Thử đánh giá Chủ nghĩa cơ yếu Thánh Kinh (4)

VRNs (14.03.2015) – Sài Gòn – Sau khi đã lược qua các phương pháp tiếp cận Thánh Kinh theo chủ nghĩa cơ yếu và theo Công Giáo, chúng ta đã có khá đủ điều kiện để nhận định các điểm mạnh và nguy hiểm của chủ nghĩa cơ yếu. Như tôi đã cảnh báo trong lời dẫn nhập, chúng ta nên cố gắng đưa ra một phán đoán vừa công bằng vừa khách quan hết sức có thể. Chúng ta sẽ bắt đầu bằng cách trước hết phân tích tại sao trong thực tế chủ nghĩa cơ yếu đang hấp dẫn nhiều người hôm nay đến thế.

 150309004

Tại Sao Chủ Nghĩa Cơ Yếu Có Nhiều Sức Hấp Dẫn? 

Chúng ta không có sẵn những con số chính xác để xác định mức ảnh hưởng của chủ nghĩa cơ yếu Thánh Kinh. Các nhà xã hội học cho thấy rằng chủ nghĩa này đang trên đà lụi tàn. Thật thú vị, vào tháng 10 năm 2000, cựu Tổng Thống Hoa Kỳ Jimmy Carter công khai tuyên bố việc ông rời bỏ phái Báp-tít miền Nam, vì các giáo thuyết quá khắc nghiệt. Cách riêng, ông chỉ ra sự bất lực trong việc đi vào một cuộc đối thoại trong tinh thần kính trọng với những người bất đồng, những hạn chế của chủ nghĩa cơ yếu đối với vai trò của phụ nữ trong Giáo Hội và trong xã hội, và việc chú giải Thánh Kinh quá theo sát mặt chữ. Hành động này của Jimmy Carter có tính biểu tượng cho cuộc đấu tranh đang diễn ra trong nội bộ phái Báp-tít miền Nam mấy năm trở lại đây giữa cánh cực đoan và cánh ôn hòa. Tuy nhiên, các cộng đoàn những người theo chủ nghĩa cơ yếu dường như vẫn đang nở rộ tại nhiều nơi trên thế giới, nhất là ở Phi Châu và Nam Mỹ – và các cuộc thảo luận chính trị quan trọng ở Mỹ cũng cho thấy rằng những người cơ yếu vẫn còn giữ một ảnh hưởng đáng kể trong giới chính khách bảo thủ. Điều không thể phủ nhận, đó là chủ nghĩa cơ yếu có một sức hấp dẫn nào đó. Nhiều người, gồm cả người Công Giáo, trở nên ưa thích cách tiếp cận Thánh Kinh của chủ nghĩa cơ yếu vì nhiều lý do khác nhau, gồm cả những lý do tâm lý, xã hội và tôn giáo.

(1) Một nét hấp dẫn của chủ nghĩa cơ yếu Thánh Kinh, đó là chính bản thân Thánh Kinh. Sự ngưỡng mộ đối với Thánh Kinh của những người cơ yếu thật đáng thán phục. Nó cũng giống như sự hấp dẫn mà một số người ngoại giáo cổ thời cảm nhận khi họ nhìn thấy người Do thái ngưỡng mộ các Sách Thánh; họ gọi người Do Thái là “dân tộc của Quyển Sách”. Những người cơ yếu đọc Thánh Kinh hằng ngày, nhớ vanh vách nhiều đoạn văn, nghiên cứu khá kỹ, và chia sẻ với nhau suy nghĩ của mình về các bản văn ấy, sự kiện ấy có thể có sức lôi cuốn đối với những ai cảm thấy rằng cộng đoàn đức tin của mình không lưu tâm nuôi dưỡng phương diện này của đức tin. Tôi được biết nhiều người Công Giáo đã tham gia các nhóm học hỏi Thánh Kinh của những người theo chủ nghĩa cơ yếu bởi vì đó là khả năng chọn lựa duy nhất của họ.

Mặc dù nhiều người Công Giáo khao khát hiểu biết Thánh Kinh, việc học hỏi Thánh Kinh có qui củ không luôn luôn có sẵn đó cho họ. (Thế nhưng, trong khi đó, nhiều vị mục tử lại nản lòng khi mở những lớp Thánh Kinh cho người lớn và nhận ra chẳng mấy người Công Giáo chịu tham dự!) Nhiều giáo xứ Công Giáo, cách riêng, chẳng tạo mấy cơ hội cho các tín hữu học hỏi Thánh Kinh một cách bài bản. Không giống như đa số các Giáo Hội Tin Lành, Giáo Hội Công Giáo không thành công trong việc giúp cho các tín hữu của mình có thói quen đọc và cầu nguyện bằng Thánh Kinh hằng ngày. Đành rằng người Công Giáo cũng được khuyến khích đọc và cầu nguyện bằng Thánh Kinh, nhất là qua việc chuẩn bị trước các bài đọc trong Thánh Lễ. Nhưng thực tế là việc sử dụng Thánh Kinh chưa trở thành chất sống hằng ngày đối với  nhiều người Công Giáo.

(2) Một hấp dẫn khác nữa của chủ nghĩa cơ yếu, đó là cách tiếp cận đức tin của những người theo chủ nghĩa cơ yếu cho thấy một khía cạnh cá nhân của đức tin – khía cạnh này vốn thường thiếu bên Công Giáo. Người ta có thể cảm nhận Chúa Giêsu là Chúa và là Đấng Cứu Độ cách riêng của cá nhân họ. Tình yêu của Thiên Chúa đối với cá nhân người ta mãnh liệt đến nỗi Thiên Chúa sai Con Một của Ngài đến làm Đấng Cứu Độ cho người ấy, ý tưởng này có sức an ủi lớn lao trong một thế giới mà các cá nhân có thể cảm thấy bị bỏ rơi và hụt hẫng. Ý niệm rằng Đức Giêsu Kitô đã chết cho tôi là một ý niệm rất thâm sâu. Nó có sức xoa dịu và củng cố nghị lực. Thế nhưng đức tin Công Giáo, cách riêng, nhấn mạnh đến chiều kích cộng đoàn của ơn cứu độ đến mức khía cạnh cá nhân có thể bị bỏ mất. Đòi hỏi phải có một quyết định cá nhân trong việc chọn lựa Đức Giêsu, đó có thể là một thách đố đầy hấp dẫn đối với một người đang mong ước đào sâu đức tin của mình.

