Chủ nghĩa cơ yếu tiếp cận Thánh Kinh như thế nào? (2)

VRNs (12.03.2015) – Sài Gòn – Giải thích Thánh Kinh, đó là vấn đề thường gây đụng chạm giữa những người cơ yếu với các Kitô hữu khác. Những người theo chủ nghĩa cơ yếu Thánh Kinh đã phát triển một cách tiếp cận Thánh Kinh độc đáo trong cảnh vực Tin Lành – và chúng ta phải hiểu cách tiếp cận này trước khi chúng ta có thể đối chiếu nó với cách tiếp cận của Công Giáo. Chương này sẽ phác họa những đặc điểm chính của phương pháp tiếp cận này.

 150309004

Những Nguyên Tắc Giải Thích Thánh Kinh

Nguyên tắc chính mà những người cơ yếu bám vào trong việc giải thích Thánh Kinh, đó là Thánh Kinh là thẩm quyền duy nhất về những gì Thiên Chúa nói và muốn. Thánh Kinh là nguồn duy nhất và đủ để hướng dẫn luân lý. Có một số hệ luận suy ra từ nguyên tắc này. Thứ nhất, Thánh Kinh chứa tất cả những gì bạn cần biết. Không cần phải bổ sung cho nó những giáo thuyết hay những điều tin tưởng khác. Thứ hai, Thánh Kinh nói chính xác điều nó muốn nói và muốn nói điều nó nói. Không cần có một trung gian bên ngoài nào để giải thích điều Thánh Kinh dạy; giáo huấn của Thánh Kinh tự nó sáng tỏ cách đầy đủû. Ý nghĩa nằm ở chính mặt chữ, và bất cứ ai có thể đọc thì cũng có thể hiểu điều Thánh Kinh nói. Thứ ba, vì Thánh Kinh là Lời của Thiên Chúa, nên dĩ nhiên nó không sai lầm – nghĩa là không có một sai lỗi nào dù thuộc bất cứ loại nào. Hệ luận này dựa trên một tam đoạn luận ba vế có thể được định thức hóa như sau:

Đại tiền đề:  Thiên Chúa không thể sai lầm.

Tiểu tiền đề: Thánh Kinh là Lời Thiên Chúa.

Hợp đề: Vì thế, Thánh Kinh không thể sai lầm.

Đây là một cấu trúc luận lý trong hệ thống của những người theo chủ nghĩa cơ yếu. Hơn nữa, nếu Thánh Kinh mắc sai lầm dù chỉ trong vấn đề bé nhỏ nhất, thì chân lý của nó sẽ hoàn toàn bị rúng chuyển. Không trung thành trong việc nhỏ, sẽ không trung thành trong những điều lớn hơn! Một hệ quả thứ tư, đó là thẩm quyền luân lý của Thánh Kinh vẫn có hiệu lực cho mọi thời. Không thể có sự nhượng bộ nào về thẩm quyền đó. Cuối cùng, những người theo chủ nghĩa cơ yếu tin rằng năng lực tiên tri của Thánh Kinh hướng chỉ trực tiếp đến thời đại của chúng ta, bất kể khung cảnh lịch sử nguyên thủy của nó như thế nào.

Nguyên tắc chính yếu này và các hệ quả kèm theo của nó có quan hệ hỗ tương với nhau và mở ra một cách tiếp cận đặc thù với bốn ý niệm chìa khóa để đọc Thánh Kinh: thẩm quyền (qui điển), linh hứng, chú giải, và tiên tri. Mỗi ý niệm này đều cần chúng ta tìm hiểu.

Thẩm Quyền

Thánh Kinh là thẩm quyền duy nhất, quan điểm này bắt nguồn từ thời Cải Cách vào thế kỷ 16 của Martin Luther và những người khác. Khẩu hiệu sola scriptura (La tinh: “chỉ có Thánh Kinh thôi”) trở thành một dấu ấn về cách tiếp cận đức tin Kitô giáo của những người Cải Cách trong so sánh với khẳng định của Giáo Hội Công Giáo về tầm quan trọng của huấn quyền Giáo Hội xuyên qua lịch sử. Khẩu hiệu ấy đứng song song với hai câu nói La tinh khác nhấn mạnh sự tin cậy của Tin Lành vào duy chỉ một mình Thiên Chúa (sola fide, “chỉ đức tin thôi”, và sola gratia, “chỉ ân sủng thôi”). Tuy nhiên, những người theo chủ nghĩa cơ yếu bị thúc ép phải chỉ ra cho thấy bản văn nào trong Thánh Kinh khẳng quyết rằng chỉ mình Thánh Kinh là đủ cho sự hướng dẫn luân lý. Thật vậy, một số người cơ yếu nhận ra rằng không nơi đâu trong bản thân Thánh Kinh tuyên bố thẩm quyền duy nhất và độc chiếm này, song họ vẫn bảo quản nó như là một nguyên tắc căn bản.

