Người Công giáo thế nào với chủ nghĩa cơ yếu Thánh Kinh? (5)

VRNs (15.03.2015) – Sài Gòn – Đối với nhiều người Công Giáo thường hay gặp các biểu hiện của chủ nghĩa cơ yếu Thánh Kinh trong cuộc sống hằng ngày, câu hỏi chính yếu là nên có thái độ như thế nào. Vô số lần tôi đã được hỏi: “Thưa Cha, bạn con nói rằng người Công Giáo là những Kitôhữu không tin vào Thánh Kinh, con phải trả lời thế nào ạ?” Những người khác thì yêu cầu tôi cung cấp những câu Thánh Kinh chuyên biệt để phản bác sự tố cáo của những người theo chủ nghĩa cơ yếu đối với cách thực hành của Công Giáo, chẳng hạn việc gọi các linh mục là “Cha”. Một cách nào đó, họ muốn lấy chính Thánh Kinh làm đạn để phản pháo.

150309004

Một số tác giả đã làm sống lại chiến thuật của khoa minh giáo (Hy ngữ: apologia, “lời nói tự vệ”) trong một cố gắng trả lời sự tố cáo của những người theo chủ nghĩa cơ yếu rằng Công Giáo không có đức tin Kitô giáo đích thực.[1] Minh giáo có nghĩa là bảo vệ đức tin bằng cách đưa ra những giải thích có tính luận lý cho quan điểm của Giáo Hội. Một mức nào đó, minh giáo cần cho những trường hợp như vậy, nhưng tôi sợ rằng nó có thể gây hiệu ứng nghịch. Minh giáo giả định rằng người ta có thể đi vào trong một cuộc đối thoại với đối thủ của mình.

Trong kinh nghiệm của tôi, thường rất khó đối thoại với những người theo chủ nghĩa cơ yếu. Cuộc nói chuyện sẽ thường diễn ra một chiều, có tính độc thoại hơn là đối thoại. Những ai tin rằng mình nắm chân lý tuyệt đối, chân lý không thể thay thế được, thường không thấy ích lợi gì nơi việc đối thoại (điều này đúng cho bất cứ quan điểm nào, không riêng gì chủ nghĩa cơ yếu). Thay vào đó, cuộc nói chuyện thường trở thành một cuộc gân cổ lên để bảo vệ quan điểm riêng của mình, chẳng cần quan tâm đến những gì được người kia nói ra. Đáng ngại hơn nữa, những nhà minh giáo bảo vệ cách giải thích Thánh Kinh của mình có thể vô tình sa vào chính cái bẫy mà đối thủ của mình vướng phải, đó là, sử dụng Sách Thánh cách sai lạc và cậy dựa vào việc chú giải sát mặt chữ các bản văn không kém chi so với người đối thoại với mình. Dù sao, tôi nghĩ rằng cũng có một thái độ đáp trả lành mạnh mà người Công Giáo có thể áp dụng đối với những người theo chủ nghĩa cơ yếu. Tôi sẽ tổng hợp thành những điều PHẢI làm và những điềuĐỪNG làm. Dù hơi phân vân, tôi cũng xin đề ra đây một số lời khuyên có tính minh giáo về những vấn đề quan tâm chuyên biệt của những người theo chủ nghĩa cơ yếu mà người Công Giáo chúng ta thường hay gặp phải.

Những Điều Phải Làm

(1) Phải học hỏi Thánh Kinh. Lý do thứ nhất làm cho người Công Giáo lúng túng bởi các câu hỏi của những người theo chủ nghĩa cơ yếu, đó là vì đa số người Công Giáo vẫn mơ hồ với các nội dung của Thánh Kinh. Người Công Giáo thường bị ‘khớp’ bởi các bạn hay các thân quyến Tin Lành của mình vốn có khả năng trích dẫn Thánh Kinh rõ số chương, số câu hoàn toàn theo trí nhớ. Bất chấp nhiều bước tiến bộ đã được thực hiện kể từ khi Công Đồng Vatican II bế mạc đến nay, nhiều người Công Giáo vẫn chỉ hiểu biết Thánh Kinh cách sơ sài. Thánh Giêrôm có câu nói thời danh: “Không biết Thánh Kinh là không biết Đức Kitô”. Chúng ta gặp gỡ Chúa Phục Sinh qua Thánh Kinh, nhưng tôi e rằng các kết quả của hơn 35 năm đào sâu Thánh Kinh của Công Giáo vẫn chưa phổ biến như mong đợi. Người Công Giáo cần ý thức lại rằng Thánh Kinh là của mình. Khích lệ các nhóm học hỏi Thánh Kinh tại các giáo xứ, mở các khóa học Thánh Kinh cho mọi cấp độ (trẻ em, thiếu niên, người lớn, người cao tuổi), thúc đẩy việc tìm hiểu và cầu nguyện cá nhân với Thánh Kinh, đó phải là mối ưu tiên của chúng ta.

Các giám mục Mỹ, trong bức Thư Mục Vụ ngắn nói về chủ nghĩa cơ yếu vào cuối thập niên 1980, đã thúc bách người Công Giáo học hỏi Thánh Kinh:

Chúng ta cần một khuynh hướng mục vụ về Lời Thiên Chúa trong đó các Sách Thánh được đặt ở trung tâm của đời sống giáo xứ và mỗi cá nhân… Bên cạnh đó, chúng ta – những người Công Giáo – cần tăng cường các nỗ lực để làm cho các Thánh Lễ của giáo xứ trở thành một hành vi phụng tự trong đó mọi người – giáo dân của giáo xứ, khách viếng thăm, người lạ – đều cảm nhận được sự nồng nhiệt ấm cúng và biết rằng ở đây Thánh Kinh được hết lòng sùng mộ và rao giảng.[2]

Mặc dù các giáo xứ Công Giáo đã có những bước tiến bộ trong việc thăng tiến Lời Thiên Chúa, tôi vẫn chưa nhận thấy có một kế hoạch mục vụ thống nhất có đặc điểm nhấn mạnh đến sự hiểu biết căn bản về Thánh Kinh nơi người Công Giáo. Đã có một số chương trình nghiên cứu Thánh Kinh rất hay (Little Rock Scripture Study, Denver Program, vv…) và nhiều sách vở hữu ích cung cấp sự hướng dẫn cho người Công Giáo về Thánh Kinh (x. các tư liệu tham khảo thêm). Việc đào sâu kiến thức Thánh Kinh nên được đặt thành mục tiêu cho các giáo xứ Công Giáo trong thập niên đầu của thiên niên kỷ mới này. Trên bình diện cá nhân, người Công Giáo nên tập thói quen đọc Sách Thánh hằng ngày và sử dụng Thánh Kinh cho những buổi cầu nguyện gia đình. Không có gì có thể thay thế cho sự gần gũi trực tiếp với Thánh Kinh.

(2) Phải luôn luôn đọc Thánh Kinh trong bối cảnh. Khi đọc các bản văn Thánh Kinh, chúng ta phải luôn luôn tự hỏi bản văn này nằm trong bối cảnh nào. Bối cảnh bao gồm nhiều khía cạnh đa dạng. Bối cảnh trực tiếp nhất của một bản văn chính là các chất liệu xung quanh nó – trước nó là gì, sau nó là gì. Bối cảnh cũng còn là những phần lớn hơn của quyển sách (chẳng hạn, các chương của một Sách Thánh) và là chính quyển Sách Thánh ấy trong toàn bộ Thánh Kinh. Các bản văn của Matthêu được hiểu tốt nhất trong bối cảnh trước hết của Sách Tin Mừng này, rồi mới áp dụng vào những phần khác của Tân Ước. Cấp độ thứ ba của bối cảnh là bối cảnh lịch sử. Bối cảnh này chỉ có được khi tham khảo các kết quả nghiên cứu Thánh Kinh, những chú giải, cước chú, hay những tư liệu bên ngoài, song đây là bối cảnh quan trọng để hiểu bản văn này có thể có ý nghĩa gì và nó đã được viết ra trong khung cảnh nào. Rồi, còn có bối cảnh rộng lớn hơn nữa, đó là toàn bộ qui điển các Sách Thánh. Bản văn này sẽ ăn khớp thế nào với chứng từ của các bản văn khác trong Thánh Kinh? Có những bản văn tương tự không? Những bản văn khác có đưa ra một nhãn quan khác biệt không? Ở đây, một lần nữa, các phương tiện phụ trợ là không thể thiếu. Cuối cùng, chúng ta cần tự hỏi bằng cách nào bản văn này được lắp ráp vào với bối cảnh của giáo huấn Giáo Hội. Bước cuối cùng này nhìn nhận nhãn quan giới hạn của mỗi bản văn riêng rẽ của Thánh Kinh trong đối chiếu với toàn bộ chứng từ đức tin xuyên qua các thời đại. Tất cả những sự chú ý này về bối cảnh có thể nghe khá phức tạp. Thực ra không có gì rắc rối lắm, một khi người ta đã nắm vững được vấn đề. Nhưng thật quan trọng việc giúp cho người ta hiểu chính xác bằng cách nào một Lời chuyên biệt của Thiên Chúa được áp dụng vào đời sống hằng ngày của chúng ta – qua việc tự hỏi bằng cách nào câu Lời  Chúa ấy ăn khớp vào bối cảnh mà từ đó nó xuất hiện.