Hơn nữa, từ một góc nhìn xã hội học, sự nhấn mạnh của những người theo chủ nghĩa cơ yếu đối với đức tin của cá nhân rất ăn khớp với trào lưu cá nhân chủ nghĩa của người Mỹ. Nó không chỉ nhấn mạnh trách nhiệm cá nhân, song nó còn trao cho cá nhân một cảm thức rõ hơn về tự do và tự trị. Khi cá nhân người ta quyết định theo Đức Giêsu, quyết định đón nhận sứ điệp của Tin Mừng, và quyết định sống một đời sống đạo đức trung thực, họ có được một cảm thức về mục đích và ý nghĩa trọn vẹn của cuộc đời.

Chiều kích cá nhân này có thể gây hoang mang cho một số người Công Giáo. Đôi khi, có những người Công Giáo hỏi tôi rằng làm sao trả lời những câu hỏi của những người theo chủ nghĩa cơ yếu như: “Bạn có tin Chúa Giêsu Kitô là Chúa và là Đấng Cứu Độ của riêng bạn không?” Câu trả lời của tôi rất đơn giản. Dĩ nhiên chúng ta, những người Công Giáo, có thể trả lời câu hỏi ấy một cách khẳng định. Chúa Giêsu Kitô là Chúa và là Đấng Cứu Độ của cá nhân mỗi người chúng ta đấy chứ. Nhưng câu tuyên bố có tính định thức này không phải là cứu cánh nơi tự thân nó. Chúng ta đi xa hơn nữa để thêm rằng ơn cứu độ được nhắm đến cho một cộng đoàn chứ không phải chỉ cho những cá nhân riêng rẽ mà thôi. Đức Giêsu đã qui tụ một nhóm môn đệ xung quanh Người và dạy họ cầu nguyện với nhau. Người không chỉ gọi họ một cách cá nhân. Họ trở thành hạt nhân của một cộng đoàn mới, một cộng đoàn các môn đệ. Chúng ta tin rằng Giáo Hội là một phần thiết yếu của đức tin mà Chúa Giêsu mời gọi chúng ta đón nhận, nhưng đồng thời chúng ta không phủ nhận sự thách đố cá nhân gắn liền với đức tin ấy. Chúng ta cố gắng đặt nó vào đúng bối cảnh cộng đoàn của nó.

Một khía cạnh khác nữa trong chiều kích cá nhân này của đức tin Công Giáo thường có thể dễ dàng bị bỏ qua, đó là việc chúng ta cử hành Bí Tích Thêm Sức. Trong những thập niên theo sau Vatican II, Bí Tích Thêm Sức đã trở thành chủ đề của nhiều tranh luận. Gần đây hơn, người ta nhấn mạnh nhu cầu đảm nhận đức tin cá nhân tại một lúc nào đó trong cuộc sống. Phép Rửa hồi còn bé không làm cho người ta trở thành một thành viên tốt của Giáo Hội nếu sự dấn thân ban đầu ấy không được củng cố, nuôi dưỡng và đúc nặn bởi một cam kết cá nhân của người trưởng thành. Khi chúng ta, trong tư cách là những con người mới lớn lên, được đóng ấn đức tin trong Chúa Thánh Thần, chúng ta được yêu cầu đảm nhận trách nhiệm đối với đức tin của mình. Chúa Giêsu đang kêu gọi chúng ta, và chúng ta được yêu cầu đáp trả tiếng gọi của Người. Có một chiều kích cá nhân mạnh mẽ trong đức tin Công Giáo, nhưng đôi khi chiều kích này bị phủ lấp mất bởi những yếu tố khác.

(3) Nét hấp dẫn thứ ba nơi chủ nghĩa cơ yếu là sự nhấn mạnh việc kinh nghiệm Thiên Chúa cách trực tiếp nhờ đức tin. Điều này càng hấp dẫn trong một xã hội mà chủ nghĩa cá nhân và sự tự do được đề cao. Theo một nghĩa nào đó, những người theo chủ nghĩa cơ yếu phát triển một tôn giáo có tính rất riêng tư. Việc nghĩ rằng chúng ta không cần bất cứ một thẩm quyền bên ngoài nào để đón nhận thánh ý Thiên Chúa có sức “tăng lực” lớn lao đối với các cá nhân. Những người theo chủ nghĩa cơ yếu phát triển một loại tôn giáo chỉ có “Thiên-Chúa-và-tôi” hay “Chúa-Giêsu-và-tôi”. Chỉ cần tôi mở Thánh Kinh ra, Thiên Chúa sẽ nói trực tiếp với tôi một cách rõ ràng sáng tỏ không thể lầm lẫn gì được. Con đường cá nhân chủ nghĩa này cũng hỗ trợ  cho khuynh hướng ‘chống cơ chế’ của thời nay. Cần gì đến một Giáo Hội hay các linh mục hay những chuyên viên bên ngoài nếu Lời Thiên Chúa có sẵn đó cho ta nghe tùy thích? Việc học hỏi Thánh Kinh theo nhóm cũng có thể đáp ứng cho viễn tượng này. Cách tiếp cận của chủ nghĩa cơ yếu nhấn mạnh rằng các Sách Thánh là nhằm cho tôi. Ý nghĩa của một bản văn đối với tôi tại thời điểm cụ thể này trong đời tôi là tiêu chuẩn tối thượng để nhận ra thánh ý Thiên Chúa. Thật hấp dẫn biết bao việc có một đường dẫn mình trực tiếp tới thánh ý Thiên Chúa để nhận ra Ngài muốn gì cho đời mình!

(4) Đối với nhiều người, một sức hấp dẫn lớn của chủ nghĩa cơ yếu trước hết thuộc lãnh vực tâm lý. Nó cung cấp sự an toàn và sự chắc chắn trong một thế giới ngày càng bất an và bất ổn. Nhìn từ bên trong, chủ nghĩa cơ yếu là một chiếc túi chứa những câu hỏi và những câu trả lời. Nó có thể cung ứng sự dễ chịu về tâm lý cho những ai không thể hay không sẵn sàng đương đầu với những rắc rối, những hàm hồ của cuộc sống và những sự chọn lựa phải được thực hiện trong nhịp sống hằng ngày. Khi người ta đón nhận cách tiếp cận của chủ nghĩa cơ yếu, người ta nhận được một thế giới quan đại loại như: “Đừng lo, Thiên Chúa sẽ lo liệu. Mọi sự có vẻ đang tuột dốc, nhất là về luân lý, nhưng Thiên Chúa sẽ điều chỉnh tất cả.” Không ai có thể phủ nhận bước biến chuyển nhanh chóng của đời sống hiện đại và hệ quả của nó  đối với xã hội tiêu thụ của chúng ta. Cuộc sống thật náo nhiệt và lộn xộn, và sự thay đổi đang diễn ra với một tốc độ ngày càng tăng. Chỉ trong lãnh vực y khoa thôi, con số các câu hỏi về vấn đề đạo đức đang nổi lên thật choáng ngợp. Những vấn đề về kỹ thuật di truyền, về sinh sản vô tính, về sự quản lý cả việc thụ thai lẫn việc chấm dứt sự sống, về săn sóc sức khỏe, vv… đang nổi lên với nhịp độ xem chừng không thể bắt kịp. Ở đâu người ta sẽ tìm được cảm giác yên ổn và sự hướng dẫn bên trong trong một thế giới lao tới vun vút từng ngày? Ở đâu người ta sẽ tìm thấy một la bàn vững chắc để hướng dẫn họ đi qua đại dương đầy bão tố quay cuồng của cuộc sống hiện đại?

