Công giáo tiếp cận Thánh Kinh như thế nào? (3)

VRNs (13.03.2015) – Sài Gòn – Chúng ta sẽ đối chiếu như thế nào đây giữa phương pháp tiếp cận Thánh Kinh của những người theo chủ nghĩa cơ yếu và phương pháp của Công Giáo? Đành rằng không có sự đối ứng song song giữa hai phương pháp tiếp cận, nhưng tất cả những vấn đề được nêu trên có thể được xem xét bằng cách này hay cách khác. Sau vài ý tưởng dẫn nhập, tôi sẽ phác họa những nguyên tắc chính của một phương pháp tiếp cận Thánh Kinh theo Công Giáo.

 150309004

Vài Ghi Nhận Mở Đầu

Đầu tiên, chúng ta phải nhìn nhận rằng chính tổ chức của Giáo Hội Công Giáo vốn đã rất khác với các cộng đoàn của những người theo chủ nghĩa cơ yếu. Công Giáo có một cơ cấu phẩm trật hướng dẫn Giáo Hội. Không giống như các cộng đoàn những người cơ yếu, Giáo Hội Công Giáo có một hệ thống giáo huấn chính thức về Thánh Kinh, làm thành một phần của huấn quyền (hệ thống giáo huấn chính thức của Công Giáo). Hệ thống này vạch cho thấy rõ phạm vi của sự chú giải Thánh Kinh theo Công Giáo. Hơn nữa, vì sự trân trọng của Giáo Hội Công Giáo đối với Thánh Kinh, đã có hẳn một bộ phận chính thức phụ trách việc giám sát các công cuộc nghiên cứu Thánh Kinh. Giáo Hoàng Lêô XIII đã thành lập Ủy Ban Giáo Hoàng Về Thánh Kinh vào năm 1902, bao gồm một nhóm chuyên gia quốc tế về Thánh Kinh. Mục đích của ủy ban này là phát triển việc nghiên cứu Thánh Kinh của Công Giáo đặt dưới thẩm quyền của Tòa Thánh.

Một khía cạnh thứ hai của nhãn quan Công Giáo là sự chấp nhận các phương pháp khoa học hiện đại trong việc nghiên cứu và chú giải Thánh Kinh. Thật ra không chỉ người Công Giáo mới đón nhận những phương pháp mới mẻ có tính phê bình lịch sử trong lãnh vực nghiên cứu Thánh Kinh. Đa số các giáo phái Tin Lành kỳ cựu đều cũng làm thế. Vì thế, sự tương phản không nằm giữa hai phương pháp tiếp cận Thánh Kinh của Công Giáo và những người theo chủ nghĩa cơ yếu, nhưng là nằm giữa những người chấp nhận sự nghiên cứu khoa học về Thánh Kinh và những người không chấp nhận điều này. Trong khi những người theo chủ nghĩa cơ yếu cho rằng nghiên cứu Thánh Kinh như thế là phá hoại thẩm quyền của Thánh Kinh, thì Giáo Hội Công Giáo lấy việc nghiên cứu Thánh Kinh có tính khoa học, khách quan làm thiết yếu. Một cách căn bản, trong khi những người theo chủ nghĩa cơ yếu chiến đấu chống lại tính hiện đại thì người Công Giáo lại chấp nhận công cụ này.

Nhận định thứ ba trong phần dẫn nhập này là một ghi nhận lịch sử. Đã từng có thời Công Giáo cũng có cách tiếp cận Thánh Kinh chủ yếu giống như cách của những người cơ yếu. Trước thế kỷ 20, Giáo Hội Công Giáo cũng ái ngại và ngờ vực việc nghiên cứu khoa học về Thánh Kinh không kém chi so với nhiều Kitôhữu khác, mặc dù Thánh Kinh không được thấy là nổi bật trong đời sống hằng ngày của người Công Giáo so với người Tin Lành. Hai bản văn trong thông điệp của Giáo Hoàng Lêô XIII về Thánh Kinh[1] có thể minh họa điều này:

Vì tất cả những sách mà Giáo Hội đón nhận như là Sách Thánh và thuộc qui điển – xét trong mọi phần của chúng -đều được viết hoàn toàn dưới sự thúc đẩy của Chúa Thánh Thần; thì cũng vậy, không thể có một sai lỗi nào có thể cùng tồn tại với sự linh hứng, sự linh hứng không chỉ không thể tương hợp với sự sai lỗi, mà còn đào thải nó một cách dứt khoát và thiết yếu như thể sự thật rằng Thiên Chúa, Đấng là Chân Lý tối thượng, thì không thể nói ra một điều gì sai lầm.

… Ai quả quyết rằng sai lầm có thể xảy ra trong các bản văn  Sách Thánh thì người đó hoặc đang xuyên tạc quan niệm Công Giáo về linh hứng hoặc cả quyết rằng Thiên Chúa là tác giả của sự sai lầm (338,340).

Có thể ghi nhận rằng ngôn ngữ như vậy không khác mấy với quan điểm đặc trưng của những người theo chủ nghĩa cơ yếu. Chúng ta không phủ nhận rằng thông điệp này đem lại nhiều ánh sáng, song cũng phải chấp nhận rằng một số ý tưởng trong thông điệp vẫn còn luẩn quẩn trong nhãn quan tiền khoa học. Vào thế kỷ 19, Giáo Hội chưa có sự phân biệt trong Thánh Kinh giữa sự không sai lầm về mặt khoa học và lịch sử và không sai lầm về luân lý và về đức tin.

Ngay cả hồi đầu thế kỷ 20, Giáo Hội Công Giáo cũng chống lại những nghiên cứu khoa học dẫn tới các kết luận không tương hợp với giáo huấn Công Giáo về Thánh Kinh. Chẳng hạn, có lúc Giáo Hội đã phản kháng lại kết luận của các học giả rằng rất có thể không phải chính tay Môsê đã viết năm quyển đầu tiên của Cựu Ước (Ngũ Thư), như truyền thống cổ của Do thái và Kitô giáo chủ trương. Trái lại, có những chứng cứ vững chắc cho thấy có nhiều tác giả đã viết nên Ngũ Thư trong những trường hợp khác nhau và qua các giai đoạn khác nhau. Đã có thời Giáo Hội Công Giáo bác  bỏ những giả thuyết mới này và chủ trương rằng quyền tác giả chính thức của Ngũ Thư thuộc về Môsê. Ủy Ban Giáo Hoàng Về Thánh Kinh đã tấn công những giả thuyết khoa học như thế trong một loạt những giáo huấn từ năm 1905 đến 1915, sau đó thì thấy im luôn.

