấy cho đến khi tôi đọc một quyển sách nhỏ của Frederick Buechner mang tựa đề Wishful Thinking: A Theological ABC (Mơ Tưởng: Điển Ngữ Thần Học). Ngay ở đầu quyển sách, dưới mục ‘A’, Buechner ghi “Anger” (sự giận dữ) và so sánh nó với việc gặm nhấm một khúc xương. Đã gặm xương thì gặm hoài cũng không hết, vì bao giờ cũng còn một chút gân, một chút tủy còn dính đâu đó để cho bạn gặm. Chỉ có điều là – như Buechner nói – khúc xương mà bạn đang gặm nhấm đó chính là bạn!

Sự phiền trách người khác trở thành một thói quen. Và bạn sẽ lại gặm nhấm khúc xương ấy, hết lần này đến lần khác, khi bạn dằn vặt về sự kiện ai đó đã xử tệ với mình. Chính vì vậy mà có lẽ Trò Phiền Trách là trò phổ biến nhất trong mọi trò chơi tâm lý. Thuật ngữ “trò chơi tâm lý” được phát minh bởi cố bác sĩ tâm thần danh tiếng Eric Berne trong quyển Những Trò Chơi Của Con Người (Games People Play) của ông. Berne không nói về những trò đùa có tính giỡn chơi, mặc dù có thể có một số loại suy, vì các trò chơi tâm lý chắc chắn cũng đem lại thích thú một cách nào đó. Đúng hơn, Berne định nghĩa một trò chơi tâm lý là một “tương tác lặp đi lặp lại” giữa hai người hay hai nhóm người, và cả hai bên đều “nín thinh không nói ra ý đồ của mình”. Khi nói “một tương tác lặp đi lặp lại”, ông nhằm nói đến một cái gì đó không chỉ có tính thói quen mà còn chán phè, ươn thối nữa, như một vòng bánh xe cứ quay hoài một cách đơn điệu và buồn tẻ. Khi nói “nín thinh không nói ra”, ông có ý chỉ một cái gì đó ngầm ẩn, ám tàng, thậm chí một cái gì đó rất lý thú của các trò chơi tâm lý.

Trò Phiền Trách cũng có thể được gọi là trò “Đấy Chỉ Bởi Vì Anh Ta…” Phần đông trong chúng ta đều chơi trò này. Và đây là dạng thông thường nhất của mọi trò chơi trong hôn nhân. Chẳng hạn, Mary nói: “À, tôi biết mình hay đay nghiến. Nhưng bởi vì John cứ lầm lì, nên tôi phải đay nghiến để hiểu được anh ấy. Nếu John không lầm lì thì tôi đâu có đay nghiến.” Còn John thì nói: “À, tôi biết mình lầm lì. Nhưng đấy chỉ bởi vì Mary hay đay nghiến. Tôi phải lầm lì để tự bảo vệ mình khỏi sự đay nghiến của Mary. Nếu Mary không đay nghiến thì tôi sẽ chẳng lầm lì.”

Thế là có một vòng rượt đuổi vòng vo khó mà chặn đứng lại. Và để giải thích bằng cách nào dừng một trò chơi tâm lý, Berne nhắc đến hai sự thật – đây cũng là hai sự thật duy nhất mà tôi thấy là không nghịch lý. Ông nói rằng “Cách duy nhất để ngừng một trò chơi là … ngừng nó lại.” Nghe thật đơn giản, nhưng thực tế thì cực kỳ khó khăn. Làm sao để ngừng được đây?

Nó cũng giống như bạn đang ngồi trên chiếu bạc, đánh sát phạt tay đôi với một con bạc khác. Bạn thầm nghĩ trong lòng: “Chà, đây là một trò điên khùng. Mình đã chơi suốt bốn tiếng đồng hồ rồi đấy. Lẽ ra mình đã có thể làm bao nhiêu chuyện cần làm khác.” Nghĩ thì nghĩ vậy, nhưng rồi bạn vẫn … đặt tiền ra và chia những lá bài!

Dù bạn áy náy bao nhiêu đi nữa, bao lâu bạn vẫn còn đặt tiền và chia bài, thì bấy lâu canh bạc vẫn tiếp tục. Canh bạc sẽ tiếp tục mãi mãi cho đến khi một trong hai người đứng dậy và nói: “Tôi không chơi nữa!”

Người kia có thể kèo nài: “Nhưng Joe, cậu vừa thắng mà. Chơi vài ván nữa đi!”