Khi người ta đề cập đến tất cả các lãnh vực mà trong đó những vấn đề đạo đức nổi lên (đời sống gia đình, hôn nhân và li dị, công việc làm ăn, việc sử dụng internet, năng lượng hạt nhân, chạy đua vũ trang, án tử hình, sự lan tràn của những căn bệnh truyền nhiễm, vv…), thì người ta cảm thấy thật vô cùng khủng khiếp! Vì thế, một hệ thống mà trong đó có một số nguyên tắc căn bản thiết chế tất cả các quyết định – chẳng hạn quyết định về các vấn đề sống và chết – sẽ cung cấp một giải pháp đầy hấp dẫn giữa vô số khả năng chọn lựa rối rắm trong thế giới hiện đại. Chủ nghĩa cơ yếu cũng hấp dẫn bởi vì nó tránh được tính phức tạp và hàm hồ của nhiều câu hỏi thời đại. Một đời sống được sống theo những sự chọn lựa giữa chỉ hai đường (hoặc đường này hoặc đường kia) thì dễ chịu hơn một đời sống đòi người ta phải nắm hiểu hết tính rắc rối của một vấn đề để có thể đưa ra một sự chọn lựa đúng đắn. Những vùng tối là những bãi lầy nguy hiểm cần phải tránh. Chủ nghĩa cơ yếu giúp người ta tránh được sự hàm hồ. Nó vạch ra những đường ranh và những đích nhắm rõ rệt – và vì thế nó giúp người ta đương đầu được với đời sống hiện đại.

(5) Cũng có một lý do xã hội học nữa liên quan tới sức hấp dẫn của chủ nghĩa cơ yếu. Các nhà xã hội học chỉ ra hiện tượng những nhóm mạnh và những nhóm yếu trong xã hội. Có lẽ một lý do cho sự lôi cuốn mạnh mẽ của chủ nghĩa cơ yếu trong một thế giới đang thay đổi đầy phức tạp, đó là chủ nghĩa này biểu lộ những đặc tính của một nhóm “mạnh”. Một học giả đã tổng hợp được 6 đặc tính: (a) tính dấn thân triệt để; (b) tính kỷ luật; (c) tính nhiệt thành sứ mạng; (d) tính tuyệt đối; (e) tính tương hợp với một ý thức hệ; và (f) tính cuồng tín.[1] Những đặc tính này của một nhóm mạnh đối chọi trực tiếp với những nhóm “yếu” là những nhóm bộc lộ các đặc tính: tương đối, đa dạng, đối thoại, bất quyết, cá nhân chủ nghĩa, và thiếu lòng khát khao phô bày các ý tưởng của mình cho người khác.

Trong một xã hội vốn nhấn mạnh những đặc tính của các nhóm yếu, chủ nghĩa cơ yếu hẳn nhiên là đầy sức hấp dẫn. Lập trường của nó chủ yếu có tính đối nghịch văn hóa, một điều củng cố cả căn tính lẫn khuynh hướng muốn tách biệt khỏi trào lưu chính trong xã hội. Thật đáng ghi nhận rằng hiện tượng có tính xã hội học này trong đó những người nhiệt thành tôn giáo tự tách mình ra khỏi giòng văn hóa chính vẫn xảy ra suốt giòng lịch sử tôn giáo Do thái-Kitô giáo. Ngay cả trong thời của Đức Giêsu, một số người Do thái cũng bộc lộ những khuynh hướng như thế (chẳng hạn, những người Eùt-sê-nê tự ẩn mình ở Biển Chết để bảo tồn nhận thức của họ về đức tin Do thái giáo đích thực) – những người ấy có thể được xem như, ít nhất một phần, là những người có chiều hướng chủ nghĩa cơ yếu.

(6) Có một nét hấp dẫn khác nữa, đó là cảm thức cộng đoàn tồn tại giữa nhiều nhóm người theo chủ nghĩa cơ yếu. So sánh với nhiều Giáo Hội Tin Lành kỳ cựu và các giáo xứ Công Giáo, những nhóm cơ yếu rất nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nâng đỡ nhau trong cộng đoàn. Họ nhiệt tâm phát triển cảm thức thuộc về một nhóm người biết quan tâm săn sóc cho nhau theo kiểu mẫu của Giáo Hội sơ khai như được mô tả một cách lý tưởng trong Công Vụ Tông Đồ (chẳng hạn, Cv 2,43-47). Sự hấp dẫn này không đối ngược với việc nhấn mạnh chiều kích cá nhân của đức tin mà trái lại còn bổ sung cho chiều kích ấy.

Trong một số trường hợp tôi đã đích thân chứng kiến sự nâng đỡ mãnh liệt mà những người theo chủ nghĩa cơ yếu có thể cung cấp. Có một lần, tôi đã gặp thấy một cộng đoàn những người cơ yếu hết sức nhiệt tình giúp đỡ một nữ thành viên và gia đình của cô ta khi khám phá ra rằng cô ta bị bệnh ung thư ở giai đoạn cuối. Sự nâng đỡ lớn lao mà họ cung cấp cho cô ta, cả vật chất lẫn tinh thần, là một mẫu gương thực sự. Trong một trường hợp khác, tại một cộng đoàn nọ trên một hòn đảo heo hút ngoài khơi Alaska, vị mục sư thuộc phái Cộng Đoàn Của Thiên Chúa và cộng đoàn bé nhỏ của ông ta đã hết sức sốt sắng tiếp đón tất cả những ngư phủ tình cờ ghé qua. Vị mục sư và gia đình ông ta, trong hoàn cảnh nhiều khó khăn của gia đình mình, đã cung cấp thực phẩm, chỗ ở, những sự hướng dẫn cần thiết, và bất cứ điều gì mà các ngư phủ cần. Trên đảo còn có những cư dân khác cũng là Kitôhữu, nhưng chỉ có vị mục sư này bày tỏ lòng hiếu khách như vậy.

