Vụ Videla: Cuộc luận chiến nhanh chóng bị xóa bỏ

VRNs (18.03.2015) – Sài Gòn – Cách đây gần hai năm, khi ĐTC Phanxicô vừa được chọn làm Giáo hoàng, những người chống Giáo hội đã nêu ra trường hợp hai linh mục Dòng Tên dấn thân chống lại chính quyền độc tài, rồi sau đó bị bắt. Lúc ấy, ĐTC đang là Cha Giám tỉnh Dòng Tên tại Achentina. Những người này đã cáo buộc ĐTC Phanxicô đã im lặng trước bất công và không tìm cách bảo vệ an hem mình.

Để giúp độc giả có thêm thông tin, VRNs xin giới thiệu đến quý vị mộtbài bình luận được đăng trên tạp chí Les Graudes Affaires de l’Histoire, Numero special 10. Trang 29-32.

150317001

Giáo Hội Achentina hẳn phải chịu trách nhiệm về những mối tương giao của mình với chính quyền phát xít Jorge Videla và về những kẻ kế tiếp họ. Trong thời kỳ đảo chính, Giáo Hoàng đương nhiệm từng là người đứng đầu Dòng Tên tại Achentina. Liệu ngài có dính dáng gì đến những hoạt động độc ác của cuộc đảo chính quân sự như một số người đã cáo buộc không? Bóng tối của lịch sử kể từ đó dường như đang lan tỏa.

Từ giữa năm 1976 và 1983, Achentina trải qua một giai đoạn đen tối dưới dấu hiệu của một nền độc tài với 4 cuộc đảo chính liên tiếp. Những việc vi phạm nhân quyền một cách hệ thống, những vụ bắt cóc, tra tấn và thủ tiêu những kẻ đối lập công khai hay còn nghi ngờ: con số những nạn nhân lên tới 30.000 người. Kể từ năm 1985, Videla và Massera bị kết án vì những tội ác chống lại nhân loại. Nhưng mãi đến tận cuối những năm 1990 mới có thể mở ra một loạt những vụ kiện đi tìm nguyên nhân của một số lớn những người gây ra những tội ác của một thời.  Giáo Hội ban đầu từ chối tham gia vào các vụ khiếu kiện, là nguyên nhân gây ra sự bất bình cho “những người Mẹ của quảng trường tháng Năm” và cho những gia đình của các nạn nhân. Nhưng Giáo Hội đã kết thúc bằng việc thú nhận công khai vào năm 2000, tổng giám mục Bergoglio cùng với những vị đồng chức vụ khác của mình đã xin lỗi những người Achentina về thái độ của những người của Giáo Hội trong thời kỳ độc tài. Thực tế, trong bản lý lịch của vị giáo hoàng tương lai, El Jesuita (2010), Sergio Rubin nhận định rằng Giáo Hội đã không biết phản kháng lại cuộc đảo chính như một bộ phận tốt lành của xã hội Achentina. Sự việc trở nên phức tạp vào hôm trước ngày bầu giáo hoàng vào năm 2005, khi mà Hồng Y Bergoglio thuộc số những người có thể được bầu. Horacio Verbitsky, một cựu thành viên của Montoneros (nhóm vũ trang chống lại chế độ độc tài Videla) đã in trong một tờ báo ủng hộ chính phủ Pagina 12 một tài liệu trong đó ông tố cáo Đức Cha Bergoglio không những đã góp phần vào việc bắt cóc hai tu sĩ Dòng Tên vào năm 1976, mà còn hợp tác với chế độ. Những cáo buộc này lại nổi lên trong cuộc bầu giáo hoàng năm 2013, nhưng chúng sớm bị Phòng Thông Tin của Vatican (VIS) bác bỏ.

KHÔNG CÓ LỬA LÀM SAO CÓ KHÓI?