“Không. Tôi không chơi nữa.”

“Nhưng Joe, vài ván nữa thôi mà!”

“Ông không nghe tôi nói gì à? Tôi không chơi nữa.”

Cách duy nhất để ngừng một trò chơi là … ngừng chơi. Thế thôi.

Để ngừng trò phiền trách, chúng ta cần biết thứ tha. Ý nghĩa đích thực của thứ tha là như thế. Thứ tha là ngừng lại, là chấm dứt trò phiền trách.

Và dĩ nhiên, điều này không dễ dàng.

THỰC TẠI SỰ DỮ

Ngày nay rất nhiều người cuốn vào trào lưu tôn giáo Thời Đại Mới (New Age). Và cách này hay cách khác, họ bị lôi cuốn vào niềm tin rằng tha thứ là điều rất dễ dàng. Sự tha thứ chỉ dễ dàng khi người ta xác tín rằng thực sự không có tồn tại cái gọi là sự dữ. Mà điều đó thì hoàn toàn sai lầm.

Xác tín sai lạc ấy có thể dẫn người ta tới một số cái bẫy. Một ví dụ của những cái bẫy này có thể được nhận ra trong quyển Yêu Là Xua Tan Nỗi Sợ (Love is Letting Go of Fear), một quyển sách rất nổi tiếng của phong trào Thời Đại Mới, do bác sĩ tâm thần Gerald Jampolsky viết. Quyển sách nói về sự tha thứ, một đề tài hết sức quan trọng; nhưng tôi có cảm tưởng rằng Jampolsky đã làm cho vấn đề trở thành đơn giản quá. Ông nói rằng thay vì xét đoán người khác, chúng ta nên tìm cách nhận ra điều tốt đẹp nơi họ, chúng ta nên tìm kiếm Thiên Chúa trong họ và chấp nhận họ.

Tôi luôn luôn nghi ngờ những kết luận quá dễ dãi kiểu đó, vì chúng có chiều hướng đơn giản hóa mọi sự và đưa người ta vào chỗ rắc rối. Tôi nhớ lại lời của một đạo sư Hồi giáo ngày xưa: “Khi tôi bảo anh khóc, tôi không có ý muốn anh ở đâu và lúc nào cũng khóc. Khi tôi bảo anh đừng khóc, tôi không có ý muốn anh trở thành một tên hề cười toe toét mãi.” Nhưng thật rất tiếc, nhiều người trong phong trào Thời Đại Mới dường như tin rằng “chấp nhận có nghĩa là luôn luôn chấp nhận”. Tôi đồng ý rằng trong 90% các trường hợp, thì chấp nhận người khác là điều đáng khuyến khích, nhưng trong 10% các trường hợp khác – khi bạn đứng trước một con người như Hitler – thì chấp nhận sẽ trở thành điều tệ hại nhất mà bạn có thể làm.

Đừng nhập nhằng lẫn lộn ở đây. Tha thứ và chấp nhận là hai điều hoàn toàn khác nhau. Chấp nhận chỉ là một cách để tránh nhìn vào sự dữ. Chẳng hạn, bạn nói: “À vâng, bố dượng tôi quấy nhiễu tình dục tôi khi tôi còn nhỏ, nhưng đó chỉ là khuyết điểm thường tình của con người, chỉ vì chính ông ta đã trải qua một tuổi thơ bị tổn thương.” Đàng khác, sự tha thứ đòi hỏi người ta nhìn thẳng vào sự dữ. Chẳng hạn, bạn nói với bố dượng: “Điều ông đã làm là không đúng, dù ông bào chữa bằng lý lẽ gì đi nữa. Ông đã xúc phạm đến tôi. Tôi biết rõ điều đó. Nhưng tôi vẫn tha thứ cho ông.”

Nói gì thì nói, đó là điều thật không dễ. Sự tha thứ đích thực là một tiến trình rất gay go, gai góc; nhưng đó là một tiến trình vô cùng cần thiết nếu bạn muốn bảo đảm sự lành mạnh tâm thần của mình.