Tình thân hữu là một giá trị quan trọng nơi những người theo chủ nghĩa cơ yếu. Trong một thế giới mà nhiều người cảm thấy cô đơn và bị phũ phàng, quả thật là thú vị việc được thuộc về một cộng đoàn biết tích cực quan tâm đến các cá nhân thành viên. Nói vậy không có nghĩa rằng các cộng đoàn Giáo Hội khác không hiếu khách và không có tình thân hữu, nhưng đặc điểm này nổi bật hơn nơi cộng đoàn của những người theo chủ nghĩa cơ yếu.

Sáu yếu tố kể trên giúp giải thích, ít nhất một phần, lý do tại sao một số người cảm thấy chủ nghĩa cơ yếu có sức lôi cuốn mình. Vậy một người Công Giáo sẽ đánh giá hệ thống ấy như thế nào?

 

Có Chăng Những Khía Cạnh Tích Cực Trong Chủ Nghĩa Cơ Yếu Thánh Kinh?

Có một số khía cạnh tích cực không phải đến từ chính chủ nghĩa cơ yếu Thánh Kinh nhưng là xuất phát từ những con người gắn bó với chủ nghĩa đó.

(1) Thái độ kính trọng đối với Thánh Kinh hiểu là Lời Thiên Chúa, và thái độ sẵn sàng gán đời sống Kitôhữu của mình vào Thánh Kinh, đó là điều thật đáng thán phục nơi những người theo chủ nghĩa cơ yếu. Các Kitôhữu khác, trong đó có người Công Giáo, không tiếp cận Thánh Kinh theo cùng một cách thức như họ, song sự kiện ấy không hề phủ nhận những ý hướng tốt lành của họ. Họ cố gắng nghiêm túc trân trọng Thánh Kinh và đưa Thánh Kinh vào thực hành trong đời sống. Đó không phải là một cuốn sách lịch sử đối với họ, cũng không phải chỉ là những lời nào đó xa xưa trong quá khứ. Họ tìm gặp Lời Thiên Chúa như Lời sống động có thể dẫn dắt cuộc sống của mình.

(2) Một khía cạnh tích cực thứ hai là chiều kích cá nhân của đức tin vốn đặc điểm hóa những cộng đoàn theo chủ nghĩa cơ yếu. Họ nghiêm túc đáp trả những thách đố của Tin Mừng và làm cho đức tin của họ trở thành một quyết định cá nhân. Họ bảo vệ sự dấn thân này và nỗ lực đào sâu sự dấn thân ấy một cách thường xuyên, nhất là qua việc học hỏi Thánh Kinh. Lòng nhiệt thành đối với Tin Mừng gắn liền với quyết định cá nhân này cũng có thể rất đáng khâm phục. Đành rằng người ta có thể chất vấn phải chăng là thực sự khôn ngoan việc bước lên một chiếc bục ở ngã tư đường phố và lớn tiếng rao giảng một sứ điệp tôn giáo trong khi người qua kẻ lại vẫn hững hờ đi qua, nhưng người ta phải thán phục chứng từ đức tin cá nhân mà những người theo chủ nghĩa cơ yếu tuyên xưng.

(3) Những người cơ yếu cũng tích cực dấn thân thăng tiến đời sống gia đình tốt đẹp, lành mạnh. Cùng với nhiều người khác trong xã hội, những người theo chủ nghĩa cơ yếu tin rằng nền văn hóa Mỹ hiện đại đang xâu xé gia đình truyền thống. Li dị và tái hôn đang lan tràn. Sự bất lực trong việc dấn thân vĩnh viễn bất cứ loại nào đang phá hoại sự ổn định của đời sống hôn nhân và gia đình. Thật vậy, chính định nghĩa của một mối liên hệ hôn nhân cũng đang bị tấn công. Đời sống gia đình thường quá bận rộn, với cả người cha và người mẹ phải đi làm việc kiếm sống, đến nỗi con cái đôi khi bị bỏ bê. Giống như giáo phái Mormon và một số nhóm khác, những người theo chủ nghĩa cơ yếu Thánh Kinh nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thăng tiến đời sống gia đình. Họ quan tâm xếp đặt để dành thì giờ cho sinh hoạt gia đình. Một điều đáng tiếc là đi kèm với khía cạnh này, họ lại nhấn mạnh đến việc tổ chức vai trò của đàn ông và phụ nữ trong gia đình rập theo khuôn truyền thống cứng nhắc. Những người theo chủ nghĩa cơ yếu ủng hộ một số bản văn Tân Ước thiên về việc giới hạn các vai trò của phụ nữ trong xã hội (chẳng hạn Ep 5,22-33). Họ áp dụng các vai trò của người vợ và người chồng một cách máy móc, không tán thành việc người phụ nữ đi làm việc ngoài gia đình. Việc thăng tiến các giá trị hôn nhân và gia đình là tốt, nhưng việc qui chế hóa một số mẫu thức xã hội trong Thánh Kinh, tách ra khỏi bối cảnh lịch sử của chúng để làm chuẩn mực cho mọi thời, đó là một thực hành mà những người không theo chủ nghĩa cơ yếu sẽ tránh.

(4) Sự nhấn mạnh của chủ nghĩa cơ yếu trên trách nhiệm luân lý cá nhân cũng đáng thán phục. Trong một thời đại vốn thường có xu hướng đùn đẩy trách nhiệm cho người khác, hoặc đùn đẩy cho xã hội, thì những người theo chủ nghĩa cơ yếu kêu gọi người ta nhận trách nhiệm của cá nhân mình. Việc bảo vệ một chuẩn mực luân lý cá nhân sẽ thúc đẩy người ta sống đàng hoàng, nề nếp – điều này có sức thách đố những kẻ khác vượt qua não trạng trục lợi cách ích kỷ.

(5) Những người theo chủ nghĩa cơ yếu nhấn mạnh đến các điểm cơ yếu. Điều này có một khía cạnh tích cực. Con người thường có khuynh hướng thích những bảng giá trị ngắn gọn súc tích có thể phát triển căn tính và đặc nét của mình. Dù không hoàn toàn có lý, song thiên hướng tập chú vào một số điểm cơ yếu (là những điểm không thể nhượng bộ trong đời sống) là một thiên hướng tốt. Thật vậy, Giáo Hội đã làm thế qua bao thế kỷ, với những định thức tín điều trong các thời đại khác nhau, những lời thề hứa được công thức hóa, những tổng hợp các niềm tin trong sách giáo lý, vv… Công Giáo cũng chấp nhận một số điều cơ yếu của đức tin không thể tranh luận. Điều quan trọng là làm sao để giữ vững một số điều cơ yếu mà vẫn không trở thành những con người cơ yếu cực đoan.