(3) Phải nhìn nhận các giới hạn của việc đối thoại với những người theo chủ nghĩa cơ yếu. Người Công Giáo cần phải thực tiễn về những gì có thể đạt được qua việc cố gắng đối thoại với những người theo chủ nghĩa cơ yếu. Ngay từ đầu, chúng ta phải nhìn nhận một sự khác biệt lớn giữa cách chúng ta tiếp cận Thánh Kinh và cách của họ. Họ tin rằng chỉ có Thánh Kinh là nguồn mạc khải của Thiên Chúa. Còn người Công Giáo tin rằng Thánh Kinh và Truyền Thống cùng làm việc để mạc khải thánh ý Thiên Chúa. Những người theo chủ nghĩa cơ yếu cho rằng tính không sai lầm và tính bất khả ngộ của Thánh Kinh là tuyệt đối; người Công Giáo chấp nhận tính không sai lầm của giáo huấn Thánh Kinh chỉ trong lãnh vực đức tin và luân lý. Đó là những tiền đề xem ra không thể hòa hợp nhau được. Chúng ta không thể kỳ vọng giải quyết được tất cả những khác biệt ấy. Đàng khác, chúng ta có thể lợi dụng những yếu tố chung, chẳng hạn việc chấp nhận niềm tin vào Đức Giêsu Kitô, năng lực của Thánh Kinh trong việc làm cho đức tin Kitô giáo được sống thực, nhu cầu phải thống hối tội lỗi và được tha thứ, vv…

(4) Phải nắm vững truyền thống Công Giáo. Để có thể ứng phó với các vấn đề của những người theo chủ nghĩa cơ yếu, người Công Giáo phải nắm vững giáo huấn của Giáo Hội mình về Thánh Kinh. Vững vàng trong đức tin của mình, đó là điều thiết yếu để đương đầu với một quan điểm lấn át mình. Kinh nghiệm cho tôi thấy rằng nhiều người Công Giáo không chỉ xa lạ với Thánh Kinh mà còn xa lạ cả với nền giáo huấn lâu dài và đáng quí về Thánh Kinh trong truyền thống Giáo Hội. Những người theo chủ nghĩa cơ yếu không nhìn đức tin Công Giáo như là một đức tin có định hướng Thánh Kinh, nhưng như tôi đã đề cập trước đây, đó là một sự bóp méo thực tại. Giáo huấn Công Giáo gắn chặt với việc đề cao và chú giải Thánh Kinh xét như Lời Thiên Chúa không thua kém bất cứ một giáo phái Kitô giáo nào khác. Thật vậy, giáo huấn Công Giáo nhấn mạnh rằng khi các Sách Thánh được công bố, Đức Kitô được cảm nghiệm như là Đức Chúa Phục Sinh (Hiến chế  Phụng Vụ của Vatican II, số 7). Các học giả Công Giáo có lẽ đã chậm chân hơn các học giả Tin Lành trong việc tiếp cận giếng nước  Lời Thiên Chúa, nhưng khi họ đến, họ đã uống thật sâu. Người Công Giáo bình dân cần trở nên gần gũi hơn với giáo huấn chính thức của Giáo Hội về Thánh Kinh, và các linh mục quản xứ, các giảng viên giáo lý, các nhà giáo dục cần phải đặc biệt quan tâm đến vấn đề này.

(5) Phải khích lệ việc giảng Thánh Kinh một cách hữu hiệu. Các chủng viện Công Giáo Rôma ngày nay thường đẩy mạnh việc hướng dẫn học hỏi Thánh Kinh và việc giảng thuyết một cách chất lượng hơn nhiều so với thời tiền Công Đồng. Kết quả là nhiều linh mục và phó tế vĩnh viễn đã nhận được sự đào tạo tốt hơn về Thánh Kinh và đã được huấn luyện để giảng Lời Thiên Chúa một cách hữu hiệu hơn bất cứ thời nào trước đây. Tuy nhiên, có một thực tế là trong số những người theo chủ nghĩa cơ yếu có cả những người Công Giáo bất mãn nữa – những người này cảm thấy rằng họ nhận được quá ít hay chẳng nhận được sự hướng dẫn nào về Thánh Kinh từ các giáo sĩ  của mình. Cần cổ võ các linh mục và các phó tế rao giảng Lời Thiên Chúa một cách nhiệt tình và hữu hiệu hơn. Các tư liệu cho việc giảng thuyết ngày nay rất dồi dào, và nhiều giáo phận đã tài trợ cho các khóa bồi dưỡng giáo sĩ của mình nhằm cải thiện chất lượng giảng thuyết của các vị. Thuyết giảng Thánh Kinh là công việc không hề dễ, nhưng thách đố giải thích Lời Thiên Chúa một cách không máy móc và áp dụng Lời ấy vào đời sống hằng ngày của người ta một cách phù hợp là một công việc mà các giáo sĩ thuộc thời đại nào cũng phải quan tâm.

(6) Phải thăng tiến một tinh thần cộng đoàn tốt trong giáo xứ của bạn. Một lý do khác nữa làm cho những người Công Giáo bất mãn chuyển sang các cộng đoàn của những người theo chủ nghĩa cơ yếu đó là vì họ cảm thấy được đón nhận nồng nhiệt hơn, ấm cúng hơn, họ cảm nhận được một mối gắn bó hơn so với cộng đoàn giáo xứ của họ. Những giáo xứ Công Giáo lớn trong đó ‘chẳng mấy ai biết ai’ cần phải cố gắng liệu sao để có được một tinh thần cộng đoàn như thế. Nhiều giáo xứ đã bắt đầu phát triển những cộng đoàn đức tin Kitô giáo nhỏ để tìm lại một cảm thức cộng đoàn nào đó đã bị mất đi trong một khung cảnh rộng lớn. Nhiều giáo xứ cũng đã đặt các thừa tác vụ đón tiếp với bổn phận là tiếp đón những người đến tham dự phụng tự, hoặc tổ chức những cuộc quây quần chuyện trò bên tách cà phê, đĩa bánh ngọt, sau các Thánh Lễ Chúa Nhật. Dù dùng phương pháp nào đi nữa, các giáo xứ Công Giáo cũng cần được xem như là những cộng đoàn đầy thân tình cởi mở và hiếu khách. Lời khuyên này áp dụng cho việc phụng tự Chúa Nhật, nhưng cũng thích hợp cho các nỗ lực khác nữa của các giáo xứ.

(7) Phải sẵn sàng diễn tả cách tự nhiên đức tin của bạn bằng ngôn ngữ của chính bạn. Những người theo chủ nghĩa cơ yếu không hề lúng túng trong việc nói về đức tin của họ. Họ xem đó là một vinh dự. Nhiều người Công Giáo, đàng khác, cảm thấy rất ái ngại khi phải nói về đức tin của mình một cách riêng tư và chân tình. Một trong những chương trình canh tân sau Công Đồng trong Giáo Hội Công Giáo rất lôi cuốn đối với một số người, đó là phong trào đoàn sủng Công Giáo. Một số nhóm những người theo chủ nghĩa cơ yếu xuất phát từ truyền thống đoàn sủng. Họ nhấn mạnh hơn đến khía cạnh cảm tính của đức tin và đến các đặc sủng của Chúa Thánh Thần. Phong trào đoàn sủng Công Giáo trao cho những người Công Giáo sự tự do để diễn tả đức tin của mình một cách cá vị hơn và có màu sắc cảm tính hơn.

Một khía cạnh khác nữa của vấn đề này, đó là người Công Giáo cần phải tìm hiểu nhiều hơn về việc loan báo Tin Mừng. Để chuẩn bị cho năm 2000 và cho ngàn năm mới của Kitô giáo, Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã đặc biệt nhấn mạnh người Công Giáo cần phải xem việc loan báo Tin Mừng như một trong những bổn phận quan trọng nhất của mình. Loan báo Tin Mừng có nghĩa là sẵn sàng truyền rao Phúc Âm của Chúa Giêsu Kitô, bằng lời nói và bằng hành động, cho mọi người mà mình gặp gỡ. Điều này không nhất thiết có nghĩa là phải bước lên chiếc bục bên đường phố và lớn tiếng hô hào khách đi đường qua lại. Loan báo Tin Mừng có nghĩa là nói chuyện với người ta một cách cởi mở và thoải mái về đức tin của mình. Nó có nghĩa là phổ biến sứ điệp của Chúa Giêsu một cách rõ ràng để những người khác có thể gặp gỡ và đón nhận lấy sứ điệp ấy. Vì chắc chắn có những người Công Giáo bất mãn trên thế giới này, nên sứ điệp ấy trước hết nên được hướng trực tiếp về họ. Trong những năm gần đây, nhiều giáo phận đã tổ chức những cuộc qui tụ lớn nhằm tiếp cận được những người bất mãn với Giáo Hội Công Giáo, thường là bằng những cuộc hòa giải rộng rãi. Việc Đức Giáo Hoàng công khai và thẳng thắn nhìn nhận tội lỗi của các thành viên Giáo Hội qua lịch sử hai ngàn năm Kitô giáo cũng hỗ trợ rất lớn cho việc mở rộng lãnh giới của hoạt động loan báo Tin Mừng. Nhìn nhận những vấp ngã của mình và chấp nhận rằng mình cần hoán cải, đó là một bước tuyệt vời để bắt đầu công cuộc loan báo Tin Mừng đích thực, và đó cũng là một phần của đức tin Công Giáo. Thật vậy, việc cầu nguyện cho sự hoán cải của chính mình phải là ưu tiên số một trong tâm thức mọi Kitôhữu trước khi “chinh phục” những người khác trên thế giới này.