THA THỨ KIỂU RẺ TIỀN

Nhiều người bị phiền toái bởi vấn đề mà tôi gọi là “sự tha thứ rẻ tiền”. Họ đến gặp nhà trị liệu buổi đầu tiên và nói: “À, tôi biết rằng tôi đã không có một thời thơ ấu tốt đẹp gì, nhưng cha mẹ tôi đã làm tất cả những gì tốt đẹp mà các ngài có thể làm cho tôi. Và tôi không phiền trách gì họ.” Tuy nhiên, khi nhà trị liệu nắm hiểu được thân chủ mình, ông ta nhận thấy rằng thân chủ chẳng tha thứ cho cha mẹ chút nào cả. Thân chủ chỉ lầm tưởng rằng mình đã tha thứ cho cha mẹ mà thôi.

Với những người như thế, bước đầu tiên của tiến trình trị liệu là khảo sát cha mẹ của thân chủ. Điều này bao hàm nhiều công việc. Nó đòi phải có những bản cáo trạng, những luận chứng bào chữa, những kháng cáo và những phản kháng cáo … cho đến khi có được một phán xét chung kết. Tiến trình ấy đòi phải làm việc nhiều, nên đa số người ta chọn sự tha thứ rẻ tiền. Nhưng, bao lâu chưa có một bản án – chẳng hạn: “Không, cha mẹ tôi đã không làm điều tốt nhất mà họ có thể làm cho tôi. Họ lẽ ra đã làm điều tốt hơn. Họ có lỗi với tôi” – thì bấy lâu vẫn chưa có sự tha thứ đích thực.

Bạn không thể tha thứ cho một người nào đó về một tội mà người ấy đã không phạm. Vậy, để có một sự tha thứ, cần phải có một bản cáo trạng trước đã.

SỰ PHIỀN TRÁCH VÀ CHỨNG KHOÁI KHỔ

Nhiều người đến với trị liệu tâm lý do mắc chứng khoái khổ(masochism). Nói “khoái khổ”, tôi không có ý nói rằng họ đạt được khoái lạc tình dục của họ qua sự đau đớn thể lý, nhưng tôi chỉ có ý nói rằng, bằng một cách kỳ dị, họ liên tục hủy hoại chính mình. Một ví dụ điển hình là câu chuyện một người đàn ông nọ rất thông minh và có nhiều tài năng, tiến thân nhanh chóng trong lãnh vực của mình, nhưng rồi ở tuổi hai mươi sáu, khi anh ta sắp sửa trở thành phó chủ tịch trẻ nhất của công ty, anh đã làm một chuyện gì đó hết sức điên khùng, và bị sa thải. Vì anh quá thông minh, ngay lập tức anh được một công ty khác tuyển dụng. Anh lại tiến lên nhanh, và rồi ở tuổi hai mươi tám, khi sắp sửa được thăng cấp, anh lại ‘quậy’, và bị đuổi. Sự việc tương tự lại diễn ra lần thứ ba, và anh bắt đầu nhận ra rằng mình đang theo một con đường tự hủy diệt mình, một con đường in đậm dấu vết của chứng khoái khổ.

Một ví dụ khác liên quan đến một phụ nữ xinh đẹp, thông minh, duyên dáng và có tài năng. Cô bắt bồ và hẹn hò với hết chàng này đến chàng khác, chẳng bền được với ai! Và sự việc cứ thế lặp đi lặp lại …

Những người liên tục bộc lộ tính cách tự hủy diệt như vậy thường cũng là nạn nhân của sự tha thứ rẻ tiền. Họ nói với bạn: “Ồ, tôi đã không có một thời thơ ấu tốt đẹp nhất đâu, nhưng cha mẹ tôi đã làm hết mọi điều tốt trong khả năng họ cho tôi.”

Để giải thích tại sao sự tha thứ rẻ tiền sẽ không đem lại kết quả gì hay ho, và tại sao cần phải tránh những cái bẫy tự hủy diệt như nói trên mới có được sự tha thứ đích thực, tôi xin đề cập một chút về cái nằm ẩn bên trong chứng khoái khổ này. Tôi cho rằng cách tốt nhất để giải thích là cứ xem xét các động lực tâm lý nơi trẻ em – vì những gì được xem là tâm bệnh, là suy nhược tâm thần nơi người lớn đều thường là chuyện rất bình thường nơi trẻ em. Hãy hình dung cậu bé Johnny đang lân la trong phòng khách, tay cầm viên phấn, chuẩn bị chơi trò viết nguệch ngoạc lên bàn ghế. Bà mẹ cậu bé la:

“Không được, Johnny! Con không được làm thế.”

Johnny phụng phịu: “Được mà, con viết được mà!”

Mẹ nó dứt khoát:

“Không. Con không được phép viết bậy lên bàn.”