(6) Cảm thức cộng đoàn mạnh mẽ nơi những người theo chủ nghĩa cơ yếu cũng là một điểm mạnh. Việc họ lý tưởng hóa cộng đoàn Kitôhữu trong Tân Ước có thể hơi quá trớn, song họ thực sự đúng đắn khi nhấn mạnh nhu cầu phải có những cộng đoàn đức tin vững chắc và đầy tính tương trợ lẫn nhau. Không chỉ những người theo chủ nghĩa cơ yếu mới cảm nhận giá trị này, nhưng họ đặc biệt ưu tiên cho giá trị này. Nó cũng giúp cung ứng một sự quân bình nào đó cho chiều kích đức tin nặng tính cá nhân của họ.

 

Đâu Là Những Nguy Hiểm Của Chủ Nghĩa Cơ Yếu?

Bất chấp một số chiều kích tích cực trong cách mà những người theo chủ nghĩa cơ yếu Thánh Kinh sống đời sống của họ, từ một nhãn giới Công Giáo, ta sẽ nhận thấy những nguy hiểm quan trọng nơi chủ nghĩa này. Chủ nghĩa này, xét thiết yếu, không tương hợp với đức tin Công Giáo. Thật vậy, trong một tài liệu quan trọng ban hành để kỷ niệm 100 năm thông điệp của Giáo Hoàng Lêô XIII về Thánh Kinh, Ủy Ban Giáo Hoàng về Thánh Kinh đã giải thích rõ ràng những mối nguy hiểm của chủ nghĩa cơ yếu Thánh Kinh. Tài liệu nói trên của Ủy Ban, trong khi đánh giá rất tích cực nhiều phương pháp tiếp cận hiện đại đối với Thánh Kinh, thì trái lại, đã đưa ra sự đánh giá rất tiêu cực về chủ nghĩa cơ yếu:

Cách tiếp cận của chủ nghĩa cơ yếu thật rất nguy hiểm, bởi vì nó hấp dẫn đối với những người muốn tìm nơi Thánh Kinh những câu trả lời có sẵn cho các vấn đề của cuộc sống. Nó có thể đánh lừa những người như vậy, cung cấp cho họ những giải thích có vẻ đạo hạnh nhưng viển vông không thực tế, thay vì nói với họ rằng Thánh Kinh không chứa một câu trả lời trực tiếp cho riêng từng vấn đề . Chủ nghĩa cơ yếu trong thực tế dẫn người ta tới một loại tự tử về mặt tri thức. Nó tiêm vào cuộc sống một sự chắc chắn giả tạo, vì nó vô tình lẫn lộn bản chất thần linh của sứ điệp Thánh Kinh với những gì thực ra chỉ là những giới hạn của con người.[2]

Ủy Ban chỉ ra tính đơn giản hóa quá mức của chủ nghĩa cơ yếu trong việc tiếp cận cuộc sống và việc áp dụng Thánh Kinh vào cuộc sống. Hồng Y Joseph Ratzinger, tổng trưởng Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin, cũng nhận định về khuyết điểm này nơi chủ nghĩa cơ yếu tại một cuộc hội nghị về nghiên cứu Thánh Kinh hồi cuối thập niên 1980:

Chủ nghĩa cơ yếu là một mối nguy hiểm. Điều đó thật rõ ràng. Nó hoàn toàn không tương hợp với đức tin Công Giáo, vì đức tin Công Giáo giả định rằng tôi đọc Thánh Kinh trong bối cảnh của cộng đoàn đức tin và của cộng đoàn bao gồm tất cả những thế kỷ của đức tin. Như vậy, tôi đọc Thánh Kinh với Giáo Hội và với đức tin của mọi thời. Và tôi đọc Thánh Kinh một cách có suy lý, một cách có lý. Vì thế tôi phải cố tránh chủ nghĩa cơ yếu.[3]

Đọc Thánh Kinh một cách quá đơn giản hóa và tách bản văn Thánh Kinh ra khỏi bối cảnh của nó, vấn đề kép này là nguy hiểm chính yếu của chủ nghĩa cơ yếu. Khuynh hướng tự nhiên của con người muốn có những câu trả lời đơn giản, nhưng đời sống hiện đại không luôn luôn chấp nhận những giải pháp đơn giản cho những vấn đề phức tạp bật lên ngày càng nhiều. Tính đối ứng song song giữa một vấn đề hiện đại và sự áp dụng Thánh Kinh vào vấn đề đó gãy đổ rất nhanh chóng. Đó là lý do tại sao không thể chấp nhận chủ nghĩa cơ yếu được. Nhưng những giới hạn của chủ nghĩa cơ yếu không chỉ có thế. Ngoài phương pháp tiếp cận Thánh Kinh có tính đơn giản hóa quá mức của chủ nghĩa cơ yếu, tôi thấy chủ nghĩa này còn có 8 nguy hiểm sau đây:

(1) Nguy hiểm rõ nhất, đó là chủ nghĩa cơ yếu thiếu một góc nhìn có tính lịch sử. Những người theo chủ nghĩa cơ yếu có một góc nhìn rất chật hẹp đối với lịch sử con người. Thật vậy, Họ dường như phi lịch sử trong vấn đề các nguồn gốc Thánh Kinh. Thánh Kinh được nhìn như một tài liệu nguyên sơ được  mạc khải qua chỉ một hành động đơn giản của Thiên Chúa và có hiệu lực cho mọi thời. Các bản văn của Thánh Kinh thường xuyên được chú giải ở ngoài bối cảnh và không quan tâm bao nhiêu đến nguồn gốc lịch sử của chúng. Những người theo chủ nghĩa cơ yếu gặp khó khăn với các mâu thuẫn thực tế hay biểu kiến trong Thánh Kinh chỉ vì họ thiếu ý thức về lịch sử. Họ hoàn toàn không chấp nhận rằng đã có một sự phát triển trong nhãn giới, nhất là trong lãnh vực giáo huấn luân lý trong Thánh Kinh. Đa số các nguyên tắc được đọc như thể chúng được viết riêng cho thời hiện đại này. (Họ chấp nhận một số biệt lệ, chẳng hạn, luật về các đồ ăn thức uống trong Sách Lêvi). Nhãn quan “bây giờ” của họ che lấp mọi cảm thức về lịch sử.