Những Điều Đừng Làm

Trong khi nhận ra một số phương cách tích cực để ứng phó với chủ nghĩa cơ yếu, tôi tưởng cũng cần chỉ ra một số cạm bẫy:

(1) Đừng sa vào cám dỗ đưa ra những câu trả lời nặng tính minh giáo. Cái khó mà tôi nhận thấy nơi biện pháp thuần túy có tính minh giáo đối với chủ nghĩa cơ yếu, đó là biện pháp này sẽ giảm trừ mọi sự chỉ còn là những câu hỏi và những câu trả lời. Thường thì nó trở thành một nguy cơ “phá hoại Thánh Kinh”. Những người theo chủ nghĩa cơ yếu dẫn ra một bản văn Sách Thánh để bảo vệ một quan điểm, và những người Công Giáo đáp lại với một bản văn ngược lại. Như câu chuyện Chúa Giêsu chịu cám dỗ cho thấy, ngay cả ma quỉ cũng có thể trích dẫn Sách Thánh (x. Mt 4,1-11 và Lc 4,1-13). Vì tiến trình hình thành Thánh Kinh đã diễn tiến qua nhiều trăm năm, nên tất nhiên phải có những bản văn mâu thuẫn nhau trong các Sách Thánh. Hầu như ứng với bất cứ đoạn văn nào trong Thánh Kinh cũng có thể có một sứ điệp ngược lại, nếu người ta cố tìm đủ kỹ. Chơi trò phản pháo bằng cách trích dẫn Thánh Kinh xem ra chẳng giải quyết được dứt khoát vấn đề gì. Khoa minh giáo có thể giúp trong một mức độ nào đó, nhưng các quan điểm của Công Giáo và của những người theo chủ nghĩa cơ yếu có khi hoàn toàn khác biệt nhau. Hầu như chúng ta phải hoặc đồng ý hoặc không đồng ý.

(2) Đừng coi sự chú giải của bạn là sự chú giải chính thức. Một lỗi phổ biến trong việc chú giải Thánh Kinh đó là giả định một điều nào đó chỉ vì mình thấy điều đó có lý, rồi cho rằng đó chắc chắn là ý nghĩa bản văn muốn nói. Chúng ta phải tránh việc qui điển hóa sự chú giải của chính mình như thể đó là sự chú giải chính thức. Chúng ta phải sẵn sàng cởi mở đón nhận sự soi sáng của các khả năng chú giải khác nữa, một số trong đó có thể có nhiều cơ sở vững chắc hơn sự chú giải của mình. Một số người có thể cho rằng làm thế khác gì “vắt chanh bỏ vỏ”. Nhưng tôi không nhận thấy như vậy. Cần phải nhìn nhận rằng một số người là chuyên gia trong lãnh vực chú giải Thánh Kinh và họ đã nghiên cứu lãnh vực này một cách chuyên nghiệp, do đó hầu chắc họ hiểu biết nhiều về Thánh Kinh hơn các Kitôhữu trung bình – đó là một sự thật mà chúng ta xem ra nhiều khi lãng quên.

(3) Đừng chế nhạo chủ nghĩa cơ yếu. Chế nhạo quan điểm của người ta là một điều không bao giờ khôn ngoan. Người Công Giáo không nên sa vào não trạng cào bằng tất cả những người theo chủ nghĩa cơ yếu, cũng không nên đẩy mạnh một cách không cần thiết loại thái độ ‘phe ta phe họ’. Một số người theo chủ nghĩa cơ yếu thuộc loại phản trí một cách mù quáng, nhưng một số người khác thì không như vậy. Đành rằng quả có nhiều nhà thuyết giảng Tin Mừng trên radiô và trên truyền hình đã dùng những lời lẽ thô thiển để tố cáo Giáo Hội Công Giáo, song chúng ta cũng không nên đáp lại bằng thái độ tương tự. Quyển sách này đã cho thấy rõ rằng chủ nghĩa cơ yếu không tương hợp với đức tin Công Giáo, nhưng tôi đã cố gắng phân tích chủ đề từ một quan điểm thận trọng và không nặng tính bút chiến.

Một lý do khác nữa để chúng ta cần phải giữ thái độ càng khách quan càng tốt, đó là nếu chúng ta trung thực với chính mình, chúng ta sẽ nhận ra rằng người Công Giáo cũng có thể sa vào một loại ‘chủ nghĩa cơ yếu’ nào đó. Một số học giả đã thậm chí đi xa đến nỗi khẳng định sự tồn tại của một chủ nghĩa cơ yếu nơi người Công Giáo trong đó huấn quyền chính thức của Giáo Hội – được hiểu cách chật hẹp – được sử dụng như một chiếc dùi cui để tấn công những người Công Giáo có khuynh hướng tự do hơn, hoàn toàn nhân danh rằng phải bảo vệ tính chính thống. Có lẽ nên gọi hiện tượng đó là “chủ nghĩa giáo điều” thì đúng hơn là “chủ nghĩa cơ yếu”. Thực tế là nơi cả hai phía của riêng nội bộ Công Giáo, cả cánh tả lẫn cánh hữu, đều có bộc lộ một cách tiếp cận đời sống đầy tính giáo điều và hết sức cứng nhắc. Theo nghĩa này, “chủ nghĩa cơ yếu” tồn tại trong nhiều hình thức. Nhiều người Công Giáo tự xưng rằng mình đang bảo vệ đức tin, nhưng họ hành động không khác mấy với những người cơ yếu vốn nhút nhát bám riết một quan điểm cố hữu và không hề có một thiện chí đối thoại nào. Hơn nữa, nếu những người cơ yếu có khuynh hướng bám chặt vào những viện dẫn Thánh Kinh để chống đỡ cho giáo thuyết này hoặc giáo thuyết khác, thì những người Công Giáo và các Kitôhữu khác nữa cũng làm y như vậy. Nói cách khác, nhiều khi chúng ta phải lưu ý nhiều hơn đến phương pháp tiếp cận chật hẹp của chúng ta đối với các Sách Thánh. Như Chúa Giêsu nói: “Sao ngươi nhìn thấy cái rác trong mắt người anh em, mà không nhận ra cái xà trong mắt ngươi?” (Mt 7,3). (Bối cảnh của Bài Giảng Trên Núi mời gọi các môn đệ Đức Giêsu phải vượt quá cách tiếp cận thường tình đối với tôn giáo.) Mọi người được mời gọi nhìn nhận những giới hạn của chính mình và lưu tâm đến sứ điệp mời gọi hoán cải của Đức Giêsu.

(4) Đừng xem chủ nghĩa cơ yếu chỉ là chuyện vặt. Người Công Giáo cần cảnh giác ảnh hưởng của chủ nghĩa cơ yếu. Một cuộc thăm dò gần đây cho thấy rằng khoảng 30% số người Mỹ tự coi mình là những Kitôhữu đã được “sinh lại”. Chúng ta sẽ sai lầm nếu gạt bỏ chủ nghĩa cơ yếu như một phiên bản Kitô giáo lỗi thời, chẳng đáng quan tâm, cho rằng ảnh hưởng của nó là không đáng kể và không quan trọng. Bạn sẽ bị bất ngờ đấy! Đã có những cuộc tranh chấp pháp lý gần đây về việc dạy thuyết tiến hóa đối nghịch lại thuyết sáng tạo tại trường công lập (chẳng hạn ở Kansas vào năm 2000), dựa trên cơ sở cách đọc Sách Sáng Thế của những người cơ yếu. Những nhà thuyết giảng Tin Mừng theo chủ nghĩa cơ yếu trên radio và truyền hình vẫn gây ra một ảnh hưởng đáng kể trong số đông quần chúng.

“Cánh hữu sùng tín”, vốn bao gồm những người theo chủ nghĩa cơ yếu, đã thực hiện một cố gắng có tính toán để chi phối đến kết quả các cuộc bầu cử và để thực hiện các chương trình của họ thông qua những sửa đổi luật pháp, hoàn toàn ở trong khuôn khổ quyền tự do dân chủ của họ. Họ được tổ chức và được tài trợ dồi dào và họ cảm thấy rằng họ có bổn phận phải tái thiết cơ cấu luân lý của Hoa Kỳ. Đôi khi, gắn liền với nhãn quan cơ yếu này là một hình thức rất độc hại của tư tưởng bài Công Giáo, bài Sêmít và bài hiện đại nói chung. Theo sự đánh giá của tôi, người Công Giáo không nên phớt lơ hay đánh giá thấp ảnh hưởng mà chủ nghĩa cơ yếu có thể tác động nơi đại chúng Mỹ, ngay cả khi chúng ta có thể đồng ý với một số chủ trương của họ (chẳng hạn, việc bảo vệ sự sống các thai nhi).

(5) Đừng đánh mất hy vọng. Đứng trước những người theo chủ nghĩa cơ yếu, chúng ta có thể bị cám dỗ cảm thấy thất vọng cho rằng tình hình đã bế tắc. Dễ nản lòng nhất là khi một số người Công Giáo nhìn thấy những người nhà hay các bạn thân của mình nhảy vào các cộng đoàn của những người cơ yếu. Họ tỏ ra nhiệt thành với đức tin mới của họ. Và những thái độ của họ bỗng thay đổi đến mức khó chấp nhận được, nhất là nếu họ trở thành huênh hoang bướng bỉnh đối với người trong gia đình. Mặc dù tôi hồ nghi về khả năng tiến bộ trong cuộc đối thoại giữa người Công Giáo và những người theo chủ nghĩa cơ yếu, tôi vẫn hy vọng rằng những bước đột phá nào đó rồi sẽ có ngày xảy ra. Không giống như Giáo Hội Công Giáo và đa số các giáo phái Tin Lành kỳ cựu vốn có tinh thần đại kết, những người theo chủ nghĩa cơ yếu không nhạy bén với việc tham gia vào những cuộc đối thoại liên tôn. Người Công Giáo được họ nhìn như “kẻ thù”. Thật vậy, khi đụng đến vấn đề Thánh Kinh, người Công Giáo có nhiều điểm chung với các giáo phái Tin Lành kỳ cựu hơn là với những người cơ yếu. Tuy vậy, tôi nghĩ chúng ta nên kiên nhẫn hy vọng và đừng bao giờ ngừng cố gắng nhận hiểu họ đúng như sự thật của họ, ngay cả khi chúng ta chọn lập trường khác họ.

Làm Sao Ứng Phó Với Những Vấn Đề Chuyên Biệt Của Những Người Theo Chủ Nghĩa Cơ Yếu?