Chúng ta cần ghi nhận rằng, trong lịch sử của mình dù có một số khuynh hướng nghiêng về chủ nghĩa cơ yếu, Giáo Hội Công Giáo cũng đã phản kháng việc dùng thuật ngữ  “tính không sai lầm” (inerrancy) cho Thánh Kinh. Theo chỗ tôi được biết, từ ngữ ấy chưa bao giờ được sử dụng trong giáo huấn chính thức của Giáo Hội ở cấp độ của một  công đồng chung. Từ ngữ ấy đã trở thành cơ hữu của một thế giới quan vốn nghiêng về sự diễn dịch Thánh Kinh quá sát mặt chữ. Vatican II sử dụng thành ngữ “mà không sai lầm” (without error) để tránh ám chỉ rằng Thánh Kinh trình bày chính xác về khoa học và lịch sử.[2] Mặc dù dưới đây tôi sẽ bàn thêm về sự phân biệt này, nhưng ngay ở đây cần ghi nhận rằng quan điểm của Giáo Hội Công Giáo về sự không sai lầm trong Thánh Kinh chỉ bao gồm các giáo huấn về tín lý và luân lý, không bao gồm lãnh vực khoa học và lịch sử. Hơn nữa, quan điểm ấy cho phép sự phát triển của nhãn quan luân lý trong Thánh Kinh, nhìn nhận rằng cái nhìn luân lý được đào sâu qua thời gian. Không phải mọi giáo huấn luân lý trong Thánh Kinh đều có trọng lượng như nhau.

Năm 1943, kỷ niệm 50 năm thông điệp của Giáo Hoàng Lêô XIII, nhãn quan của Giáo Hội Công Giáo về sự chú giải Thánh Kinh đã thay đổi một cách ngoạn mục. Giáo Hoàng Piô XII công bố một thông điệp gây chấn động về những công cuộc nghiên cứu Thánh Kinh có tác dụng bật đèn xanh cho các học giả Công Giáo sử dụng mọi phương tiện khoa học có thể được để khám phá Thánh Kinh nhằm giải thích ý nghĩa của nó. Sau đây là một trích dẫn từ thông điệp này, Thông Điệp Divino Afflante Spiritu:

Được chuẩn bị cặn kẽ bởi sự hiểu biết về các cổ ngữ và bởi những sự trợ giúp của khoa phê bình, các nhà chú giải Công Giáo hãy đảm nhận công việc cao quí nhất được trao cho mình, đó là khám phá và giải thích ý nghĩa đích thực của các Sách Thánh. Khi tiến hành công việc này, các nhà chú giải hãy luôn ghi nhớ rằng mình cần hết sức chú tâm để biện phân và xác định rõ ràng ý nghĩa của các lời Thánh Kinh. Được hỗ trợ bởi văn mạch và nhờ đối chiếu với những bản văn tương tự, họ hãy dựa vào sự hiểu biết của mình về các ngôn ngữ để cẩn thận tìm ra ý nghĩa mặt chữ của các từ… sao cho tư tưởng của tác giả có thể được sáng tỏ (23).

Quan điểm trên đây cho thấy một chuyển biến so với thông điệp của Giáo Hoàng Lêô XIII. Nó không chỉ cung cấp sự thúc đẩy cần thiết cho các học giả Công Giáo phát triển và thực hành các kỹ năng của mình ở mức tối đa, nhưng nó còn hướng dẫn các nhà chú giải Công Giáo làm công việc của mình một cách tự do, không e sợ bị rắc rối hay bị bài xích. Đành rằng rất hiếm lần Giáo Hội chính thức tuyên bố về ý nghĩa của những bản văn riêng biệt nào đó, vẫn có một đoạn trong thông điệp của Giáo Hoàng Piô XII kêu gọi tất cả mọi người Công Giáo biểu dương và trân trọng công lao của các học giả Thánh Kinh là những người khám phá ra kho tàng mênh mông các dữ kiện Thánh Kinh nhờ đó có thể xác định được các ý nghĩa thâm sâu nhất. Giáo Hoàng viết:

Vì thế trong việc thảo luận và giải thích, vẫn còn nhiều điều hết sức quan trọng trong đó các kỹ năng của nhà chú giải Công Giáo có thể và cần phải được giải phóng, để cho mỗi nhà chú giải có thể đóng góp phần của mình vào tiến bộ của toàn thể, phục vụ cho cuộc tiến triển không ngừng của giáo thuyết thánh (47).

Kể từ khi thông điệp này được công bố, các học giả Công Giáo đã công khai dấn thân vào việc nghiên cứu Thánh Kinh theo khoa học. Nhiều kết quả của công cuộc nghiên cứu này đã ảnh hưởng đến các văn kiện của Công Đồng Vatican II và tiếp tục tác động đến đời sống của Giáo Hội sau Công Đồng. Các chuyên gia Thánh Kinh Công Giáo, theo một nghĩa nào đó, đã đến tuổi trưởng thành. Trong chỉ một thời gian ngắn, các học giả Thánh Kinh Công Giáo bắt kịp và sánh vai với các học giả Thánh Kinh Tin Lành, sử dụng cùng những phương pháp và công cụ khoa học, mặc dù chú giải từ trong góc độ đức tin của Giáo Hội Công Giáo. Những cái tên như Raymond E. Brown, S.S., Joseph A. Fitzmyer, S.J., và Roland E. Murphy, O.Carm, trở thành nổi tiếng tầm cỡ quốc tế trong tư cách là những chuyên gia Thánh Kinh được công nhận song song với những đồng nghiệp của họ bên Tin Lành. Trước họ, một số đàn anh ít nổi tiếng hơn đã âm thầm thực hiện những bước tiến bộ đáng kể trong lãnh vực nghiên cứu Thánh Kinh trong các thư viện và các tu viện mà công chúng không hề nhận ra hoặc chỉ được nhận ra bởi giới học giả mà thôi. Sự nghiên cứu của họ đã giúp đặt nền móng cho Vatican II. Vô số các học giả Công Giáo khác đã theo sự hướng dẫn của họ trong việc nghiên cứu Thánh Kinh theo khoa học. Sự phát triển này cũng cho thấy rằng phương pháp tiếp cận Thánh Kinh của Công Giáo đã không trôi vào con đường của chủ nghĩa cơ yếu nhưng là hướng đến khoa nghiên cứu phê bình hiện đại về Thánh Kinh, điều mà chủ nghĩa cơ yếu chống lại.