Các bản văn trong đó Thánh Kinh tự nói về Thánh Kinh thì rất ít ỏi và thưa thớt. Có ba bản văn rõ nhất. Có thể lấy bản văn hùng hồn của Isaia sau đây làm ví dụ:

Cũng như mưa với tuyết sa xuống từ trời, không trở về trời nếu chưa thấm xuống đất, chưa làm cho đất phì nhiêu và đâm chồi nẩy lộc, cho kẻ gieo có hạt giống, cho người đói có bánh ăn, thì lời Ta cũng vậy, một khi xuất phát từ miệng Ta, sẽ không trở về với Ta nếu chưa đạt kết quả, chưa thực hiện ý muốn của Ta, chưa chu toàn sứ mạng Ta giao phó (Is 55,10-11)

Bản văn đầy sắc thái thi ca này – xuất phát từ Isaia Đệ Nhị, vị tiên tri khuyết danh của thời lưu đày Babylon – nói về tính hiệu quả của Lời Thiên Chúa. Tuy nhiên, chúng ta phải ghi nhận rằng có một quan điểm cơ yếu không nhìn nhận bản tính lắp ghép của Sách Isaia. Đa số các học giả, dù là Tin Lành, Công Giáo hay Do thái giáo, đều tin rằng Sách Isaia thực sự bao gồm những lời tiên tri của ba vị ngôn sứ thuộc ba giai đoạn khác nhau trong lịch sử It-ra-en, Isaia của Giê-ru-sa-lem (thế kỷ 8 trước Công Nguyên) và hai ngôn sứ khuyết danh thuộc các giai đoạn sau (thế kỷ 6-5 trước Công Nguyên) được mệnh danh là Isaia Đệ Nhị và Isaia Đệ Tam. Các ký lục đã kết hợp những tư liệu này thành một quyển sách duy nhất do những nét tương đồng của nhãn giới tiên tri và chủ đề của các lời tiên tri. Cũng có khả năng là các ngôn sứ khuyết danh về sau đã hữu ý tạo phong cách cho mình theo hình mẫu của Ngôn sứ Isaia thế kỷ thứ 8. Trong bất luận trường hợp nào, quyển sách cũng là một quyển sách lắp ghép.

Theo văn mạch của Isaia 55,1-13, sứ điệp của bản văn này liên quan đến lời Thiên Chúa hứa khôi phục dân được chọn sau thời gian lưu đày. Lời Thiên Chúa được so sánh với mưa và tuyết từ trời rơi xuống và làm cho đất phì nhiêu. Lời của Thiên Chúa thì luôn trung thành; lời ấy hứa tái lập dân It-ra-en và điều đó sẽ được thực hiện. Cũng như nước chuyển hóa sa mạc thành vườn cây, thì Lời Thiên Chúa sẽ chuyển hóa dân It-ra-en eo sèo cằn cỗi một lần nữa trở thành một dân tộc phồn vinh. Sứ điệp chính yếu, vì thế, là tính đáng tin cậy của Lời Thiên Chúa. Thiên Chúa nói, đó có nghĩa là ý Thiên Chúa được thực hiện. Việc hứa tính hiệu quả của Lời Thiên Chúa không hề nói gì về vấn đề Thiên Chúa có dùng các phương tiện khác – bên cạnh lời của Ngài – để hoàn thành thánh ý Ngài hay không. Bản văn này chỉ đơn thuần khẳng định rằng Lời Thiên Chúa đầy hiệu năng. Còn hai bản ‘Thánh Kinh nói về Thánh Kinh’ kia thì đề cập đến linh hứng – chúng ta sẽ trở lại với hai bản văn ấy sau.