Thế là Johnny giãy đành đạch, chạy lên cầu thang, vô phòng ngủ, đóng rầm cửa lại và bắt đầu khóc nức nở. Năm phút sau, cậu bé nín khóc, nhưng vẫn ở lì trong phòng. Rồi nửa giờ sau, mẹ nó nghĩ rằng mình nên làm một cái gì đó để dỗ thằng nhóc. Johnny khoái nhất món kem sô-cô-la; vì thế, bà làm một ly kem sô-cô-la, mang lên cầu thang. Bà nhìn thấy Johnny vẫn còn đang sụt sịt trong góc phòng.

“Này, Johnny. Má làm kem sô-cô-la cho con đây.”

Bà đưa ly kem cho Johnny, nhưng nó lắc đầu, thét ré lên và hất đổ ly kem khỏi tay mẹ nó.

Đó là chứng khoái khổ. Johnny được cho cái mà nó yêu quí nhất, nhưng nó lại quăng phứt đi. Vì sao? Rõ ràng bởi vì vào thời điểm nhất định ấy, Johnny đang quá bận tâm đến việc oán ghét mẹ hơn là việc yêu thích món kem sô-cô-la. Khoái khổ là thế. Nó luôn luôn là chứng kích khổ (sadism) trá hình, lòng căm thù trá hình, cơn giận dữ trá hình.

Những người tự hủy diệt này là những người đang chơi Trò Phiền Trách. Trong vô thức, họ đang nói: “Hãy xem cha mẹ tôi xử tệ với tôi biết bao!” – (thực vậy, những đối tượng thường được nhắm tới nhất là các cha mẹ).

SỰ CẦN THIẾT PHẢI THA THỨ

Một bệnh nhân của tôi, bị cha mẹ “bỏ vào hỏa ngục” hồi còn bé và đang cố gắng vượt qua các hệ lụy của tuổi thơ tệ hại ấy, đã phân bua với tôi: “Bác sĩ biết đó, tôi sẽ tha thứ cho cha mẹ tôi nếu tôi có thể đến gặp họ, vạch cho họ thấy những thương tổn mà họ đã gây ra cho tôi – và họ sẽ xin lỗi tôi. Ngay cả dù cha mẹ tôi không lên tiếng xin lỗi đi nữa, chỉ cần họ lắng nghe tôi thôi, thì tôi cũng có thể mãn nguyện và tha thứ cho họ. Nhưng thưa bác sĩ, việc gặp và phân giải mọi sự với cha mẹ tôi thật khó vô cùng. Cha mẹ tôi sẽ phớt lơ, sẽ trách rằng tôi khơi lại chuyện cũ, sẽ từ chối cả việc nhớ lại những gì họ đã làm. Thế đó, tôi là người đã hứng chịu mọi nỗi đau. Họ đã gây mọi nỗi đau cho tôi. Họ không đau chút nào. Vậy mà tôi phải tha thứ cho họ sao?”

“Đúng vậy!” – Tôi trả lời thân chủ.

Bởi vì nếu không tha thứ thì không thể có được sự chữa lành. Phải tha thứ, dù gay go đến mấy đi nữa. Tôi phải giải thích cho những bệnh nhân như thế rằng họ sẽ vẫn còn nặng nề khúc mắc trong lòng cho đến khi họ tha thứ cho cha mẹ họ – dù cha mẹ họ có xin lỗi hay ngay cả có lắng nghe họ hay không.

Có một số trường hợp có tính đặc trưng mà tôi thường gặp thấy nơi các thân chủ của mình. Đây là những thân chủ đề kháng lại sự cần thiết của việc thứ tha đích thực. Một thân chủ hỏi tôi: “Tại sao chúng ta cứ phải nói chuyện về những điều tệ hại ấy, những điều xấu mà cha mẹ tôi đã làm. Tôi thấy như vậy thật không công bằng với cha mẹ tôi. Bác sĩ biết đó, cha mẹ tôi cũng đã làm biết bao điều tốt nữa chứ!”

Và tôi đáp: “Hẳn nhiên là ông bà thân sinh bạn đã làm một số điều tốt. Chẳng hạn, ngay trong sự kiện rằng bạn đang còn sống! Vì bạn không thể còn sống nếu như cha mẹ bạn đã không tốt một mức nào đó. Nhưng sở dĩ chúng ta phải tập chú đến những chuyện tệ hại là vì qui luật Sutton.”