Một tuyên bố đại kết gần đây được thực hiện giữa những người Báp-tít miền Nam và những người Công Giáo Rôma nêu ra một so sánh các phương pháp tiếp cận Thánh Kinh. Một đàng, tuyên bố ấy nhìn nhận sự nhất trí kính trọng đối với Thánh Kinh được chia sẻ bởi cả hai bên. Cả hai bên đều sử dụng Thánh Kinh làm sự hướng dẫn tâm linh. Cả hai bên đều cùng tuyên xưng đức tin như nhau về một số giáo thuyết căn bản. Tuy nhiên, bản báo cáo vẫn nhấn mạnh những khác biệt còn tiếp tục tồn tại:

Chúng tôi, những người Báp-tít miền Nam và những người Công Giáo Rôma cùng tin vào Thiên Chúa Ba Ngôi, Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, và chúng tôi tuyên xưng thần tính trọn vẹn và nhân tính hoàn hảo của Đức Giêsu Kitô … Trên nền tảng những niềm xác tín cốt lỡi này, chúng tôi đề cập đến những vấn đề quan trọng mà người Công Giáo Rôma và những người Báp-tít miền Nam khác biệt nhau về mặt lịch sử, trong đó bao gồm sự linh hứng và thẩm quyền của Thánh Kinh, về tính không sai lầm và bất khả ngộ của nó, về vai trò của Giáo Hội trong việc giải thích các Sách Thánh, và về bản chất và ý nghĩa của các phương pháp phê bình lịch sử đối với việc nghiên cứu Thánh Kinh.[3]

Bản báo cáo tiếp tục mô tả ngắn gọn chi tiết những khác biệt này thuộc những lãnh vực mà chúng ta đề cập trong sách này, chẳng hạn về mạc khải và Lời Thiên Chúa, về tính không sai lầm và bất khả ngộ của Thánh Kinh, về sự nghiên cứu khoa học về Thánh Kinh, và về ngữ nghĩa (terminology) của chủ nghĩa cơ yếu.

 

Những Cột Mốc Lịch Sử Trong Giáo Huấn Công Giáo Về Thánh Kinh

Với nhận định dẫn nhập cuối cùng, tôi muốn đưa ra một số cột mốc lịch sử trong giáo huấn Công Giáo về Thánh Kinh. Những cột mốc này cho thấy truyền thống lâu dài đã phát triển xuyên qua các thời đại dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Giáo huấn Công Giáo về Thánh Kinh không hề đứng yên tại chỗ. Nó đã tiến hóa qua thời gian, nhất là trong hai trăm năm trở lại đây, để trở thành một tổng hợp tinh vi. Ở đây tôi chỉ muốn lưu ý tới một vài văn kiện quan trọng nhất và ý nghĩa của chúng:

¨       Công Đồng Trent, khóa thứ tư, năm 1546: khóa này cuối cùng đã giải quyết được tất cả những điều chưa chắc chắn về qui điển các Sách Thánh mà người Công Giáo sử dụng. Danh sách các sách chính thức là danh sách của qui điển Công Giáo như ta thấy hiện nay. Công Đồng này cũng khẳng định tính ưu tiên của bản Thánh Kinh Vulgata (bản dịch La tinh bắt nguồn từ Thánh Giêrôm) trong sự sử dụng chính thức của Công Giáo.

¨       Công Đồng Vatican I, Hiến Chế Dei Filius, 1870: Công Đồng này khẳng định có sự linh hứng của Thánh Kinh và khẳng định rằng Thiên Chúa là tác giả tối thượng của các Sách Thánh.

¨       Providentissimus Deus, thông điệp của Giáo Hoàng Lêô XIII, 1893: thông điệp đặc sắc này đề ra một kế hoạch cho các học giả Công Giáo sử dụng một số phương pháp nghiên cứu Thánh Kinh hiện đại đang nổi lên vào thế kỷ19. Tuy nhiên, thông điệp cũng cảnh báo những nguy hiểm của một số nghiên cứu khoa học nào đó và khả năng bị lung lạc bởi các giải thích sai lầm. Thông điệp cũng cổ võ một cách hiểu không ngụy biện đối với “tính không sai lầm”, không phân biệt giữa các vấn đề thực tế, lịch sử trong Thánh Kinh với các vấn đề luân lý và tôn giáo.

¨       Muời bốn quyết định của Ủy Ban Giáo Hoàng về Thánh Kinh, 1905-1915: Theo một nghĩa nào đó, những quyết định này cho thấy một bước lùi, nhưng không hoàn toàn. Những quyết định này nhắm nói đến những quá đà của sự giải thích dựa vào một khám phá có tính “hiện đại” nào đó về các Sách Thánh. Âm sắc khá bảo thủ của những giáo huấn này đã có tác dụng bịt miệng một số học giả Thánh Kinh Công Giáo quan trọng, như học giả lừng danh của Dòng Đa Minh Marie-Joseph Lagrange, người đã thành lập Học Viện Thánh Kinh Giê-ru-sa-lem nổi tiếng.

¨       Spiritus Paraclitus, thông điệp của Giáo Hoàng Bênêđictô XV, 1920: công bố vào dịp kỷ niệm 1.500 năm ngày qua đời của Thánh Giêrôm, vị học giả Thánh Kinh vĩ đại hồi thế kỷ 4 – 5. Thông Điệp hơi bảo thủ này biểu dương các học giả Thánh Kinh tuân theo các hướng dẫn được ban hành bởi Giáo Hoàng Lêô XIII và sử dụng các phương pháp nghiên cứu có tính phê bình hiện đại. Thông Điệp cũng cảnh giác chống lại những người đánh giá thấp giá trị lịch sử của một số phần trong Thánh Kinh.

¨       Divino Afflante Spiritu, thông điệp của Giáo Hoàng Piô XII, 1943: Đây là văn kiện chính thức quan trọng nhất mở ra khoa chú giải phê bình hiện đại của Công Giáo về Thánh Kinh. Thông điệp khẳng định rằng Thánh Kinh không chứa sai lầm nào về đức tin và luân lý, nhưng nó cũng tôn trọng chiều kích nhân loại của Lời Thiên Chúa. Các học giả Công Giáo được thúc đẩy tập chú đến ý nghĩa mặt chữ của Sách Thánh trong khi vẫn nhạy cảm với nhiều ý nghĩa sâu xa khác nói lên chiều kích thiêng liêng của nó.