Trên đây tôi đã cảnh giác về những giới hạn của khoa minh giáo khi liên hệ với chủ nghĩa cơ yếu Thánh Kinh. Tuy nhiên tôi cũng biết rằng nhiều người Công Giáo muốn có được sự hướng dẫn nào đó liên quan tới một số vấn đề chuyên biệt mà các người thân hay bạn bè của họ đặt ra. Nhằm mục đích đó, tôi đưa ra những lời khuyên sau đây liên quan tới một số câu hỏi chính yếu mà tôi nghĩ là thường nổi lên khi gặp gỡ những người theo chủ nghĩa cơ yếu. Tôi nhấn mạnh rằng cách tốt nhất để giải quyết những vấn đề này là học hỏi và nắm vững Thánh Kinh hơn – để biết Thánh Kinh dạy gì và không dạy gì.

Một Số Câu Hỏi Thường Gặp

Hỏi:   Tại sao người Công Giáo tin vào các truyền thống của con người hơn là tin vào Thánh Kinh?

Nói “các truyền thống của con người”, những người theo chủ nghĩa cơ yếu thường có ý nói đến toàn bộ các giáo thuyết hình thành nên cơ sở của đức tin Công Giáo, và họ cho rằng những giáo thuyết này không có trong Thánh Kinh. Câu trả lời cho vấn nạn này sẽ bao gồm hai vấn đề. Một là, ngược với cảm nhận của những người cơ yếu, người Công Giáo thực sự là những Kitôhữu tin vào Thánh Kinh. Người Công Giáo tin rằng Thánh Kinh là Lời Thiên Chúa, rằng Thánh Kinh chứa đựng nhiều giáo huấn thiết yếu về đức tin và luân lý, và rằng Thánh Kinh hết sức cần thiết cho đời sống tâm linh. Kể từ Vatican II, người Công Giáo cũng luôn luôn cử hành mọi bí tích với ít nhất một bài đọc nào đó rút từ Thánh Kinh. Quan trọng nhất là việc cử hành Bí Tích Thánh Thể. Trong mỗi Thánh Lễ, người Công Giáo lắng nghe các trích đoạn Thánh Kinh được sưu tập vào một cuốn sách gọi là Sách Bài Đọc. Vào ngày Chúa Nhật, người Công Giáo nghe ba Bài Đọc và một Thánh Vịnh đáp ca; vào các ngày trong tuần, người Công Giáo nghe hai Bài Đọc và một Thánh Vịnh đáp ca. Một trong các Bài Đọc ấy luôn luôn được trích từ một trong bốn sách Tin Mừng thuộc qui điển. Các linh mục (hay các nhà giảng thuyết khác) cũng được kỳ vọng đưa ra ít nhất một suy tư ngắn về các Bài Đọc này để giải thích chúng và ứng dụng chúng vào đời sống thường ngày. Giáo Hội cũng khuyến khích các tín hữu Công Giáo thường xuyên đọc, nghiên cứu, và cầu nguyện dựa vào Thánh Kinh.

Còn một vấn đề thứ hai nữa liên quan đến ý niệm “các truyền thống của con người”. Người Công Giáo không tin rằng các giáo huấn của Giáo Hội là thuần túy có nguồn gốc nhân loại. Cũng như khi chúng ta chấp nhận vai trò của Chúa Thánh Thần trong việc linh hứng Thánh Kinh, chúng ta cũng tin rằng Chúa Thánh Thần hướng dẫn Giáo Hội trong các giáo huấn của Giáo Hội để tránh rơi vào sai lầm trong những vấn đề thuộc đức tin hay luân lý. Chúng ta tin rằng Chúa Thánh Thần hướng dẫn Giáo Hội trong việc thiết định các giáo thuyết của Giáo Hội qua giòng thời gian. Cũng chính Chúa Thánh Thần là Đấng gìn giữ để giáo huấn của Giáo Hội không chứa những sai lầm về đức tin hay luân lý Những người theo chủ nghĩa cơ yếu tưởng rằng sự cậy dựa của họ vào Thánh Kinh không đặt trên cơ sở “các truyền thống của con người”, nhưng điều đó không hoàn toàn đúng. Như tôi đã ghi nhận trước đây, một thoáng nhìn qua những giáo huấn chứa đựng trong quyểnThe New Scofield Study Bible cũng đủ cho thấy rằng các chú giải trong đó là những chú giải của con người, không nhất thiết gắn liền với điều mà Thánh Kinh thật sự muốn nói. Vì thế, thật là nghịch lý, nhiều niềm tin của chủ nghĩa cơ yếu (như bảy giai đoạn phân thời, sự kiện “được chụp bắt và đem đi”, vv…) là những chú giải của con người đúng hơn là những mạc khải thần linh.

Điều đó được nói ở chỗ nào trong Thánh Kinh?

Nhiều lần người ta chất vấn tôi như thế. Thường thì họ muốn tìm ra những chỗ trong Thánh Kinh mà họ có thể kiếm được một ý tưởng chuyên biệt nào đó để phủ nhận điều mà một người theo chủ nghĩa cơ yếu quyết bảo vệ.Tôi đã cảnh giác ở trên đây rằng có một mối nguy dùng những trích dẫn Thánh Kinh làm ‘đạn’ để ‘bắn’ nhau. Rồi chẳng đi tới được đâu cả! Nhưng đôi khi người Công Giáo cũng cần được giúp đỡ để biết bằng cách nào họ có thể tìm thấy một bản văn Thánh Kinh mà họ nhớ cách lơ mơ.

Tôi sẽ chỉ cho bạn một bí quyết nhỏ. Tìm một bản văn cụ thể nào đó trong Thánh Kinh thực ra không khó lắm. Bạn chỉ cần có một bảng từ mục Thánh Kinh. Một bảng từ mục là một danh mục các từ , tương ứng với một bản dịch Thánh Kinh nào đó, bảng từ mục này sẽ cho biết tất cả những câu Thánh Kinh nào có chứa từ ấy. Nếu ta biết một từ chủ yếu của một câu Thánh Kinh, thì chỉ còn một việc là tra từ mục nói trên. Tuy nhiên, đây có thể là một công việc đầy cạm bẫy. Nếu bạn không có sẵn bảng từ mục, bạn có thể tìm trong thư viện, song nó phải đúng là từ mục của bản dịch Thánh Kinh mà bạn sử dụng. Dĩ nhiên, các học giả sử dụng các từ mục bằng tiếng Hy lạp và Hípri cho các ngôn ngữ gốc, nhưng nguyên tắc cũng vẫn tương tự trong ngôn ngữ của bạn. Có nhiều loại từ mục sẵn bán tại các hiệu sách bán lẻ, dành cho những bản dịch Thánh Kinh nhất định.

Ví dụ, vấn đề của chúng ta là cần biết chỗ nào trong Thánh Kinh nói rằng bạn “phải tuyên xưng bằng môi rằng Đức Giêsu Kitô là Đức Chúa”? Những từ chủ yếu ở đây là “tuyên xưng” và “môi”. Nếu bạn tra từ “Giêsu” hay “Đức Chúa” thì bạn sẽ choáng ngợp vì có quá nhiều bản văn chứa các từ ấy. Điều quan trọng là bạn phải nắm chắc rằng những từ mà bạn cần tra là những từ thực sự được dùng trong bản dịch. Chẳng hạn, bản The New Revised Standard Version dịch như cách trên (Rm 10,9). Thế nhưng, bản New American Bible lại dịch: “Nếu anh em không tuyên xưng bằng miệng …”! Như vậy, bạn sẽ tìm thấy bản văn bằng cách lục tìm động từ “tuyên xưng” hay danh từ “miệng” chứ không phải danh từ “môi”.

Đối với những ai sử dụng máy vi tính, việc tìm các bản văn sẽ càng dễ dàng và nhanh chóng hơn nữa. Có nhiều chương trình phần mềm Thánh Kinh ngoài thị trường, khá rẻ và dễ dùng, có thể giúp tìm kiếm các từ và còn có nhiều chức năng khác nữa. Nếu bạn thực sự muốn biết điều gì đó được nói ở đâu trong Thánh Kinh, bạn hãy làm quen với một dạng từ mục nào đó.

Hỏi:   Tại sao người Công Giáo sử dụng từ “Cha” để gọi các linh mục, trong khi Thánh Kinh cấm điều đó?

Những người theo chủ nghĩa cơ yếu hiểu sát mặt chữ lệnh truyền của Đức Giêsu trong Tin Mừng Matthêu về việc “đừng gọi ai dưới đất là Cha, vì anh em chỉ có một Cha, Đấng ngự trên trời” (23,9). Họ không hiểu tại sao người Công Giáo lại bất chấp bản văn này và gọi các linh mục là “Cha”. Trước hết, chúng ta cần ghi nhận rằng bối cảnh của bản văn Matthêu đề cập tới thói giành quyền ưu tiên vô lối và thói vênh vang. Đức Giêsu đang chống lại những người cho rằng tước hiệu và địa vị đặt họ vào chỗ trên người khác, dù tước vị đó là rabbi, thầy, cha, bác sĩ, học giả hay bất cứ tước vị nào khác. Vấn đề không phải là theo sát mặt chữ để tránh tiếng “Cha”, nhưng là tránh sự thống trị trên người khác bằng cách dựa vào một danh dự hay tước vị bên ngoài, mà quên chức vị đích thực của mình là làm tôi tớ phục vụ người khác.