(2) Chủ nghĩa cơ yếu cũng có một cái nhìn rất hạn hẹp về mạc khải. Vì họ nhìn Thánh Kinh như là phán quyết cuối cùng cho mọi vấn đề, nên không có chỗ cho sự phát triển của giáo thuyết qua thời gian hoặc cho việc cải cách giáo thuyết Kitô giáo trong lịch sử, như các Giáo Hội khác nhìn nhận. Ngay cả những tín điều căn bản được đón nhận bởi các Giáo Hội Kitô giáo kỳ cựu, như Kinh Tin Kính các Tông đồ hay Kinh Tin Kính của Công Đồng Nixê, đều không được những người theo chủ nghĩa cơ yếu cho là quan trọng. Chỉ Lời Thiên Chúa thôi, như được giải thích bởi các nhà chú giải theo chủ nghĩa này, mới là điều cốt yếu quan trọng.

(3) Một hạn chế nghiêm trọng khác, thật trớ trêu, lại là nhãn giới phản Thánh Kinh nơi chủ nghĩa cơ yếu. Chủ nghĩa cơ yếu nhắm cậy dựa vào chỉ một mình Thánh Kinh và vào sứ điệp rõ ràng hiển nhiên của Thánh Kinh để làm nền tảng cho mình. Nhưng thực tế thì trái lại. Chẳng hạn, chỉ cần lướt thoáng qua quyển The New Scofield Study Bible, ta có thể thấy nhiều ý kiến chứa nơi các cước chú thực ra là những định thức giáo thuyết bên ngoài Thánh Kinh và được gán ép cho Thánh Kinh. Đó là trường hợp của thuyết phân thời “dispensationalism” mà quyển Thánh Kinh này tuyên truyền. Giáo huấn về bảy “giai đoạn” của lịch sử cứu độ là một cấu trúc nhân tạo giữa nhiều lược đồ giáo thuyết khác trong lịch sử. Lý thuyết này chia lịch sử thế giới thành bảy giao ước hay bảy giai đoạn phân thời, mỗi giai đoạn dựa cơ sở trên một bản văn Thánh Kinh chuyên biệt, qua đó mạc khải của Thiên Chúa đã được trao ban cho loài người. Bảy giai đoạn đó là:

¨       Giai đoạn vô tội (St 1,28; Vườn Êđen)

¨       Giai đoạn của lương tâm và trách nhiệm luân lý (St 3,7; từ sự sa ngã của Ađam và Eva đến Nôe)

¨       Giai đoạn của cơ chế nhân lọai (St 8,15; từ Nôe tới giao ước với Abraham)

¨       Giai đoạn của Lời hứa (St 12,1; từ tổ phụ Abraham tới Môsê)

¨       Giai đoạn của Lề Luật (Xh 19,1; từ Môsê nhà trao luật tới Đức Giêsu Kitô)

¨       Giai đoạn Giáo Hội (Cv 2,1; từ cái chết và cuộc Phục Sinh của Đức Giêsu Kitô cho tới hiện nay)

¨       Giai đoạn của Vương Quốc (Kh 20,4; bắt đầu khi Đức Kitô trở lại trong chiến thắng vinh quang)

Theo lý thuyết này, mỗi trong sáu giai đoạn phân thời ấy của nhân loại đều không sống trọn vẹn các kỳ vọng của Thiên Chúa. Mỗi thời, Thiên Chúa đặt loài người dưới một số kỳ vọng nào đó, nhưng con người thất bại trong việc đáp trả, rốt cục Thiên Chúa sẽ hành động trong giai đoạn cuối cùng với Vương Quốc được thiết lập bởi Đức Giêsu Kitô, Đấng sẽ dứt khoát đánh bại sự dữ và thiết lập triều đại hòa bình một ngàn năm. Lược đồ ấy là một chú giải Sách Thánh có tính hệ thống, nhưng nó vẫn chỉ là một chú giải dựa trên một lược đồ có tính nhân tạo và chọn lựa tùy tiện một số bản văn Thánh Kinh để làm cột trụ. Thật trớ trêu, niềm tin của chủ nghĩa cơ yếu vào thuyết phân thời cũng dẫn tới việc tối thiểu hóa bốn Sách Tin Mừng trong so sánh với những phần khác của Tân Ước (các Thư Phaolô, Sách Khải Huyền). Việc chủ nghĩa cơ yếu đề cao chỗ đứng của Thánh Kinh trong đời sống Kitôhữu thực ra che giấu ý hướng thực nhằm tạo ra một hệ thống thống nhất cố gắng thiết định những câu trả lời đơn giản cho các vấn đề của đời sống. Thánh Kinh cung ứng một công cụ thuận tiện, nhưng nó được sử dụng một cách nghịch lý để làm chỗ dựa cho một hệ thống hoàn toàn xa lạ với chính Thánh Kinh. Đây là điểm không nhất quán nghiêm trọng trong chủ nghĩa cơ yếu.

(4) Chủ nghĩa cơ yếu cũng tạo ra “một qui điển trong một qui điển”, và do đó giới hạn Thánh Kinh vào chỉ một loạt những bản văn quan trọng để ủng hộ cho hệ thống của chủ nghĩa cơ yếu trong khi phớt lơ những bản văn khác vốn có thể thách đố những giả định của chủ nghĩa này. Điều này được thấy rõ ràng trong việc tiếp cận các lời tiên tri của Thánh Kinh. Văn chương tiên tri của Thánh Kinh thì quan trọng hơn nhiều so với văn chương khôn ngoan. Có một nhãn giới chật hẹp về các lời tiên tri đến mức coi đó chỉ như lànhững lời báo trước và những sự ứng nghiệm mà thôi, mà chẳng quan tâm mấy đến bối cảnh lịch sử của những lời tiên tri ấy. Các ngôn sứ trong Cựu Ước nhìn dân tộc của các vị trong chính thời đại của các vị với một tương lai gần, chứ không phải một tương lai xa lắc – chắc chắn là không hơn hai ngàn năm sau đó. Việc áp dụng những lời tiên tri trước hết tùy thuộc vào sự nhận hiểu nó trong bối cảnh lịch sử của nó, trước khi cố gắng vận dụng nó cho ngày hôm nay.