¨       Huấn Thị của Ủy Ban Giáo Hoàng về Thánh Kinh, “Về Chân Lý Lịch Sử Của Các Sách Tin Mừng”, 1964: Văn kiện này có sắc thái đặc biệt ở chỗ nó nhìn nhận các truyền thống nhiều tầng được tìm thấy trong các Sách Tin Mừng thuộc qui điển. Nó giải thích tiến trình ba mặt qua đó các Sách Tin Mừng được hình thành: truyền khẩu, ghi chép, và biên tập. Mỗi truyền thống này tương ứng với những khung thời gian riêng: thời gian của Đức Giêsu và các tông đồ, thời gian rao giảng và sưu tập các truyền thống của các môn đệ sau này, và thời gian của các soạn giả Tin Mừng là những người cuối cùng sưu tập và hiệu đính các truyền thống ấy cho những cộng đoàn riêng của mình. Tiến trình này giúp giải thích tại sao ý nghĩa mặt chữ của các Sách Tin Mừng không luôn luôn nói lên “sự thật lịch sử” như chúng ta có thể ngây ngô quan niệm như thế. Việc biện phân kỹ lưỡng các tầng của truyền thống và mối quan tâm thần học của chúng là điều cần thiết để trả lời cho các vấn nạn lịch sử.

¨       Vatican II, Dei Vebum, Hiến Chế Tín Lý về Mạc Khải thần linh, 1965: Đây là văn kiện nền tảng nhất bởi vì nó là hiến chế tín lý của Giáo Hội được hình thành bởi một công đồng chung. Giáo huấn bao quát của nó khẳng định giáo thuyết căn bản của Công Giáo về Thánh Kinh, chẳng hạn, về linh hứng, về sự không sai lầm trong những vấn đề về đức tin và luân lý, về chiều kích nhân loại của các Sách Thánh là những Sách vốn truyền đạt sứ điệp thần linh theo như Thiên Chúa muốn, và về sự thật rằng Thánh Kinh là “linh hồn của thần học”. Hiến Chế cũng ghi nhận mối quan hệ phức tạp của Thánh Kinh và Truyền Thống trong tư cách là những nguồn mạch của mạc khải thần linh có sức trao ban sự sống cho Giáo Hội, và Hiến Chế cũng khích lệ các học giả Thánh Kinh Công Giáo đảm nhận công việc quan trọng của mình.

¨       Huấn Thị của Ủy Ban Giáo Hoàng về Thánh Kinh, “Việc Giải Thích Thánh Kinh Trong Giáo Hội”, 1993: Đây là phán quyết chính thức có tính bao quát nhất về nhiều phương pháp hiện đại khác nhau trong việc nghiên cứu Thánh Kinh theo khoa học vốn nở rộ trong thời đại chúng ta, cả những phương pháp phê bình lịch sử lẫn những phương pháp mới hơn. Huấn Thị này nhận định về mỗi phương pháp ấy. Chỉ có chủ nghĩa cơ yếu bị phê phán kịch liệt là không tương hợp với cách tiếp cận Thánh Kinh của Công Giáo.

¨       Sách Giáo Lý Của Giáo Hội Công Giáo, số 101-141, 1997 (bản in lần thứ 2): Dĩ nhiên nguồn này là tổng hợp súc tích và tiện lợi nhất các giáo huấn của Giáo Hội về Thánh Kinh. Sách giáo lý này thường xuyên trích dẫn các nguồn trước đó như các văn kiện của Vatican II, các thông điệp giáo hoàng, các tuyên bố của Ủy Ban Giáo Hoàng về Thánh Kinh, cũng như các nguồn xa xưa khác (chẳng hạn, các Giáo Phụ).

Ngay cả dù bảng liệt kê các cột mốc này không thể hiện được hết tầm rộng và các sắc thái của giáo huấn Giáo Hội về Thánh Kinh, người ta có thể thấy rằng đó là sự phát triển của một truyền thống. Giáo Hội đã không có một quan điểm cứng nhắc về cách tiếp cận các Sách Thánh để nhận định ý Thiên Chúa. Quan điểm của Công Giáo đã tiến bộ từ cái nhìn chủ yếu có tính tiền phê bình và phi sử tính về Thánh Kinh (giống với chủ nghĩa cơ yếu) tới một cái nhìn đặc sắc và có ý thức hơn về lịch sử, đối nghịch với phương pháp tiếp cận của chủ nghĩa cơ yếu.

Những Nguyên Tắc Chú Giải Thánh Kinh Của Công Giáo   

Xuất phát từ những giáo huấn chính thức khác nhau của Giáo Hội Công Giáo, nhất là như được trình bày trong Sách Giáo Lý Của Giáo Hội Công Giáo, tôi sẽ tổng lược những đặc điểm chính của phương pháp tiếp cận Thánh Kinh của Công Giáo.

(1) Rất căn bản trong phương pháp tiếp cận Thánh Kinh của Công Giáo là sự chấp nhận hai nguồn có quan hệ hỗ tương nhau trong việc nhận biết thánh ý Thiên Chúa, đó là Thánh Kinh và Truyền Thống. Vì vậy, trước hết, Công Giáo có một lập trường căn bản đối nghịch lại quan niệm sola scriptura của những người theo chủ nghĩa cơ yếu. Hiến Chế Tín Lý về Mạc Khải của Vatican II nói:

Giáo Hội luôn tôn kính Thánh Kinh như chính Thân Thể Chúa … Giáo Hội không ngừng lấy bánh ban sự sống từ bàn tiệc Lời Chúa cũng như từ bàn tiệc Mình Chúa Kitô để ban phát cho các tín hữu. Cùng với Thánh Truyền, Thánh Kinh đã và đang được Giáo Hội xem như là qui luật tối cao hướng dẫn đức tin.[4]

Trích dẫn trên đây cho thấy mối nối kết thiết yếu giữa Thánh Kinh, trong tư cách là Lời thánh của Thiên Chúa, với Truyền Thống quyền giáo huấn của Giáo Hội. Trong quan điểm Công Giáo, Thánh Kinh rất quan trọng nhưng nó không phải là nguồn duy nhất của mạc khải. Tuy nhiên, chúng ta ghi nhận rằng hai tiếng “Truyền Thống” (viết hoa) không nhằm nói đến các truyền thống mà chúng ta nhớ lại khi chúng ta lớn lên. Đúng hơn, nó qui chiếu đến huấn quyền của Giáo Hội qua các thời đại khi Giáo Hội giải thích các Sách Thánh, tương tác với Sách Thánh, và thiết định những giáo thuyết trình bày mạc khải của Thiên Chúa theo những gì mà con người có thể biết về mạc khải ấy. Chúng ta cũng cần đề cập rằng quan điểm của Công Đồng Vatican II không xác định một cách chính xác mối quan hệ hỗ tương phức tạp giữa Thánh Kinh và Truyền Thống. Hai đàng không đối nghịch nhau, cũng không phải là hai nguồn hoàn toàn phân biệt với nhau. Đúng hơn, chúng đan kết vào nhau nhưng vẫn phân biệt đủ để mỗi bên nhận một căn tính riêng. Chúng thiết lập “trạm” của mạc khải, song với những căn tính riêng. Quan điểm Công Giáo một cách mặc nhiên nhìn nhận rằng không phải mọi giáo huấn của Giáo Hội đều có thể được tìm thấy trong các Sách Thánh. Thánh Thần tiếp tục hướng dẫn Giáo Hội hiểu mạc khải của Thiên Chúa khi mạc khải ấy tiến hóa và được biểu lộ qua các thời đại. Các Sách Thánh sẽ luôn luôn đóng một vai trò quan trọng trong tiến trình này, nhưng đó không phải là thẩm quyền duy nhất của đức tin chúng ta. Quyền giáo huấn sống động của Giáo Hội đảm trách việc ấn định tối hậu ý nghĩa của Thánh Kinh khi cần, dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần.