Thân chủ nhìn tôi, ngạc nhiên: “Qui luật Sutton! Đó là gì nhỉ?”

Tôi trả lời: “Vâng, đó là một qui luật được gọi tên theo Willie Sutton, một tay cướp nhà băng nổi tiếng. Khi một phóng viên hỏi Sutton tại sao anh ta cướp nhà băng, anh ta trả lời rằng vì ở đó có tiền!”

Các bác sĩ tâm thần tập trung chú ý đến những chuyện tệ hại bởi vì chiếc chìa khóa khai thông nằm ở chỗ đó, bởi vì các vết thương và các vết thẹo nằm ở đó và bởi vì đó là vùng cần được chữa lành.

Có những bệnh nhân lần đầu tiên đến với tâm lý trị liệu còn “đơn sơ” hơn nữa khi hỏi: “Tại sao chúng ta phải lặn xuống quá khứ và vét lên tất cả những điều tệ hại đã bị chôn vùi ấy? Tại sao chúng ta không quên phứt nó đi cho rảnh?”

Đây là câu trả lời: Chúng ta không thể quên bất cứ gì. Chúng ta không thể thực sự quên. Chúng ta chỉ có thể tha thứ – cho dù để tránh công việc tha thứ quá gay go, chúng ta thường cố xua đuổi những tổn thương ra khỏi đầu óc mình.

Xuyên qua sự ức chế về mặt tâm lý, chúng ta có thể đẩy một ký ức (về điều gì đó đã xảy ra với mình) ra khỏi ý thức mình. Trong ý thức, chúng ta không nhớ nó, nhưng nó không hề biến mất. Thật vậy, nó trở thành một bóng ma luôn ám ảnh chúng ta và làm cho tình hình càng tệ hại hơn so với khi chúng ta nhớ nó.

Chẳng hạn, có những phụ nữ từng bị quấy rối tình dục thường xuyên hết tuần này đến tuần khác trong hai, ba năm ròng rã bởi cha ruột hay bố dượng mình, song trong thực tế các phụ nữ này vẫn có thể quên chuyện đó, thậm chí họ không nhớ rằng đã từng xảy ra chuyện đó – vì họ đã ức chế nó. Nhưng cuối cùng, những phụ nữ này phải nhận sự trị liệu tâm lý, thường bởi vì các mối quan hệ mà họ cố gắng xây dựng với những người đàn ông trong đời họ cứ đổ vỡ mãi. Thì ra, kinh nghiệm ban đầu ấy, mà họ không thể nhớ, vẫn tiếp tục ám ảnh họ.

Vì thế, tôi nói với các thân chủ tôi rằng chúng ta không thể quên bất cứ điều gì. Điều tốt nhất mà chúng ta có thể làm là đương đầu với vấn đề của mình, trong mức độ mà mình có thể nhớ về nó mà không đớn đau. Do đó, bước đầu tiên trong giao ước trị liệu là nhớ lại những vụ phạm tội mà mình là nạn nhân. Bước thứ hai là giận dữ. Sự giận dữ tất nhiên phải đến thôi, cũng như vụ án phải được xử và tội phạm phải được gọi đích danh. Nhưng điều này cũng phải có một hạn mức nào đó, vì bạn càng nằm lâu tại cơn giận này của mình thì bạn sẽ càng tiếp tục làm tổn thương chính mình mà thôi.

Có thể nói rằng tiến trình tha thứ là một tiến trình có tính vị kỷ. Thật vậy, chúng ta tha thứ cho người khác chủ yếu là vì mình chứ không phải chủ yếu là vì họ. Có thể họ không hề biết rằng họ cần được tha thứ. Có thể họ không nhớ gì về các điều tệ hại họ đã làm. Có thể họ nói tỉnh queo: “Ối dào! Bạn chỉ vẽ chuyện.” Và cũng rất có thể họ đã xuống mồ từ đời nào. Lý do để chúng ta tha thứ là vì chính chúng ta, vì sự lành mạnh của chúng ta. Bởi vì, nếu chúng ta không tha thứ, nghĩa là cố chấp và khư khư níu bám lấy sự giận dữ , thì chúng ta sẽ ngừng lớn lên và tâm hồn chúng ta sẽ bắt đầu héo rũ.

Scott Peck

Lm. Lê Công Đc chuyn ng

 

———–

(4) Từ La ngữ, có nghĩa “Con ngựa”.

(5) “People of the Lie”, đây cũng là tựa đề của một tác phẩm của cùng tác giả.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s