Cũng vậy, những người theo chủ nghĩa cơ yếu có những bản văn căn bản (thường là trong The Authorized King James Version) được thường xuyên qui chiếu để làm xương sống cho niềm tin của họ. Gioan 3,16 (“Thiên Chúa yêu thương thế gian đến nỗi…”), Rôma 10,9 (“Nếu anh em không tuyên xưng Chúa Giêsu bằng miệng…”), Gioan 3,3 (“Nếu không sinh lại…”) là những câu thường xuyên được trích dẫn mà không quan tâm đến các câu khác làm nên sắc thái ý nghĩa cho bản văn. Chúng ta cũng cần ghi nhận rằng khuynh hướng chọn một số câu văn giới hạn không phải là điều chỉ thấy nơi những người theo chủ nghĩa cơ yếu. Đa số các Kitôhữu đều có những bản văn Thánh Kinh mà mình ưa thích, và họ thường xuyên trích dẫn những bản văn ấy. Tất cả các giáo phái đều có một số bản văn chìa khóa cho căn tính của mình. Người Công Giáo có truyền thống bảo vệ chức vị giáo hoàng, các bí tích, và cơ cấu phẩm trật của Giáo Hội nhờ một số bản văn trong Thánh Kinh. Mối nguy hiểm của cách làm đó là việc ‘lấy chữ làm chứng’, nghĩa là tìm cách biện minh cho lập luận của mình bằng những bản văn Thánh Kinh có sức “chứng minh” cho điều mình chọn. Việc tạo ra một qui điển ở trong qui điển luôn luôn là một con dao hai luỡi, vì nó phớt lơ những bản văn khác có thể cho thấy ý Thiên Chúa từ một viễn tượng hoàn toàn khác. Đó là lý do tại sao nguyên tắc Công Giáo đối với việc đọc Thánh Kinh là phải đọc trong bối cảnh toàn bộ của qui điển, chứ không chỉ cục bộ, và trong bối cảnh rộng hơn của giáo huấn Giáo Hội – và nguyên tắc này rất hữu ích để giúp có một cách tiếp cận khách quan hơn đối với Sách Thánh.

(5) Một nguy hiểm có liên hệ đến điểm vừa nói trên, đó là khuynh hướng cào bằng thẩm quyền của mọi phần trong Thánh Kinh. Thánh Kinh nói một điều gì đó, tức thì những người theo chủ nghĩa cơ yếu nghĩ rằng điều đó phải có một ứng dụng trong thế giới ngày nay. Thế nhưng đây chính là cái gây khó khăn cho những người cơ yếu khi giải quyết những mâu thuẫn trong các bản văn Thánh Kinh. Không có chỗ cho sự phát triển của truyền thống hay của một nhãn quan luân lý – thế mà trong thực tế truyền thống và nhãn quan luân lý đã thay đổi qua suốt bao thế kỷ mà Thánh Kinh được hình thành. Trích dẫn câu “mắt đền mắt, răng đền răng” (Xh 21,24; Lv 24,19-20) để làm nguyên tắc cho sự trừng phạt công bằng, đó là một chuyện. Còn trích dẫn việc Đức Giêsu bãi bỏ nguyên tắc ấy (Mt 5,39) thì lại là một chuyện khác . Cả hai đều ở trong Thánh Kinh, nhưng chúng chắc chắn có những ý nghĩa và những giá trị khác nhau. Cũng tình trạng tương tự như thế, việc những vấn đề nhỏ được đẩy tới cấp độ của một giáo huấn quan trọng mà không xét tới cấp độ của các giáo huấn (chẳng hạn, Thánh Phaolô dạy rằng các phụ nữ phải che đầu, 1Cr 11,10). Không phải mọi sự trong Thánh Kinh đều có cùng giá trị như nhau.

(6) Một hạn chế khác nữa của chủ nghĩa cơ yếu, đó là nó không trân trọng chiều kích nhập thể của đức tin. Tôi không có ý đề cập đến giáo thuyết về nhập thể, tức giáo thuyết dạy rằng Đức Giêsu là Thiên Chúa làm người, nhưng là khía cạnh nhập thể của đức tin Kitô giáo vốn đòi có một sự quân bình giữa tính thần linh và tính nhân loại. Những người theo chủ nghĩa cơ yếu không quan tâm đến tính lưỡng diện rằng Thánh Kinh là Lời Thiên Chúa trong ngôn ngữ của nhân loại. Mặc dù Thánh Kinh chứa sứ điệp của Thiên Chúa, song chính lời của con người diễn tả sứ điệp ấy, và ngôn ngữ của con người có những giới hạn cần phải được sáng suốt nhận định. Đó là lý do tại sao các nhà chú giải phải hết sức chú ý đến các thể văn, từ vựng, cấu trúc câu, vv… Chính tình trạng thiếu nhãn quan nhập thể này đã ảnh hưởng trên cách mà những người theo chủ nghĩa cơ yếu nhìn Đức Giêsu Kitô. Họ quá nhấn  mạnh đến khía cạnh thần linh và do đó không lưu tâm đủ đến khía cạnh nhân loại.

Có một lần, khi tôi đang dạy một lớp Kitô học (học về Đức Giêsu trong tư cách là Đấng Kitô, Đấng Mêsia), trong lớp có sự hiện diện của một số người thuộc chủ nghĩa cơ yếu, một câu hỏi đã được nêu lên về sự hiểu biết của Đức Giêsu. Cụ thể, có người hỏi phải chăng Đức Giêsu biết đọc biết viết. Tôi giải thích rằng chứng cứ Thánh Kinh cho thấy Đức Giêsu có lẽ biết đọc (x. Lc 4,16-20), ít nhất là đọc tiếng Hípri, tiếng Aram, và có lẽ một ít tiếng Hy lạp Koinê, ngôn ngữ phổ thông của thời ấy. Một trong những người theo chủ nghĩa cơ yếu có mặt trong lớp kịch liệt phản đối. Anh ta nói rằng vì Đức Giêsu là Thiên Chúa, đương nhiên Người biết tất cả mọi ngôn ngữ! Khi tôi cố giải thích quan điểm của tôi dựa trên chứng cứ Thánh Kinh, anh ta cực lực phủ nhận và đứng dậy bỏ đi. Anh ta đã quá thu rút  thần tính của Đức Giêsu vào nhân tính của Người đến nỗi anh chủ trương điều mà một lạc giáo ngày xưa đã chủ trương:monophysitism (thuyết nhất tính) – tức tin rằng Đức Giêsu chỉ có thiên tính mà thôi. Đức tin Kitô giáo chính tông rất lưu tâm đến khía cạnh nhập thể của mạc khải, trong liên hệ đến cả Đức Giêsu Kitô lẫn Thánh Kinh. Giáo thuyết Kitô giáo yêu cầu bảo vệ sức căng giữa một khía cạnh của một sự thật và một khía cạnh khác. Nó bao gồm hàng loạt những xác quyết “cả…lẫn…” hơn là những xác quyết “hoặc… hoặc…”.