(2) Giáo Hội Công Giáo cũng nhìn nhận một loại “tính không sai lầm” của Thánh Kinh, nhưng chỉ về đức tin và luân lý, không phải về khoa học và lịch sử. Tuy nhiên, người Công Giáo tránh dùng từ ngữ “tính không sai lầm” ấy vì nó dễ gợi nghĩ đến cách diễn dịch của những người chủ trương theo sát mặt chữ. Trích dẫn sau đây từ Hiến Chế Mạc Khải có thể minh họa cho quan điểm Công Giáo:

Vì phải xem mọi lời các tác giả được linh hứng viết ra, tức các thánh sử, là những lời của Chúa Thánh Thần, nên phải công nhận rằng Thánh Kinh dạy ta cách chắc chắn, trung thành và không sai lầm, những chân lý mà Thiên Chúa đã muốn Thánh Kinh ghi lại vì phần rỗi của chúng ta (số 11).

Khẳng định trên đây về sự không sai lầm củng cố sự nhận hiểu rằng các Sách Thánh được linh hứng bởi Thiên Chúa, khẳng định ấy được kết hợp với bổn phận diễn dịch các Sách Thánh một cách kỹ lưỡng xuyên qua việc khám phá các ý nghĩa của chúng:

Tuy nhiên vì trong Thánh Kinh, Thiên Chúa đã nhờ loài người và dùng cách nói của loài người mà phán dạy, nên để thấy rõ điều chính Ngài muốn truyền đạt cho chúng ta, nhà chú giải Thánh Kinh phải cẩn thận tìm hiểu điều các thánh sử có ý trình bày và điều Thiên Chúa muốn diễn tả qua lời lẽ của họ. (Dei Verbum, số 12)

Hàm chứa trong lập trường này là sự nhìn nhận rằng các nhà chú giải phải lưu tâm đến các thể văn đa dạng trong Thánh Kinh. Các tác giả Thánh Kinh sử dụng nhiều thể văn khác nhau (tường thuật, thi ca, thánh ca, luật pháp, dụ ngôn, câu chuyện phép lạ, ngạn ngữ, châm ngôn, thị kiến khải huyền, vv…). Những thể văn ấy đòi hỏi phải được biện phân thấu đáo để đạt được sự nhận hiểu chính xác ý nghĩa mà chúng muốn nói. Vai trò trung gian có ảnh hưởng đến sứ điệp. Một nội dung quan trọng thực tiễn khác nữa của quan điểm Vatican II, đó là sự chú giải của Công Giáo về một bản văn Sách Thánh sẽ không bị phiền phức bởi những chi tiết không nhất quán hay không chính xác có chứa đựng trong các bản văn cổ. Trong văn chương cổ xưa, sai lầm của con người về mặt lịch sử và khoa học là chuyện khá bình thường, và Thánh Kinh không phải là một ngoại lệ. Chúng ta hãy lấy một vài ví dụ.

Về các câu chuyện sáng tạo trong Sách Sáng Thế, quan điểm của Công Giáo là không hiểu sát mặt chữ trong mọi chi tiết. Thật vậy, Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã chỉ ra rõ ràng rằng thuyết tiến hóa của khoa học không nhất thiết bất tương hợp với các câu chuyện trong Sách Sáng Thế về sáng tạo. Chúng ta nhận ra rằng các câu chuyện Sáng Thế 1-11 mặc lấy thứ ngôn ngữ thần thoại vốn hoàn toàn tương hợp với nhãn quan của nhiều nền văn hóa Cận Đông cổ thời, khoảng thế kỷ 10–9 trước Công Nguyên, tức thời gian mà hầu như các câu chuyện ấy đã được viết ra. Đây không phải là khẳng định rằng thuyết tiến hóa của khoa học là một giả thuyết hoàn toàn đúng. Đó vẫn chỉ là một giả thuyết, song không phải là một giả thuyết mâu thuẫn với các trình thuật Thánh Kinh. Thay vào đó, các trình thuật Thánh Kinh được nhận ra là một chuỗi sự kiện không mang tính khoa học song mục đích chính của nó là khẳng định rằng chính Thiên Chúa quyết định sự sáng tạo và công cuộc sáng tạo đó thật tốt đẹp. Như vậy Adam và Eva không nhất thiết phải là những con người cụ thể trong lịch sử, mà là những khuôn mặt đại diện cho những con người đầu tiên. Giáo huấn Công Giáo chỉ khẳng quyết rằng một lúc nào đó Thiên Chúa đã đặt vào loài người một linh hồn phân biệt giữa con người với các sinh vật khác, điều này không hề mâu thuẫn với lý thuyết tiến hóa.

Một ví dụ khác đến từ Tân Ước. Công Giáo dạy rằng các Sách Tin Mừng bao gồm ba giai đoạn của truyền thống về Đức Giêsu diễn tiến qua thời gian. Ba truyền thống đó là: (a) đời sống thực và giáo huấn của Đức Giêsu, (b) những truyền thống truyền khẩu cắm rễ trong hoạt động rao giảng của các môn đệ đầu tiên, và (c) các truyền thống ghi chép thành văn được sưu tập và hiệu đính thành các Sách Tin Mừng như chúng ta biết.[5] Việc nhận ra tiến trình này sẽ cho phép người ta giải quyết những bản văn có thể mâu thuẫn nhau, những bản khác nhau nói về cùng một câu chuyện căn bản, những sự bồi đắp thêm các chi tiết khi các câu chuyện được kể đi kể lại qua nhiều chục năm, vân vân … Không cần phải hòa hợp mọi mâu thuẫn biểu kiến hay kết dệt thành một câu chuyện duy nhất những chi tiết về cuộc sinh hạ, đời sống, cái chết và sự phục sinh của Đức Giêsu. Người Công Giáo nhìn nhận các Sách Tin Mừng là một sưu tập các truyền thống truyền khẩu, ghi chép thành văn và hiệu đính – đã phát triển trong những bối cảnh khác nhau trong các thập niên đầu tiên của cộng đoàn Kitô giáo. Như vậy, chúng có thể chứa những nhãn giới khác nhau không luôn luôn hòa hợp với nhau. Trong tình trạng chúng đang hiện hữu, chúng không phải là những trình thuật trực tiếp tại chỗ về sứ vụ của Đức Giêsu nhưng là những trình bày thần học về các câu chuyện Đức Giêsu Nadarét.