Với thuật ngữ “Cha”, Đức Giêsu cũng đang nhắc đến điều vốn thường được nhấn mạnh trong Tin Mừng Matthêu, đó là Thiên Chúa là người Cha đích thực của tất cả mọi người. Ở đây không hề phủ nhận “những người cha” dưới đất. Đúng hơn, Đức Giêsu kêu gọi các môn đệ từ bỏ mọi mối quan hệ gia đình (Mt 4,22) và đi vào một gia đình mới, gia đình của các môn đệ (Mt 12,46-49), cùng nhau cậy dựa vào một Cha trên trời, Đấng chúc phúc và quan phòng chăm sóc họ (x.Mt 6,9). Lệnh truyền trên kia của Đức Giêsu, vì thế, không phải là đào thải từ “Cha” ra khỏi ngôn ngữ của con người (dù là “cha” huyết thống hay “cha” đại diện), nhưng là đặt nó trong viễn tượng đúng của nó tương ứng với vai trò làm cha của Thiên Chúa. Vả lại, chỗ khác trong Tân Ước còn cho thấy rằng khuôn mặt người cha không bị loại bỏ trong Giáo Hội sơ khai. Chẳng hạn, Phaolô rõ ràng tự ví mình như người cha trong quan hệ với những người mới trở lại (1 Cr 4,15; Pl 2,22). Không phải như vậy là Phaolô đang bác bỏ lời nhắc nhở của Chúa Giêsu. Thay vào đó, trong 1Cr 4,14-17 Phaolô sử dụng ẩn dụ về một người cha và “các con yêu dấu của mình” để nói về cả tình yêu và sự hướng dẫn mà ngài trao cho họ như là những đứa con thiêng liêng (Hy ngữ:teknon). Phaolô sử dụng ẩn dụ ấy một cách tuyệt vời, ngài dám nói: “Trong Đức Kitô Giêsu, tôi đã trở thành cha của anh em nhờ Tin Mừng” (1Cr 4,15).

Vì thế, người Công Giáo sử dụng từ “Cha” để gọi các linh mục do lòng kính trọng chức vụ linh mục của các vị ấy và do muốn nhấn mạnh ý nghĩa đích thực của gia đình các môn đệ mà Đức Giêsu đã qui tụ nhân danh chính Người. Các linh mục không được kỳ vọng sử dụng chức vị của mình để tìm vinh dự, nhưng là để phục vụ các anh chị em mình (Mt 20,26) là những người mà các vị chăm sóc như cha săn sóc con cái và như mục tử săn sóc đoàn chiên (Mt 9,36).

Hỏi:  Tại sao người Công Giáo thờ Đức Maria và các thánh?

Người Công Giáo không thờ Đức Maria và các thánh. Những người không Công Giáo đôi khi có ấn tượng sai lầm rằng chúng ta làm thế, nhưng cùng với tất cả các Kitôhữu khác, chúng ta tin rằng chỉ một mình Thiên Chúa mới đáng được phượng thờ. Chúng ta tôn kính Đức Maria và các thánh bởi vì chúng ta tin rằng các ngài nêu mẫu gương đức tin tuyệt vời cho chúng ta. Tin Mừng Luca, chẳng hạn, khắc họa hình ảnh Đức Maria một cách tuyệt vời trong vai trò làm mẫu gương cho người môn đệ, vì Mẹ là người hoàn toàn lắng nghe và thi hành thánh ý Thiên Chúa. Thái độ sẵn sàng thưa “Vâng” trước thánh ý nhiệm mầu của Thiên Chúa nơi Đức Maria cung ứng cho chúng ta tấm gương bậc nhất về tinh thần người môn đệ (Lc 1,26-38; cf.6,46-48). Giáo Hội vẫn nhìn nhận các thánh và tuyên phong thêm các thánh mới để cho thấy rằng ân sủng của Thiên Chúa vẫn dồi dào nơi các chủng tộc và các quốc gia khác nhau, ân sủng ấy vẫn mở ra cho mọi người trên mọi nẻo đường cuộc sống, mọi truyền thống văn hóa, mọi hoàn cảnh cá nhân. Những ảnh tượng của những người nam và nữ thánh thiện được sử dụng bởi vì chúng cung cấp các hình ảnh cụ thể giúp làm chất liệu suy tư cho người ta. Người Công Giáo không hề thờ phượng các đồ vật như thế.

Hỏi:  Tại sao người Công Giáo không phi bác thuyết tiến hóa là thuyết đối nghịch với Thánh Kinh?

Vì người Công Giáo không tin rằng Thánh Kinh không sai lầm trong những điều thuộc khoa học hay lịch sử. Người Công Giáo không bị lúng túng bởi thuyết tiến hóa của khoa học hiện đại. Chúng ta không xem thuyết tiến hóa như là một cái gì mâu thuẫn với Thánh Kinh. Chúng ta cũng không xem trình thuật sáng tạo trong Sách Sáng Thế như là một giải thích hiểu theo nghĩa đen về cách thế mà vũ trụ xuất hiện. Bao lâu chúng ta tin rằng điều quan trọng nhất là Thiên Chúa nằm đằng sau công cuộc sáng tạo và rằng công cuộc sáng tạo ấy là tốt đẹp, thì chúng ta vẫn nhìn nhận rằng các giải thích khoa học đáng tin cậy theo mức độ chứng cứ mà chúng có thể cung cấp. Trong một dịp nói chuyện với Viện Hàn Lâm Khoa Học Giáo Hoàng (22 tháng 10, 1996), Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã chính thức tuyên bố rằng thuyết tiến hóa không mâu thuẫn với Thánh Kinh và không đối nghịch với đức tin Công Giáo.

Hỏi:   Tại sao người Công Giáo có một giáo hoàng và các giám mục – điều này không được tìm thấy trong Thánh Kinh?

Trước hết, như đã đề cập ở chương 3, người Công Giáo chúng ta không chấp nhận rằng mọi sự trong đức tin của chúng ta phải nảy ra từ Thánh Kinh. Vì thế tiên vàn chúng ta phải nhìn nhận rằng chúng ta có những điểm xuất phát hoàn toàn khác.

Về vấn đề cơ cấu phẩm trật của Giáo Hội, người Công Giáo tin rằng chức vị giáo hoàng, giám mục, linh mục, phó tế, và đời sống tu trì đã phát triển qua thời gian theo sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Chúng ta xem những cấu trúc này như được cắm rễ trong Tân Ước ngay cả khi chúng ta thấy rằng Tân Ước không có một phác họa rõ ràng nào cho chúng. Người Công Giáo tin rằng Lời của Chúa Giêsu nói với Phêrô trong Tin Mừng Matthêu (16,16-19, “Simon, phúc cho anh… Anh là Đá và trên Đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy…”) tạo thành nền tảng cho sứ vụ của Phêrô, gốc tích của sứ vụ giáo hoàng, một sứ vụ lãnh đạo và thăng tiến mối hiệp nhất. Những tài liệu khác của Tân Ước xác nhận vai trò lãnh đạo đặc biệt của Phêrô giữa mười hai tông đồ trong tư cách là người phát ngôn của nhóm. Các cuộc đối thoại đại kết với một số cộng đoàn Tin Lành kỳ cựu cũng đã dẫn tới việc họ nhìn nhận vai trò đặc biệt của Phêrô ngay cả dù họ không thiết yếu chấp nhận cơ cấu chức vị giáo hoàng.

Hơn nữa, một số tài liệu Tân Ước nói về các giám quản là những người thi hành sứ vụ trong tư cách là những vị giám sát lãnh đạo các Giáo Hội địa phương. Tuy không hoàn toàn giống với các giám mục ngày nay, song các vị giám quản ngày xưa hình thành nền móng cho việc phát triển các chức vụ quản trị bắt đầu xất hiện khi Giáo Hội ngày càng lớn lên thành một tổ chức cần đến vai trò cai quản chính thức. Các tài liệu muộn hơn của Tân Ước (chẳng hạn Tm 1-2, Tt) cho thấy tính cơ chế hóa tăng dần lên này, dẫn tới việc bổ nhiệm các “giám mục Công Giáo”. Dù sao, một lần nữa, chúng ta phải xác nhận với những người theo chủ nghĩa cơ yếu rằng chúng ta không tin rằng các cơ cấu Giáo Hội hiện nay cần phải hoàn toàn tương hợp với các bản văn Thánh Kinh.

 q .  Tại sao người Công Giáo tin vào tính bất khả ngộ của giáo hoàng?

Câu hỏi này có thể gay cấn, được đặt ra bởi những người theo chủ nghĩa cơ yếu tin vào tính bất khả ngộ của Thánh Kinh. Dĩ nhiên, vấn đề là họ chất vấn làm sao một con người có thể bất khả ngộ. Chúng ta phải trình bày giáo huấn Công Giáo về tính bất khả ngộ của giáo hoàng, một giáo huấn được xác định tại Công Đồng Vatican I vào thế kỷ 19, chỉ áp dụng khi giáo hoàng đưa ra những tuyên bố ex cathedra,[3] ở đây rõ ràng có nghĩa là khi tuyên bố một giáo huấn tín lý chính thức cách long trọng. Trường hợp này chỉ mới được thực hiện hai lần trong lịch sử Giáo Hội, đó là việc tuyên bố tín điều Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội (1854) và tín điều Đức Maria Hồn Xác Lên Trời (1950). Người Công Giáo tin rằng Chúa Thánh Thần hướng dẫn Giáo Hội khi đưa ra những tuyên bố như thế, cũng như Chúa Thánh Thần đã hướng dẫn các tác giả Sách Thánh trong việc truyền đạt chân lý trong các lãnh vực đức tin và luân lý. Trong mỗi trường hợp như vậy, Thiên Chúa là người bảo vệ sự thật. Còn con người là khí cụ qua đó sự thật được thông truyền. Như vậy, dù là tính bất khả ngộ của giáo huấn giáo hoàng hay là chân lý tôn giáo của Thánh Kinh, thì nguồn gốc vẫn là thẩm quyền của Thiên Chúa.