Đâu là tình trạng của cha Bergoglio trong thời kỳ liên quan? Vào năm 1974, khi ngài vừa tròn 36 tuổi, ngài được đặt làm Bề trên Giám tỉnh Dòng Tên Achentina. Nhiệm vụ của ngài được giao lúc đó không hề dễ dàng, trước tiên vì lý do “phản văn hóa” (contre-culture) và việc gỡ giải những vụ đã khiến cho gần 10.000 tu sĩ Dòng Tên phải rời bỏ Hội Dòng trong những năm 1970. Jorge Mario Bergoglio gắn bó với việc theo sát đường lối hướng dẫn mà vị Bề trên của ngài đã nhắc lại: các tu sĩ Dòng Tên phải “đề cao sự công bằng và phẩm giá con người” và phải đi sát cho phù hợp với những người nghèo nhất bằng sự nâng đỡ vật chất và tinh thần của họ. Chính vì thế, sự lên ngôi của chế độ độc tài năm 1979 không phải là sự bắt đầu khuynh hướng xã hội của Tỉnh Dòng mới, một Tỉnh Dòng khước từ việc lao vào một cuộc chiến chính trị chống lại chính quyền sở tại. Thế mà một số giáo sĩ lại là những người ủng hộ một lối hành động căn bản, đôi khi mang tính bạo lực, nhằm giải phóng người nghèo khỏi những cơ cấu áp bức. Trong số những “nhà thần học giải phóng” này, có những tu sĩ Dòng Tên Orlando Yorio và Francisco Jalics, mà hành động quân sự của họ trong những khu dân nghèo được đánh giá là đã bị chuyển đổi bởi phẩm trật. Vì sợ những sự trả đũa ngược lại của những linh mục đã dấn thân cho việc phục vụ những người nghèo, cha Bergoglio đã đề nghị họ chuyển cộng đoàn và giải tán những nhóm mà các ngài đã gầy dựng. Nhà sử học Matteo Luigi Napoletano, người đã nghiên cứu sát sao tài liệu do Horacio Verbitsky cung cấp trong bài báo nhằm vu khống của mình, đã quả quyết rằng Jorge Mario Bergoglio đã có linh cảm trước những sự kiện phải xảy đến và thực tế, trang đẫm máu của lịch sử đã  nhanh chóng được khép lại.

Ngày 23 tháng 5 năm 1976, Orlando Yorio và Francisco Jalics đã bị bắt cóc và bị tra tấn trong suốt 5 tháng trời ở ngay trong Trường Sĩ Quan Hải Quân (ESMA) bởi các binh lính của Videla, những người này cuối cùng đã kết thúc bằng việc thả họ ra. Chính đây là sự đen tối của những vấn nạn đè nặng trên Tỉnh Dòng ở thời điểm đó: Liệu ngài có dính dáng vào vụ bắt cóc các tu sĩ Dòng Tên mà ngài muốn có khoảng cách với họ? Liệu ngài có tham gia vào việc giải thoát họ? Liệu ngài chỉ có giơ một ngón tay lên thôi?