(3) Phương pháp tiếp cận Thánh Kinh của Công Giáo chấp nhận sự cần thiết phải đọc bản văn theo từ ngữ nguyên bản, nhưng đồng thời phải đi xa hơn thế. Đọc Thánh Kinh theo nghĩa từ ngữ (nghĩa là quan tâm đến ý nghĩa đen của các từ ngữ) là một chuyện. Còn đọc một cách bám khư khư vào nghĩa mặt chữ (giải thích mỗi từ chỉ theo nghĩa hẹp thôi) lại là một chuyện khác. Trong khi những người theo chủ nghĩa cơ yếu đọc nhiều bản văn theo sát nghĩa mặt chữ, thì người Công Giáo nhận ra một ý nghĩa sâu hơn trong Thánh Kinh có thể vượt quá ý nghĩa của mặt chữ. Gần đây, điều này được gọi là sensus plenior (“nghĩa đầy đủ hơn”). Theo truyền thống, Giáo Hội Công Giáo vẫn cởi mở đón nhận cái được gọi là “ý nghĩa thiêng liêng” của Sách Thánh, nhiều lúc ý nghĩa này được coi ngang bằng với ý nghĩa đầy đủ hơn (sensus plenior). Một lần nữa, Sách Giáo Lý Của Giáo Hội Công Giáo tổng kết truyền thống Công Giáo. Nó lưu ý đến cách mà truyền thống phân chia sự giải thích ý nghĩa thiêng liêng đầy đủ hơn của Thánh Kinh thành ba loại: chú giải ngụ ngôn, chú giải luân lý, và chú giải bí nhiệm (số 117).

Ý nghĩa ngụ ngôn nhìn nhận rằng Thánh Kinh đôi khi đưa ra những “typologies” (mẫu tiêu biểu) hay những ngụ ngôn mở rộng trong đó có ý nghĩa tương ứng song đôi giữa một hình ảnh được dùng và ý nghĩa sâu hơn của nó. Như vậy, một hình ảnh Cựu Ước như cuộc Xuất Hành khỏi Ai Cập có thể tượng trưng cho Phép Rửa của Kitô giáo (cf. 1Cr 10,2), hay những hình ảnh xem ra thông thường như máu và nước có thể mang ý nghĩa bí tích Thánh Thể và Phép Rửa (cf. Ga 19,34). Ý nghĩa luân lý qui chiếu đến khả năng chung chung của nhiều Sách Thánh trong việc đưa ra những hướng dẫn luân lý (cf. Bài Giảng Trên Núi, Mt 5-7). Cuối cùng, ý nghĩa bí nhiệm (Hy ngữ: anagõ, “hướng dẫn”) qui chiếu đến sự nhận hiểu sâu xa hơn mà tất cả các Sách Thánh nhằm hướng dẫn chúng ta tới Vương Quốc của Thiên Chúa, và do đó chúng có giá trị hướng dẫn khi chúng ta đang trên hành trình tiến về “Giê-ru-sa-lem trên trời” (Kh 21,1-22,5).

Mỗi ý nghĩa sâu hơn này xuất phát từ – và đặt cơ sở trên – ý nghĩa mặt chữ. Chúng không thể tương phản với ý nghĩa mặt chữ của bản văn, nhưng chúng cũng không bị giới hạn trong chỉ ý nghĩa mặt chữ. Đôi khi các ý nghĩa cũng chồng chất lên nhau. Trong lịch sử, các giáo phụ thuở ban đầu của Giáo Hội đã sử dụng những phương pháp chú giải này một cách rất tự do. Sau đó, nhất là vào thời Trung Cổ, một số phương pháp tiếp cận này đã dẫn tới những sự chú giải kỳ quái quá quắt. Giáo Hội cảnh giác rằng luôn luôn có nguy hiểm trong việc tự cho phép mình vượt quá nghĩa mặt chữ (xem Chú Giải Trong Đời Sống Giáo Hội, III). Tuy nhiên, sự cho phép một tình trạng đa nghĩa sẽ bảo quản giá trị vĩnh hằng của Lời Thiên Chúa và khả năng áp dụng Lời ấy cho nhiều thế hệ khác nhau.

Sẽ là chưa đầy đủ ở đây nếu không nhấn mạnh rằng phương pháp tiếp cận của Công Giáo không giả định rằng mọi sự chú giải đều có giá trị ngang bằng nhau. Nhà chú giải nào cũng có thể vô tình hay hữu ý đọc thấy trong một bản văn một điều gì đó không hề có ở đấy. Điều này gọi là “eisegesis” (chú giải diễn cách, tức thêm ý của mình vào). Nó đối ngược với “exegesis” – tức công việc chú giải từ Thánh Kinh. Trong khi các tiềm năng của ý sâu xa hơn có thể không bao giờ được khai thác đầy đủ, thì các nhà chú giải không được phép tùy tiện tưởng tượng bất cứ ý nghĩa nào vượt quá ý nghĩa mặt chữ mà họ muốn. Không những các từ ngữ vốn có vành đai ý nghĩa của chúng, mà Giáo Hội còn đảm nhận trách nhiệm cuối cùng trong việc định ranh giới những chú giải tưởng tượng không nhất quán với giáo huấn của Giáo Hội.