Cần lưu ý một điểm rằng nhiều người Công Giáo lầm tưởng bất cứ điều tuyên bố nào của giáo hoàng cũng đều bất khả ngộ và đều phải được tin. Sự thật không phải như vậy. Người Công Giáo tin vào một hệ thống thang bậc các chân lý, một số chân lý là nòng cốt đối với đức tin và một số khác thì không quan hệ mấy với đức tin. Không phải mọi giáo huấn đều có trọng lượng ngang bằng nhau. Một lần nữa, người Công Giáo nhìn nhận rằng giáo thuyết bất khả ngộ không ở trong Thánh Kinh. Tuy nhiên, chúng ta tin rằng lời hứa của Đức Giêsu với Phêrô, vốn củng cố vai trò giáo hoàng của Phêrô (Mt 16,16-19) có tác dụng như một đảm bảo rằng Thiên Chúa sẽ không bao giờ để cho Giáo Hội đi trệch đường trong các tuyên bố tín lý của mình.

Hỏi:   Tại sao người Công Giáo tin vào Giáo Hội và các bí tích?

Đối ngược với nhiều người theo chủ nghĩa cơ yếu vốn nhìn Giáo Hội với con mắt dửng dưng hoặc xem thường, người Công Giáo tin rằng Giáo Hội là một phần thiết yếu của chương trình cứu độ của Thiên Chúa. Giáo Hội là Dân Thiên Chúa, là cộng đoàn của các môn đệ Chúa Giêsu, được gọi để chuyển trao sứ điệp của Chúa Giêsu cho thế giới bằng đời sống của mình, bằng chứng từ và bằng việc cử hành Lời Chúa và các bí tích. Nhiều bản văn trong Tân Ước nói về Giáo Hội. Cách riêng, người Công Giáo xem bản văn Matthêu 16,16-18 là bản văn chính yếu cho thấy sự thành lập Giáo Hội, nhưng nhiều bản văn khác cũng nói về các vai trò của Giáo Hội (Cv 20,28; Ep 3,10; Tm 3,15, vv…). Người Công Giáo tin rằng chính Cựu Ước cũng báo trước về Giáo Hội khi Cựu Ước cho thấy nhân loại như một gia đình mà Thiên Chúa muốn qui tụ thành một cộng đoàn hiệp nhất, và trong việc tập hợp dân tộc đặc tuyển, tức dân It-ra-en. Thật vậy, từ ngữ của Tân Ước qui chiếu đến Giáo Hội (Hy ngữ: ekklẽsia, “sự qui tụ, tập hợp, triệu tập”) có gốc ởekklain (nghĩa là “được tuyển trạch từ”) – một từ bắt rễ từ ý niệm “qui tụ” của Cựu Ước (tiếng Hipri: qahal).

Người Công Giáo nhìn bản thân Giáo Hội như một loại “bí tích” (La ngữ: sacramentum, nghĩa là “mầu nhiệm, dấu hiệu”) – là dấu hiệu hữu hình cho thấy ý định mầu nhiệm của Thiên Chúa muốn hợp nhất con người thành một gia đình. Bảy bí tích (được liệt kê dưới đây) là những dấu hiệu bên ngoài cho thấy ân sủng vô hình của Thiên Chúa hoạt động trong Giáo Hội và trong thế giới. Người Công Giáo tin rằng mỗi bí tích ấy đều bắt rễ từ Thánh Kinh, nhưng quá trình phát triển của chúng trong lịch sử đã diễn ra dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Tuy nhiên, cần phải cẩn thận để không rơi vào cái bẫy của não trạng ”lấy chữ làm chứng”. Mặc dù người Công Giáo chúng ta tin rằng các bí tích bắt rễ trong Thánh Kinh, chúng ta cũng không vì thế mà nghĩ rằng mọi sự Giáo Hội làm, dạy, hay tin đều phải được tìm thấy trong các Sách Thánh. Để tham khảo các gốc rễ Thánh Kinh của các bí tích, người ta có thể đọc các bản văn sau đây:

-Bí tích Rửa Tội: Ga 3,5; Cv 2,38

-Bí tích Thánh Thể: 1Cr 11,23-26; Mt 26,17-29; Mc 14,12-25; Lc 22,7-20

-Bí tích Thêm Sức: Cv 2,1-4

-Bí tích Hòa Giải: Ga 20,22-23; 2Cr 5,18

-Bí tích Hôn Phối: St 2,18-25; Ga 2,1-11

-Bí tích Truyền Chức Thánh: Mc 14,12-25 và các đoạn song song; 1Tm 4,14; 2Tm 1,6

-Bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân: Gc 5,14

Hỏi:   Tại sao người Công Giáo không chấp nhận Chúa Giêsu là Đức Chúa và là Đấng Cứu Độ của riêng mình?

Người Công Giáo chấp nhận Chúa Giêsu Kitô là Chúa và là Đấng Cứu Độ, nhưng chúng ta không tuyên bố theo kiểu của những người theo chủ nghĩa cơ yếu. Đối với những người cơ yếu, đây là việc tuyên tín cốt lõi nhất. Họ tin rằng họ phải tuyên xưng Chúa Giêsu bằng lời nói cụ thể để được cứu độ. Họ dẫn một bản văn trong Thư Rôma để bảo vệ lập trường của họ (Rm 10,9). Đối với người Công Giáo, tin và diễn tả đức tin là một tiến trình đầy tính dấn thân và phức tạp. Người Công Giáo không quá cường điệu chiều kích cá nhân của ơn cứu độ. Đức Giêsu Kitô đến không chỉ để cứu tôi mà còn để cứu độ thế giới. Ơn cứu độ được chuyển thông qua một cộng đoàn đức tin chứ không chỉ xuyên qua mối tiếp xúc cá nhân với Đức Giêsu. Điều này không hề giảm trừ nhu cầu dấn thân cá nhân nhưng là đặt nó vào trong đúng bối cảnh cộng đoàn của nó.

Hỏi:  Tại sao người Công Giáo rửa tội các em bé?

Không chỗ nào trong Thánh Kinh cấm rửa tội các em bé. Những người theo chủ nghĩa cơ yếu gặp lấn cấn với việc thực hành này của Công Giáo Rôma bởi vì theo quan điểm của họ, họ nhấn mạnh rằng tự cá nhân người ta cần phải quyết định đi vào Kitô giáo. Vì các em bé không thể thực hiện một quyết định đầy ý thức như thế, nên việc rửa tội cho các em dường như vô nghĩa. Người Công Giáo nhìn việc hoán cải với một nhãn quan rộng rãi hơn. Từ thuở sơ khai của Giáo Hội, các Kitôhữu đã rửa tội cho các em bé. Thánh Kinh có ám chỉ điều này, mặc dù Thánh Kinh không nói một cách minh nhiên. Trong Công Vụ Tông Đồ, chẳng hạn, những câu chuyện cải giáo kể rằng “cả nhà” được nhận Phép Rửa. Các ví dụ điển hình bao gồm Cornelius, viên bách quản Xêdarê, và cả nhà ông ta (Cv 10,47-48), Lyđia, người buôn bán vải điều và cả nhà bà ta (Cv 16,15), viên cai ngục ở Philipphê và “cả gia đình ông ta” (Cv 16,33), Kirspô, thủ lãnh hội đường Corinthô và gia đình (1Cr 1,16; 16,15). Từ “cả nhà” (Hy ngữ: oikos) có nghĩa gì? Nó nhằm bao gồm cả chồng, vợ, con cái, nô lệ, và cả những người trưởng thành tự do. Như vậy hầu chắc là các em bé được bao gồm ở đây, nhưng điều này không bao giờ được chứng thực cách riêng.

Điều đáng nói hơn, đó là người Công Giáo không nhìn Phép Rửa chỉ như một quyết định cá nhân của người trưởng thành. Cha mẹ cho con cái mình nhận Phép Rửa để chúng có thể lớn lên trong đức tin mà cha mẹ ước ao chuyển thông cho chúng. Dĩ nhiên, một lúc nào đó Phép Rửa của người ta phải được đảm nhận (hay được xác nhận) một cách ý thức để đức tin đích thực có thể lớn lên. Người Công Giáo vì thế không coi nhẹ nhu cầu phải có một quyết định và sự dấn thân cá nhân đối với đức tin của mình.

Hỏi:  Tại sao người Công Giáo không phải là những Kitôhữu “được sinh lại”?

Sở dĩ có câu hỏi này thường là vì người ta nghĩ rằng người Công Giáo không thực sự là những Kitôhữu do bởi không chấp nhận Chúa Giêsu là Đấng Cứu Độ duy nhất của cá nhân mình, không xem mình là “được sinh lại”, không sử dụng Thánh Kinh, vv… Bất chấp những tố cáo của những người theo chủ nghĩa cơ yếu, người Công Giáo vẫn thực sự là những Kitôhữu. Một cách căn bản, Kitôhữu là bất cứ ai theo Đức Giêsu Kitô và sứ điệp của Người. Nhờ Phép Rửa của chúng ta và qua việc cố gắng biến các giáo huấn của Đức Giêsu thành hành động, người Công Giáo không kém “Kitôhữu” hơn bất cứ  ai khác bước theo Chúa Giêsu.

Dĩ nhiên, đức tin liên quan tới nhiều thứ hơn chứ không chỉ là một sự chấp nhận bằng môi miệng. Những người theo chủ nghĩa cơ yếu lấy ý niệm “được sinh lại” làm trung tâm của đức tin của họ. Người Công Giáo không chống ý niệm về việc được sinh lại. Đành rằng đó là một phần thuộc giáo huấn của Đức Giêsu trong Tin Mừng Gioan, song cần ghi nhận xem ý tưởng này được Tân Ước đề cập đến thường xuyên tới mức độ nào. Chúng ta nên khảo sát bản văn nòng cốt (Ga 3,3-6) kỹ lưỡng hơn một chút.