(7) Những người theo chủ nghĩa cơ yếu loại bỏ hoặc thẳng thừng chống lại vai trò của Giáo Hội, đây là một hạn chế khác nữa. Quá nhấn mạnh đến đức tin cá nhân, không quan tâm đến khía cạnh cộng đoàn của đức tin, những người theo chủ nghĩa cơ yếu bôi bác vai trò của Giáo Hội – và khi làm thế, họ rõ ràng xâm phạm đến tinh thần của Thánh Kinh. Nếu chúng ta chỉ đọc các Thư Phaolô hay Công Vụ Tông Đồ, chúng ta có thể thấy tầm quan trọng của “Giáo Hội” trong tư cách là cộng đoàn các môn đệ. Đành rằng có những lạm dụng của thứ tôn giáo quá thiên về cơ chế đã len vào trong các Giáo Hội có tổ chức, song người ta không thể tiên thiên phủ nhận tầm quan trọng của cộng đoàn Giáo Hội.

Trong Đại Năm Thánh 2000, Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã kêu gọi các tín hữu Công Giáo nhìn nhận tội lỗi của mình và tội lỗi của cha ông mình qua các thời đại. Các vị lãnh đạo và các thành viên trong Giáo Hội chẳng thể nào hoàn toàn hoàn hảo được. Thật thú vị, một số giáo phái Tin Lành đã theo sự hướng dẫn này và đã làm tương tự. Chiều kích cộng đoàn của đức tin Kitô giáo hiện lộ rõ ràng trong những cử chỉ như thế. Nhãn quan của chủ nghĩa cơ yếu, đàng khác, phớt lơ chiều kích cộng đoàn này của ơn cứu độ và nhấn mạnh quá mức về sự cứu độ của cá nhân.

(8) Cuối cùng, tôi thấy chủ nghĩa cơ yếu thiếu trân trọng đối với mầu nhiệm. Khuynh hướng muốn mọi sự được giải thích bằng lý luận rạch ròi và không chừa chỗ cho những vấn nạn hay những hàm hồ, đó là một khuynh hướng có sức phá hoại nghiêm trọng đối với khả năng sống trong thế giới hiện đại của những người cơ yếu. Thánh Kinh không phải là một quyển sách “trả lời bói toán”. Nó không phải là một lá bùa. Nó không cung cấp giải pháp cho mọi vấn đề mà con người có thể đặt ra. Có những lúc chúng ta phải nhìn nhận những giới hạn của mình và cậy dựa vào ân sủng Thiên Chúa. Rốt cục, nhiều khi chúng ta phải nhìn nhận rằng ý định của Thiên Chúa vẫn là một mầu nhiệm, và chúng ta sẽ phải chờ đợi những vén mở khác nữa của mầu nhiệm ấy. Trong khát vọng có được sự chắc chắn , những người theo chủ nghĩa cơ yếu có khuynh hướng phớt lờ mầu nhiệm để tìm kiếm sự giải thích chặt chẽ theo lý luận đối với mọi khía cạnh của đức tin Kitô giáo. Không chừa chỗ nào cho “bất ngờ”. Cách tiếp cận này gói mầu nhiệm vào một chiếc túi gọn gàng, có thể được giải thích và tiêu hóa dễ dàng. Trong bản chất, nguy hiểm này là một nguy hiểm về nhận thức luận. Nhận thức luận (epistemology) là một từ được tạo ra để chỉ về triết lý của sự tri thức. Đó là một khoa nghiên cứu những gì con người có thể biết được và cách mà con người nhận thức chính mình và thế giới. Những người theo chủ nghĩa cơ yếu tin rằng họ có thể biết tuyệt đối chắc chắn thánh ý Thiên Chúa, nhất là như thánh ý đó được mạc khải trong Thánh Kinh. Nhưng việc biện phân thánh ý Thiên Chúa thì không luôn luôn đơn giản như cách nghĩ của những người theo chủ nghĩa này.

Khuynh hướng thích thú với những kỳ vọng có tính khải huyền nơi những người cơ yếu là một trường hợp điển hình. Chẳng hạn, thay vì miệt mài cố suy nghĩ và phỏng đoán về bản chất của các biến cố hồi thế mạt, đa số các Kitôhữu đơn giản chấp nhận rằng chúng ta không biết. Chính một số bản văn Thánh Kinh làm cơ sở cho cách nghĩ ấy. Phaolô cảnh giác một số cộng đoàn của ngài về sự vô ích của việc suy đoán về hồi tận thế bởi vì nó sẽ đến “như kẻ trộm trong đêm tối” (1Tx 5,1-2). Đức Giêsu từng củng cố cho lời khuyến cáo này bằng cách lưu ý rằng chỉ một mình Thiên Chúa Cha biết thời điểm tận cùng ấy (Mc 13,32; Mt 24,36). Chúng ta không cần biết mọi chi tiết về thời điểm và về cách thế Vương Quốc Thiên Chúa sẽ đến. Chỉ cần kiên vững trong niềm trông cậy cho đến khi Đức Giêsu đến trong vinh quang là đủ. (1Cr 11,26)

Tôi đã cố gắng đánh giá những thuận nghịch của chủ nghĩa cơ yếu một cách khách quan, nhưng trong tư cách là một tín hữu Công Giáo Rôma, rõ ràng tôi thấy là những hạn chế của chủ nghĩa cơ yếu Thánh Kinh lồ lộ hơn rất nhiều so với những điểm mạnh. Tôi cũng nhận ra rằng những vấn nạn thực tiễn vẫn còn đó về cách mà người Công Giáo phải ứng phó với sự thách đố hiện nay được đặt ra do những người theo chủ nghĩa cơ yếu. Đó là vấn đề mà chúng ta sẽ bàn đến trong chương cuối cùng của tập sách này.

Ronald D. Witherup, S.S.

Lê Công Đức Chuyển ngữ

—–

[1] xem Dean M. Kelley, Why Conservative Churches Are Growing, New York: Harper & Row, 1972

[2] The Interpretation of the Bible in the Church, Rome: Pontifical Biblical Commision, 1993, I.F

[3] được trích dẫn trong Richard John Neuhaus, Biblical Interpretation in Crisis, Grand Rapids, Mich.:Eerdmans, 1989, 140.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s