(4) Người Công Giáo cũng nhìn nhận tính qui điển của Thánh Kinh. Thật vậy, Qui điển Công Giáo được xác định với 46 Sách Cựu Ước và 27 Sách Tân Ước. (Vì một lý do lịch sử, qui điển Tin Lành gồm ít hơn: chỉ có 39 Sách Cựu Ước).[6] Tuy nhiên, không giống như những người theo chủ nghĩa cơ yếu, người Công Giáo nhấn mạnh rằng nguồn gốc của qui điển thuộc về một quyết định chính thức của Giáo Hội sơ khai khi Giáo Hội sơ khai tuyên bố những Sách nào thuộc qui điển – tức những Sách được linh hứng, và những sách nào bị loại ra khỏi danh mục này. Theo một nghĩa nào đó, tiến trình này có tính hai chiều. Một chiều là các Sách Thánh giúp hình thành cộng đoàn Giáo Hội, còn chiều kia là Giáo Hội – dưới sự hướng dẫn của Thánh Thần – đưa ra quyết định chung cuộc để xác định Sách nào thuộc về qui điển chính thức. Một ai đó phải tổ chức và tuyên bố những giới hạn của qui điển; qui điển đã không xuất hiện một cách độc lập đối với cộng đoàn Kitôhữu, ý chừng như chỉ bởi sự chuẩn nhận thần linh mà thôi. Một số bản văn Tân Ước (chẳng hạn các Thư Phaolô) đã lưu hành theo dạng được sưu tập nơi các cộng đoàn Kitôhữu đầu tiên trước khi Giáo Hội tuyên bố chính thức là các bản văn qui điển. Trong trường hợp của các bản văn Cựu Ước – những bản văn mà các Kitôhữu đầu tiên nhìn nhận trước hết là các bản văn thánh – thì qui điển của chúng có lẽ đã tồn tại vào khoảng năm 90 sau Công Nguyên. Đối với Tân Ước, tiến trình thiết định qui điển hầu chắc đã hoàn tất vào khoảng thời của Thánh Athanasiô (năm 367), nhưng tiến trình này vốn đã bắt đầu từ khoảng năm 90. Điều quan trọng nhất là cần ghi nhận rằng các Sách Thánh đã không phát triển một cách hoàn toàn độc lập đối với cộng đoàn Kitôhữu nhưng là cùng phát triển với cộng đoàn ấy.

(5) Giáo Hội Công Giáo mạnh mẽ chấp nhận giáo thuyết về sự linh hứng nơi các Sách Thánh, nhưng Giáo Hội không bám chặt vào bất cứ giả thuyết nào về sự linh hứng. Đã có nhiều cố gắng xuyên qua suốt giòng lịch sử thần học nhằm hình thành một giáo thuyết giải thích cách mà sự linh hứng làm việc. Phương pháp tiếp cận của Công Giáo không còn chấp nhận một giả thuyết giải thích sự linh hứng theo kiểu ‘đọc cho chép’, song đồng thời cách tiếp cận của Công Giáo khẳng định vai trò của Chúa Thánh Thần trong việc linh hứng cho tác giả nhân loại viết ra Lời Thiên Chúa để truyền đạt một cách trung thành thánh ý của Chúa. Thay vì dựa vào một giả thuyết chuyên biệt nào đó, Giáo Hội Công Giáo đề ra ba nguyên tắc chỉ dẫn chú giải để diễn dịch các Sách Thánh sao cho phù hợp với Thánh Thần là Đấng linh hứng Sách Thánh. Sách Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo tổng hợp như sau:

  1. Phải đặc biệt chú ý đến “nội dung và tính thống nhất của toàn bộ Thánh Kinh.”
  2. Phải đọc Thánh Kinh trong “Truyền Thống sống động của toàn thể Giáo Hội.”
  3. Phải chú ý đến loại suy của đức tin. (nghĩa là, tính mạch lạc chặt chẽ của tất cả những chân lý đức tin trong chương trình mạc khải của Thiên Chúa).[7]

Hiệu quả của ba nguyên tắc này là mở rộng bối cảnh của việc chú giải. Nó bao gồm các văn mạch của qui điển xét như một tổng thể và bao gồm các giáo huấn của Giáo Hội xuyên qua các thời đại. Từbối cảnh ở đây thật rất quan trọng. Theo nhãn quan Công Giáo, không được đọc các Sách Thánh bên ngoài bối cảnh rộng lớn hơn của Truyền Thống Giáo Hội và toàn bộ Thánh Kinh qui điển. Cha Raymond E. Brown, linh mục Xuân Bích và là một học giả Thánh Kinh lừng danh đã quá cố, vốn thường nói với các thính giả của ngài: “Một bản văn là Thánh Kinh chỉ khi nó nằm trong Thánh Kinh.” Nói cách khác, việc diễn dịch các bản văn bằng cách xem chúng đứng riêng rẽ một mình và tách rời khỏi bối cảnh toàn bộ Thánh Kinh có thể (và thường) dẫn tới chỗ diễn dịch sai lạc. Cẩn trọng giữ lấy nhãn giới của toàn bộ Thánh Kinh qui điển, trong khi đồng thời cố gắng hiểu ý nghĩa của từng bản văn riêng, việc đó đòi tính kỷ luật và đòi phải biết lưu ý tới lịch sử. Chúng ta hãy lấy ví dụ với loại văn chương tiên tri.

Chúng ta hãy nhìn thoáng qua 3 bản văn khác nhau từ Cựu Ước – đó là các Sách Isaia, Mika và Giôen. Hai trong ba bản văn này hoàn toàn giống nhau và dường như nói đến cùng một hình ảnh hòa bình, nhưng bản văn thứ ba rõ ràng đối nghịch lại hình ảnh ấy và – do đó – thay đổi sự chú giải:

Người sẽ đứng làm trọng tài giữa các quốc gia, / và phân xử cho muôn dân tộc; / Họ sẽ đúc gươm đao thành cuốc thành cày, / rèn giáo mác nên liềm nên hái; / Dân này nước nọ sẽ không còn vung kiếm đánh nhau, / và thiên hạ thôi học nghề chinh chiến. (Is 2,4)

Người sẽ đứng làm trọng tài giữa muôn nước, / và phân xử cho các dân hùng mạnh mãi tận xa; / Họ sẽ đúc gươm đao thành cuốc thành cày, / rèn giáo mác nên liềm nên hái; / Dân này nước nọ sẽ không còn vung kiếm đánh nhau, / và thiên hạ thôi học nghề chinh chiến… (Mk 4,3)

Hãy lấy cuốc lấy cày đúc thành gươm đao, / lấy hái lấy liềm rèn nên giáo mác; / Kẻ yếu nhược cũng nói: “Ta đây trang dũng sĩ!” (Ge 4,10)

Lấy ra khỏi bối cảnh, những lời ấy của Giôen trực tiếp đối nghịch với những lời của Isaia và Mika. Hai bản văn đầu có nguồn gốc ở thế kỷ thứ 8 trước Công Nguyên, thời gian của hai ngôn sứ lớn, Isaia và Mika. Hai bản văn ấy giống nhau về từ ngữ đến nỗi phần đông các học giả đều tin rằng bản văn này phụ thuộc vào bản văn kia, mặc dù không thể xác định rõ ai mượn của ai. Trong bối cảnh lịch sử của thời ấy, mỗi ngôn sứ đang đề cập đến sự đe dọa mà Assiri, nước láng giềng hùng hậu phía bắc, đang đè nặng trên quốc gia non trẻ Israel. Mỗi ngôn sứ đều nhận được Lời Thiên Chúa theo cách của mình và chuyển nó cho những người đương thời để thúc đẩy họ kiên trung tin tưởng vào Thiên Chúa. Các ngôn sứ chủ yếu rao giảng niềm trông cậy vào chỉ một mình Thiên Chúa chứ không vào bất cứ đòn phép thông thường nào. Sẽ tới ngày Thiên Chúa sẽ kết thúc chiến tranh và vãn hồi hòa bình và hòa điệu cho mọi dân tộc. Người ta không cần phải dựa vào những chiến lược chiến tranh nào để mưu tìm hòa bình và an ninh.