Từ từ nhiều bằng chứng đã làm sáng tỏ tình trạng, trước tiên là chứng từ của một trong số những nạn nhân, cha Jalics, người đã đánh giá rằng việc bắt họ lúc đó là do các mối tương giao mà họ đã có với những người liên quan đến quân du kích. Nếu như không hoàn toàn chắc chắn về diễn biến của những sự việc, vị tu sĩ Dòng Tên, khi được La Nación phỏng vấn vào tháng 3 năm 2013, đã khẳng định rõ ràng rằng:“Thật là sai lầm khi cho rằng việc (họ) bị giam cầm là do cha Bergoglio gây nên”, ngược lại với những gì mà người ta nghe cha Yorio nói trong những năm 2000. Một bức thư của Jorge Mario Bergoglio gửi năm 1976 cho em trai của Francisco Jalics nhằm khẳng định sự vô hiệu lực của những lời cáo buộc mà ngài là đối tượng. Sau khi gợi lại nhiều hành động đã được thực hiện cho chính phủ, ngài viết: “Trong việc này tôi đã làm phận sự CỦA TÔI, và những sự bất đồng giữa chúng tôi, tức là giữa người anh trai của ông và tôi, về đời sống tu trì chẳng đáng là gì so với việc này ”. Thực tế, Jorge Ithurburu, chủ tịch hội 24 tháng Ba, một hội được lập như một thành phần dân sự trong vụ kiện chống lại quân nhân Achentina, nhận định rằng hoàn toàn có thể Jorge Mario Bergoglio đã cố gắng giải thoát hai tu sĩ Dòng Tên, bởi vì vị kia đã không thể ra khỏi Trường Sĩ Quan Hải Quân mà không có một tác động ở cấp cao. Trong số những hoạt động này, Jorge Mario Bergoglio đã hành động để làm thế nào gặp được Videla, để trao đổi với ông ta vào lúc kết thúc một nghi lễ tôn giáo, điều gây ra những cáo buộc mới, các tín hữu bực bội khi thấy tên bạo chúa rước lễ từ tay của một vị cấp cao của Giáo Hội.

NHỮNG CON NGƯỜI VÀ NHỮNG CƠ CẤU

Giai đoạn đau thương trong hành trình của vị giáo hoàng tương lai chạm tới tương quan phức tạp mà các cá nhân duy trì với cơ cấu của tôn giáo. Jorge Ithurburu phân biệt giữa trách nhiệm của Giáo Hội và trách nhiệm của những người ở trong Giáo Hội, và ông chủ trương rằng không có bằng chứng về trách nhiệm cá nhân của Jorge Mario Bergoglio trong vụ việc mà ngài bị đặt vấn đề. Ngược lại với những gì nữ nhà báo Marie-Monique tìm tòi nghiên cứu và vẫn giữ lập trường, mà theo bà trách nhiệm của Giáo Hội là đã dấn mình một cách nặng nề vào những cuộc vòi tiền của chế độ độc tài, và như thế, trách nhiệm của những tội ác được quy cho những thành viên riêng biệt của cơ cấu tôn giáo. Theo Amnesty quốc tế, giáo quyền Achentina chưa bao giờ làm vì lợi ích của Giáo Hội, năm 2003, việc bắt giữ Christian von Wernich, cha tuyên úy và là người làm việc đắc lực cho cảnh sát Buenos Aires trong những năm đen tối, chứng tỏ rằng công lý đã không ngừng bủa vây những tên tội phạm đích thực.

Chính công lý này đã mãi mãi tuyên bố cha Bergoglio vô tội, người mà, khi chế độ độc tài sụp đổ, tuyên bố là đã bốn lần toan tính giải thoát các tu sĩ Dòng Tên. Nhưng vị trở thành giáo hoàng trong những thập kỷ sau không tự coi là không có sai lầm, và vị Bề trên Giám Tỉnh trẻ tuổi khi đó đã thực thi quyền bính của mình một cách độc đoán, nếu không nói là cứng nhắc, có thể đã vướng vào những ván bài sâu nặng của bi kịch lịch sử mà ngài đã trải qua.

Như thế, cũng như việc những người châu Âu nhìn thẳng vào sự ác của quốc xã, chế độ áp bức của Nga đã là một sự cần thiết thì giáo hoàng Phanxicô cũng nhìn nhận quá khứ của ngài với một độ lùi và một sự khiêm nhường cần thiết. Vậy nên, trong một tập in lại những bài nói chuyện xuất bản năm 2013, “Tôi tin vào con người”, ngài cũng diễn tả: “Những sai lỗi, tôi đã mắc nhiều! Những sai lầm và những tội lỗi!”  Khoảng cách phê phán sẽ cho phép ngài rút ra từ tội lỗi được đảm nhận một nơi để chia sẻ thân tình với tất cả mọi người.

Jos Được dịch

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s