Khi Đức Giêsu bảo Nicôđêmô rằng ông ta phải “được sinh lại” (Hy ngữ: anõthen), Người đang chơi chữ. Chữ ấy vừa có nghĩa “từ trên cao” vừa có nghĩa “lại, lần nữa”. Trong thế giới quan của Gioan, Đức Giêsu là Đấng đã đến “từ trên cao” (thiên quốc), và Người sẽ trở về đó, và cuối cùng Người sẽ qui tụ tất cả các môn đệ của Người ở đó. Đức Giêsu xuống thế giới này để cho thấy những giới hạn của thế giới và lôi cuốn sự quan tâm đến thế giới trên cao. Nicôđêmô không hiểu câu nói ấy, tưởng rằng mình phải chui trở vào bụng mẹ để được sinh lại! Như vậy ý niệm được sinh lại “lần nữa” thực ra là một sự hiểu lầm. Chúa Giêsu có ý nói rằng Nicôđêmô phải được sinh lại cách mới mẻ, tinh khôi, với ánh sáng đức tin vào Chúa Giêsu. Người tiếp tục gắn kết ý niệm đó với việc sinh lại “bằng nước và Thánh Thần”, một ám chỉ rõ ràng đến Phép Rửa. Vì thế, được sinh lại “từ trên cao” bao gồm việc được Rửa tội và đón nhận đức tin vào Đức Giêsu Kitô. Thật đáng ngạc nhiên, đa số những người theo chủ nghĩa cơ yếu không hề nối kết các ý niệm về Phép Rửa và hoán cải, bất chấp chứng cứ Thánh Kinh cho thấy rõ ràng sự nối kết đó.

Người Công Giáo có thể chấp nhận ý niệm “được sinh lại” theo nghĩa rằng đức tin đòi hỏi mình phải không ngừng hoán cải, không ngừng trở về với Đức Giêsu Kitô. Điều này có nghĩa rằng phải lấy đời sống tâm linh (sự sống trên cao) làm ưu tiên trên đời sống trần tục (sự sống ở dưới thấp). Mặc dù người Công Giáo chấp nhận Phép Rửa như là biến cố của một thời điểm, họ không tin rằng việc hoán cải của người ta có thể được rút lại chỉ tại một điểm nào đó của thời gian hay không gian, khi người ta “được sinh lại”. Đúng hơn, chúng ta có thể nói rằng chúng ta cần được sinh lại mãi. Người Công Giáo xem việc hoán cải là một tiến trình kéo dài không ngừng suốt cuộc sống. Ân sủng của Thiên Chúa đôi khi có thể tác động đặc biệt mãnh liệt trên đời sống một con người và tạo ra một biến chuyển rất ngoạn mục, nhưng kinh nghiệm thông thường cho thấy đa số người ta trải qua một tiến trình biến chuyển từ từ, chậm rãi trong đời sống của mình vì ân sủng của Thiên Chúa làm việc từ từ để chuyển hóa họ trở thành những con người tốt hơn.[4]

Hỏi:   Tại sao người Công Giáo tin rằng họ có thể đạt được ơn cứu độ bằng cách làm các việc thiện?

Người Công Giáo không tin rằng họ có thể đạt được ơn cứu độ bằng cách làm các việc lành. Ít nhất, những người Công Giáo sáng suốt sẽ không nghĩ thế! Quan điểm này thường bị hiểu lầm. Trong quá khứ, một số các thực hành của Giáo Hội đã lung lạc người ta, làm họ tin rằng họ có thể một cách nào đó “tóm bắt” được ơn cứu độ. Đây là một trong những mối quan tâm của Martin Luther hồi thế kỷ 16 khi ông kêu gọi sự cải cách trong Giáo Hội. Nhưng giáo huấn Công Giáo chính thức nhìn nhận rằng ơn cứu độ là một ân huệ cho không của Thiên Chúa, được thực hiện một lần thay cho tất cả bởi cuộc nhập thể, cuộc khổ nạn, cái chết và sự Phục Sinh của Đức Giêsu Kitô. Không ai có thể đạt được ơn cứu độ bằng cách làm các việc lành. Thay vào đó, các việc lành của chúng ta cho thấy rằng chúng ta đang biến đức tin thành hành động.

Về phần mình, những người theo chủ nghĩa cơ yếu nhấn mạnh quá mức đến giáo huấn Thánh Kinh về việc tuyên xưng Đức Giêsu là Cứu Chúa của mình đến độ không quan tâm đủ đến các giáo huấn khác của Tân Ước. Thư Giacôbê rõ ràng kêu gọi người ta biến đức tin thành hành động, vì lời nói mà không đi đôi với việc làm thì chỉ rỗng tuếch mà thôi (2,14-22). Về phần mình, người Công Giáo chúng ta nên cẩn trọng để không trao ấn tượng cho những người không Công Giáo rằng chúng ta tin mình sẽ chiếm được chỗ trên thiên đàng bằng những gì mình nói hay làm. Đó là lạc giáo Pelagianism ngày xưa, gọi theo tên của Pelagius, một tu sĩ người Anh vào thế kỷ thứ 5 dạy rằng con người có thể làm việc để đạt ơn cứu độ mà không cần đến ân sủng thiêng liêng. Giáo Hội nhận thấy chủ trương này hoàn toàn không thể được chấp nhận và đã lên án Pelagius và giáo huấn của ông.

Hỏi:   Tại sao người Công Giáo xưng tội với một linh mục trong khi chỉ một mình Thiên Chúa mới có quyền tha tội?

Người Công Giáo không xưng thú tội lỗi của họ với vị linh mục. Họ xưng tội với Thiên Chúa. Vị linh mục là một phương tiện chuyên chở, một trung gian, một người giúp cho hối nhân giải quyết tình trạng tội lỗi của mình. Chính Thiên Chúa là Đấng tha thứ cho tội nhân qua lời xá giải được nói lên bởi vị linh mục. Giáo Hội Công Giáo cũng tin rằng chỉ Thiên Chúa mới có quyền tha tội (dù chúng ta được kêu gọi tha thứ cho nhau, như lời Kinh Lạy Cha diễn tả rõ ràng), nhưng chúng ta cũng tin rằng con người chúng ta thường dễ mơ hồ nếu không có cách thức cụ thể để đương đầu với tình trạng tội lỗi của mình. Việc sử dụng một trung gian để giúp người ta trong tiến trình này sẽ đảm bảo một thái độ khách quan và ngăn ngừa khả năng bưng bít các tội lỗi. Người Công Giáo tìm thấy các gốc tích của Bí Tích Hòa Giải trong Thánh Kinh (Ga 20,22-23, “Anh em tha tội cho ai, thì …”), nhưng chúng ta cũng nhìn nhận rằng việc thực hành xưng tội cá nhân đã thành hình khá muộn trong lịch sử Giáo Hội, dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Đối với người Công Giáo, hòa giải là một bí tích, một dấu hiệu hữu hình của ân sủng Thiên Chúa tác động trong thế giới và thứ tha tội lỗi.

Hỏi:   Người Công Giáo nghĩ gì về sự kiện “được chụp bắt và đem đi”?

Người Công Giáo không chấp nhận ý niệm “được chụp bắt và đem đi”. Ý niệm ấy thực ra không được tìm thấy trong Thánh Kinh, dù những người theo chủ nghĩa cơ yếu khẳng định như vậy. Đó là một giải thích cho một bản văn trong 1Thêxalônica trong đó Phaolô mô tả cách sinh động một chuỗi sự kiện xung quanh cuộc xuất hiện lần thứ hai của Chúa (4,16-17). Từ “được chụp bắt và đem đi” (có gốc ở La ngữ: rapere, “nắm, chụp bắt”) phát xuất từ mô tả của Phaolô rằng chúng ta sẽ được “chụp bắt” khi Chúa đến lần thứ hai, lúc mà người chết được sống lại trong sự sống mới trên thiên quốc. Giáo thuyết này của chủ nghĩa cơ yếu có nguồn gốc từ quyển The Scotfield Reference Bible, nơi nó được trình bày lần đầu tiên. Về sau, nó được giải thích chi tiết và được mở rộng. Những người theo chủ nghĩa cơ yếu thường phát minh ra những mô tả rất tỉ mỉ về cách mà các biến cố cánh chung xảy ra. Bản văn của Phaolô được sử dụng để hỗ trợ cho niềm tin vào sự kiện “được chụp bắt và đem đi” xem ra mập mờ và nằm trong bối cảnh rộng lớn của giáo huấn Phaolô về sự sống lại của kẻ chết. Nó sử dụng những hình ảnh tưởng tượng vốn có tính khải huyền (tiếng gọi của tổng lãnh thiên thần, tiếng vang của kèn đồng, Chúa đến trên các tầng mây) – những hình ảnh này không hề có ý nói rằng đó là một chuỗi những bước lần lượt nối tiếp nhau đưa người ta lên trời. Phaolô không nhằm đưa ra một tiên báo về tiến trình ấy theo nghĩa đen (dù trong bối cảnh lịch sử thời ngài, cũng có thể là ngài hiểu như thế), nhưng là ngài muốn bảo đảm với các tín hữu Thêxalônica rằng Chúa đang đến và họ sẽ được đưa lên trong vinh quang.

Trong khi người Công Giáo bác bỏ ý niệm “được chụp bắt và đem đi”, họ vẫn giữ vững một niềm kỳ vọng quang lâm (Hy ngữ:parousia, “sự đến”), mong đợi Đức Kitô đến lần thứ hai. Người Công Giáo không dệt giả thuyết về thời điểm chung cuộc hay về tiến trình nối tiếp của các biến cố, hoặc về thời gian hay cách thức mà biến cố thế mạt sẽ diễn ra.

Thay vào đó, người Công Giáo chủ trương một niềm kỳ vọng rộng rãi hơn rằng Thiên Chúa sẽ hành động một cách dứt khoát để thiết lập Vương Quốc vĩnh cửu vào thời gian và bằng những cách thức của riêng Ngài. Đồng thời, người Công Giáo kiên vững trong đức tin của mình và không ngừng sửa soạn trong niềm lạc quan hy vọng về chiến thắng chung cục của Thiên Chúa trên sự dữ.