Sau đó một thời gian (khoảng sau cuộc lưu đày, có lẽ vào thế kỷ 6 trước Công Nguyên), Ngôn sứ Giôen đối diện với một hoàn cảnh hoàn toàn khác. Những lời của vị ngôn sứ này nằm trong một thị kiến về cuộc tính sổ sẽ xảy đến trên mọi dân tộc vào ngày chung thẩm, ngày mà Thiên Chúa hứa sẽ xếp đặt mọi sự đúng đắn. Qua vị tiên tri, Thiên Chúa kêu gọi họ vũ trang, nhưng với những mục đích phán xét “vào ngày đó”, tức ngày tính sổ công bằng của Thiên Chúa. Thị kiến hòa bình của Isaia và Mika đưa ra hai thế kỷ trước đó bị đảo lộn và được làm cho trở thành một lời kêu gọi chiến tranh, dẫu là cuộc chiến tranh trong đó Thiên Chúa sẽ là người chiến thắng và là người xét xử cuối cùng. Những bản văn này không nhằm đưa ra lời khuyên đối ngược nhau trong bất cứ hoàn cảnh nào. Thay vào đó, mỗi bản văn được áp dụng một cách chuyên biệt vào những tình huống nào đó mà Thiên Chúa nhắm đến bằng những lời tiên tri chuyên biệt trong những bối cảnh khác nhau. Nếu loại bỏ bối cảnh lịch sử và văn chương, sẽ không có cách nào hiểu chính xác các sứ điệp Thánh Kinh tỏ lộ ý định của Thiên Chúa như thế nào. Thật vậy, các ngôn sứ đưa ra những lời khuyên rất khác nhau. Đấy bởi vì Lời Thiên Chúa đến với các ngài trong những hoàn cảnh khác nhau. Những sứ điệp khác nhau, vì thế, không xâm hại đến chân lý của các Sách Thánh, nhưng trái lại đặt các Sách Thánh vào đúng bối cảnh của chúng cho các thế hệ tướng lai khám phá.

Dĩ nhiên, thách đố thực sự của việc chú giải là áp dụng các bản văn Thánh Kinh vào những hoàn cảnh hiện nay bằng những cách sao cho trung thành với bản văn. Những lời của Isaia và Mika xem ra kích cảm hơn đối với các Kitôhữu chúng ta hôm nay, nhưng những lời của Giôen có mặt trong qui điển trong tư cách là một chứng nhân cho một nhãn giới khác trong những trường hợp khác.

Nói tóm, trong khi người Công Giáo và những người theo chủ nghĩa cơ yếu có một số yếu tố chung, họ cũng khác biệt nhau trong phần lớn các phương pháp chú giải và các vấn đề về Thánh Kinh. Tôi xin tổng hợp sự tương phản bằng biểu đồ sau đây:

Nhãn giới của chủ nghĩa cơ yếu về Thánh Kinh Nhãn giới của Công Giáo về Thánh Kinh
Thánh Kinh là Lời Thiên Chúa Thánh Kinh là Lời Thiên Chúa trong ngôn ngữ nhân loại
Chỉ Thánh Kinh mà thôi Thánh Kinh  Truyền Thống
Nhấn mạnh việc hiểu theo sát mặt chữ Thánh Kinh Nhấn mạnh việc đọc hiểu mặt chữ và hiểu ý nghĩa thiêng liêng sâu xa hơn của bản văn
Hiểu sự linh hứng cách chật hẹp Hiểu sự linh hứng cách rộng thoáng
Thánh Kinh có tính không sai lầm trong mọi vấn đề Thánh Kinh không sai lầm chỉ trong những vấn đề thuộc đức tin hay luân lý
Thiếu nhãn giới lịch sử trong việc chú giải Nhãn giới lịch sử là thiết yếu trong việc chú giải
Sự chú giải thường ra ngoài bối cảnh Cần chú giải trong bối cảnh, nhất là bối cảnh qui điển Sách Thánh
Áp dụng trực tiếp hầu hết các bản văn Thánh Kinh Việc áp dụng các bản văn Thánh Kinh phần lớn là gián tiếp
Phủ nhận vai trò của Giáo Hội trong việc ấn định qui điển các Sách Thánh Nhìn nhận vai trò của Giáo Hội trong tiến trình ấn định qui điển
Có khuynh hướng bỏ qua lịch sử của việc chú giải Lịch sử của việc chú giải có tầm quan trọng thiết yếu
Những lời tiên tri cánh chung được hiểu theo nghĩa hẹp từng chi tiết và thường được gắn kết với một giai đoạn nhất định nào đó. Những lời tiên tri cánh chung được hiểu nghĩa rộng, không câu nệ từng chi tiết, và không gắn kết với bất cứ một giai đoạn chuyên biệt nào
Bác bỏ các phương pháp chú giải khoa học có tính phê bình lịch sử Chấp nhận các phương pháp chú giải phê bình lịch sử (giữa các phương pháp khác)

Nhiều trong số những khác biệt kể trên bộc lộ nơi những chú giải chuyên biệt, song ngay cả một số nguyên tắc chung cũng bất đồng nhau. Đáng kể trước hết là sự chấp nhận của Công Giáo đối với việc nghiên cứu Thánh Kinh có tính phê bình hiện đại và sự tôn trọng đối với bối cảnh văn chương và lịch sử của mỗi bản văn Thánh Kinh. Giáo Hội ít khi xác định ý nghĩa của các bản văn song chỉ đưa ra những hướng dẫn chung để đọc các Sách Thánh trong bối cảnh rộng lớn hơn của đức tin Công Giáo.

Ronald D. Witherup, S.S.

Lê Công Đức Chuyển ngữ

—–

[1] tức Thông Điệp Providentissimus Deus, 1893

[2] xem Dei Verbum, Hiến Chế về Mạc Khải, số 11 – được trích dẫn trong Sách Giáo Lý Của Giáo Hội Công Giáo, số 107.

[3] Report on Sacred Scripture, Origins 29:17, 7 tháng 10, 1999; 266-67

[4] Dei Verbum, Hiến Chế về Mạc Khải, số 21.

[5] xem Sách Giáo Lý Của Giáo Hội Công Giáo, số 126

[6] xem Witherup, The Bible Companion, 12-15

[7] Sách GLCGHCG, 112-114

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s