KẾT LUẬN

Trên đây chắc chắn không phải là những câu hỏi duy nhất mà người Công Giáo đối diện khi họ gặp gỡ các thân hữu theo chủ nghĩa cơ yếu, nhưng đó là những câu hỏi thường gặp nhất. Tôi không đơn sơ nghĩ rằng những cách trả lời như đã trình bày sẽ thuyết phục một người cơ yếu từ bỏ quan điểm của họ và chấp nhận lôgíc của nhãn quan Công Giáo. Mới đây, tại một cuộc hội thảo, cử tọa đã nêu nhiều câu hỏi liên quan đến những chống đối từ phía những người theo chủ nghĩa cơ yếu nhắm vào đức tin Công Giáo, và tôi đã phác họa những câu trả lời cho các câu hỏi ấy. Một tham dự viên nêu thắc mắc rằng tại sao những người cơ yếu không bị thuyết phục bởi lập luận của tôi. Anh ta nhận xét rằng lập luận của tôi hoàn toàn có lý và có sức thuyết phục. Nhưng, lôgic của người này thì không luôn luôn trong suốt đối với người kia. Những người theo chủ nghĩa cơ yếu là những người rất cuồng nhiệt. Họ có những xác tín cứng nhắc được xây dựng chặt chẽ qua thời gian và được chọn lựa một cách hoàn toàn ý thức. Chỉ lập luận với họ thôi, dù lập luận có hợp lý và nhã nhặn đến mấy, cũng không luôn luôn có sức làm họ thay đổi. Điều tốt nhất mà chúng ta có thể hy vọng, đó là chúng ta có một lòng nhiệt thành không kém họ, cắm rễ trong một đức tin vững chắc, được nâng đỡ bởi một cách tiếp cận Thánh Kinh có nền tảng – để những người theo chủ nghĩa cơ yếu nhìn nhận rằng người Công Giáo cũng là những Kitôhữu rất tận tâm.

Đối với những bạn đọc nào muốn tìm hiểu xa hơn nữa về chủ đề này, thư mục tham khảo sau đây sẽ hữu ích để giúp bước vào cuộc nghiên cứu sâu hơn về hiện tượng chủ nghĩa cơ yếu và về những gì mà người Công Giáo có thể làm để ứng phó với chủ nghĩa này. Tuy nhiên, việc đầu tiên và quan trọng nhất là phải gần gũi với Thánh Kinh. Như Thánh Thần đã nói với Thánh Augustinô thuở nào những tiếng nói đã đưa ngài vào con đường hoán cải:

– “Tolle lege

Hãy cầm Sách Thánh lên và hãy đọc. Sách Thánh sẽ biến đổi cuộc đời bạn.

Ronald D. Witherup, S.S.

Lê Công Đức Chuyển ngữ

[1] Chẳng hạn, Karl Keating, Catholicism and Fundamentalism, San Francisco: Ignatius Press, 1988; Scott and Kimberly Hahn,Home Sweet Rome: Our Journey to Catholicism, San Francisco: Ignatius Press, 1993; và Philip St. Romain, Respuestas Católicas a Preguntas Fundamentalistas, Liguori, Mo.: Liguori Press, 1987.

[2] A Pastoral Statement for Catholics on Biblical Fundamentalism, 7-8

[3] Từ La ngữ, có nghĩa đen là “trên ngai tòa” (thuộc thẩm quyền). Trong truyền thống Do thái cổ, các giáo huấn có thẩm quyền đều được ban ra từ trên ngai tòa.

[4] Để có một giải thích đầy đủ hơn về giáo huấn của Tân Ước đối với sự hoán cải, xin xem thêm Ronald D. Witherup, Conversion in the New Testament, Collegeville: The Liturgical Press, 1994

 

Tác giả: Ronald D. Witherup, S.S.

THƯ MỤC THAM KHẢO THÊM

Về Chủ Nghĩa Cơ Yếu

-Barr, James. Beyond Fundamentalism. Philadelphia: Westminster, 1984.

-Barr, James. Fundamentalism. Philadelphia: Westminster, 1978.

-Boone, Kathleen C. The Bible Tells Them So: The Discourse of Protestant Fundamentalism. Albany, N.Y.:State University of New York Press, 1989.

-Brown, Raymond E. “Biblical Fundamentalism: How Should Catholics Respond?” St. Anthony Messenger 98 (1990) 11-15.

-Brown Raymond E. Responses to 101 Questions on the Bible. New York/Mahwah, N.J.: Paulist, 1990 (especially pp. 43-48, 137-42).

-Cohen, Norman J. (ed.). The Fundamentalist Phenomenon. Grand Rapids, Mich.: Eerdmans, 1990.

-Falwell, Jerry (ed.), with Ed Dobson and Ed Hindson. The Fundamentalist Phenomenon: The Resurgence of Conservative Christianity. 2nd. ed. Garden City, N.Y.: Doubleday, 1986.

-Gilles, Anthony E. Fundamentalism: What Every Catholic Needs To Know. Cincinnati: St. Anthony Messenger, 1984.

-Hoppe, Leslie J. “Premillennial Dispensationalism: Fundamentalism’s Eschatological Scenario.” Chicago Studies 34/3 (1995) 222-35.

-LaVerdiere, Eugene. Fundamentalism: A Pastoral Concern. Collegeville: The Liturgical Press, 2000.

-Marsden, George M. Fundamentalism and American Culture: The Shaping of Twentieth Century Evangelicalism 1870-1925. New York: Oxford University, 1980.

-Marsden, George M. (ed.). Fundamentalism and Evangelicalism. Modern American Protestantism and Its World, vol. 10. Munich/New York: K.G. Saur, 1993.

-Marsden, George M. (ed.). Understanding Fundamentalism and Evangelicalism. Grand Rapids, Mich.: Eerdmans 1991.

-Marty, Martin E. “Fundamentals of Fundamentalism”. InFundamentalism in Comparative Perspective. Lawrence Kaplan (ed.). Amherst, Mass: University of Massachusetts, 1992, 15-23.

-Marty, Martin E. and R. Scott Appleby. The Fundamentalisms Project. 5 vols. Chicago: University of Chicago.

            vol. 1: Fundamentalisms Observed. 1991.

            vol. 2: Fundamentalisms and Society: Reclaiming the

                       Sciences, the Family, and Education. 1993.

            vol. 3: Fundamentalisms and the State: Remaking

                       Politics, Economics, and Militance.1993.

            vol. 4: Accounting for Fundamentalisms: The Dynamic

                        Character of Movements. 1994.

            vol. 5: Fundamentalisms Comprehended. 1995.

-New Theology Review 1:2 (1998); entire issue devoted to fundamentalism.

-O’Meara, Thomas F. Fundamentalism: A Catholic Perspective. New York/Mahwah, N.J.: Paulist, 1990.

-A Pastoral Statement for Catholics on Biblical Fundamentalism. Washington, D.C.: NCCB/USCC, 1987 (English and Spanish).

-Pontifical Biblical Commission. The Interpretation of the Bible in the Church. Boston: St. Paul Books & Media, 1993.

-Witherup, Ronald D. A Catholic Response to Biblical Fundamentalism. Audio tape. Cincinnati: St. Anthony Messenger, 2000.

-Witherup, Ronald D. “Catholicism and Fundamentalism.” The Bible Today 32/1 (1994) 46-50.

-Witherup, Ronald D. “Overview to The Interpretation of the Bible in the Church.” The Bible Documents. Chicago: Liturgy Training Publications, 2001, 122-28.

-Witherup, Ronald D. “Is There a Catholic Approach to the Bible?” The Priest 51/2 (1995) 29-35.

-Witherup, Ronald D. “The Use and Abuse of the Bible,” Scripture from Scratch NO899. Cincinnati: St. Anthony Messenger, 1999.

-Witherup, Ronald D. “Wrestling with the Rapture.” Chicago Studies 34/3 (1995) 251-61.

 Về Nghiên Cứu Thánh Kinh Nói Chung

-Bergant, Dianne, et al. (ed.). The Collegeville Bible Commentary. Collegeville: The Liturgical Press, 1989.

-Brown, Raymond E. Biblical Exegesis & Church Doctrine. New York/Mahwah, N.J.: Paulist, 1985.

-Brown, Raymond E. The Critical Meaning of the Bible. New York/Ramsey: Paulist, 1985.

-Brown, Raymond E., Joseph A. Fitzmyer, and Roland E.Murphy (ed.). The New Jerome Biblical Commentary.Englewood Cliffs, N.J.: Prentice-Hall, 1990 (especially articles ## 19, 65, 66, and 72).

-Coogan, Michael D. et al. (eds.). The New Oxford Annotated Bible. 3rd ed. New York: Oxford University Press, 2001.

-Kee, Howard C., et al. The Cambridge Companion to the Bible. New York: Cambridge  University Press, 1997.

-Meeks, Wayne A., et al. (eds.). The HarperCollins Study Bible. New York: HarperCollins, 1993.

-Senior, Donald, et al. (eds.). The Catholic Study Bible. New York: Oxford University Press, 1990.

-Witherup, Ronald D. The Bible Companion. New York: Crossroad, 1998.

       *… Ít có tài liệu mục vụ nào đáng nồng nhiệt đón nhận hơn tập sách này. Bất cứ ai đã từng bị lúng túng với chủ nghĩa cơ yếu Thánh Kinh – tại giáo xứ, trong gia đình, hay ở sở làm – sẽ thích thú tìm thấy nơi đây một cách tiếp cận vừa rộng vừa sâu sắc và đầy nhạy cảm mục vụ đối với vấn đề. Bạn đọc Công Giáo sẽ gặp thấy ở đây những gì bao hàm trong chủ nghĩa cơ yếu, nó khác biệt thế nào với giáo huấn Công Giáo, và những cách để ứng xử với những người theo chủ nghĩa này sao cho phù hợp với tinh thần Kitô giáo.

– Donald Senior, C.P. – Catholic Theological Union

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s