Thẩm Quyền Và Qui Điển

Một khía cạnh quan trọng khác của thẩm quyền là ý niệm về qui điển. Mọi Kitô hữu đều xem Thánh Kinh là các bản văn qui điển. Ý niệm về qui điển được rút ra từ Hy ngữ (kanõn, “chuẩn mực đo lường”). Nó hàm nghĩa rằng Thánh Kinh có thể được dùng như một phương tiện để đo lường sự tiến bộ tâm linh và luân lý của người ta. Gọi Thánh Kinh là qui điển, đó là chấp nhận nó là một tuyển tập những tác phẩm có thẩm quyền được dùng để hướng dẫn đời sống mình. Cùng với các Kitô hữu khác, những người theo chủ nghĩa cơ yếu rõ ràng nhìn nhận chức năng qui điển này của Thánh Kinh, nhưng họ hiểu nguồn của qui điển một cách phi lịch sử. Họ khẳng định sự tồn tại của qui điển nhưng không nhìn nhận tiến trình hình thành qui điển. Nhiều người theo chủ nghĩa cơ yếu quan niệm việc hình thành Thánh Kinh như một thực tại được mở ra, cơ hồ như nó bỗng dưng xuất hiện cho con người với sứ điệp thần linh nguyên vẹn. Họ không ngây ngô đến mức nghĩ rằng Thánh Kinh bỗng dưng từ trên trời rơi xuống, nhưng họ cho rằng các tác giả nguyên thủy được Thiên Chúa hướng dẫn một cách nào đó để viết mọi chữ với sự chính xác bất khả ngộ, vì thế sản sinh ra một bản văn bất khả ngộ.

Đa số các học giả Thánh Kinh, dù là Tin Lành hay Công Giáo, đều nhìn nhận những nguồn phức tạp của qui điển Thánh Kinh Kitô giáo. Các bản văn Cựu và Tân Ước đã tiến hóa qua hàng ngàn năm trong một tiến trình bao gồm các truyền thống truyền khẩu, ghi chép, sưu tập và hiệu đính – một tiến trình chắc chắn cho phép có những sự tài bồi len vào. Cộng đoàn Kitô hữu, tức Giáo Hội, một lúc nào đó đã phải quyết định xem những quyển nào thuộc qui điển và những quyển nào phải bị loại ra. Phần đông các học giả tin rằng qui điển Tân Ước đã được hoàn thành dứt khoát vào khoảng thế kỷ thứ tư sau Công Nguyên, khoảng thời của Thánh Athanasiô, Giám mục Alexandria.[1] Tiến trình này rất quan trọng đối với việc chú giải vì nó cho phép có những giải thích đối kháng nhau và cho thấy sự phát triển lịch sử của những nhãn quan luân lý qua thời gian, một điều mà cách tiếp cận Thánh Kinh của những người theo chủ nghĩa cơ yếu phớt lờ không quan tâm đến.  Họ không nhìn nhận rằng Giáo Hội đã hình thành nên qui điển Thánh Kinh theo sự hướng dẫn của Thánh Thần.

Chúng ta cũng cần ghi nhận rằng sự hình thành qui điển không hoàn toàn tùy tiện. Đã có một số tiêu chuẩn được chấp nhận mà Giáo Hội áp dụng để ấn định những sách nào được đưa vào qui điển và những sách nào phải bị loại ra. Trong số các tiêu chuẩn ấy có tiêu chuẩn về nguồn tác giả Tông Đồ [2] của các bản văn, về tính cổ xưa của các bản văn, về việc các bản văn được sử dụng công khai và rộng rãi giữa các cộng đoàn Kitô hữu khác nhau, về tính linh hứng được gán cho các bản văn ấy (bản văn thánh), về tính nhất quán với nhau, và về nhãn quan giáo thuyết đúng đắn về Đức Giêsu Kitô. Tuy vậy, tiến trình này không luôn luôn trơn tru và đã dẫn tới những bất đồng, có những bất đồng đã kéo dài nhiều thế kỷ. Có những lúc, Giáo Hội quyết định đào thải ra khỏi qui điển những tác phẩm Kitô giáo sơ khai như sách Didache, các thư của Thánh Inhaxiô thành Antiokhia, … cùng với những sách Phúc Âm bị hồ nghi là ngụy thư. Điểm chú ý của chúng ta ở đây là nhấn mạnh quá trình phát triển lâu dài và rắc rối của qui điển Kitô giáo mà những người theo chủ nghĩa cơ yếu có khuynh hướng phớt lơ.

Linh Hứng

Thẩm quyền có tính qui điển của Thánh Kinh dựa trên khẳng quyết rằng nó là các bản văn được linh hứng. Nguồn gốc độc nhứt của nó ở nơi chính Thiên Chúa Đấng là tác giả tối thượng của nội dung Thánh Kinh. Đối với những người theo chủ nghĩa cơ yếu, bản văn quan trọng nhất về thẩm quyền của Thánh Kinh là một bản văn trích ở 2Timôthê, như sau:

Tất cả những gì viết trong Sách Thánh đều do Thiên Chúa linh hứng, và có ích cho việc giảng dạy, biện bác, sửa dạy, giáo dục để trở nên công chính. Nhờ vậy, người của Thiên Chúa nên thập toàn, và được trang bị đầy đủ để làm mọi việc lành (3,16-17).

Lý do để gán thẩm quyền độc đáo này cho Thánh Kinh là vì Thánh Kinh được mọi Kitô hữu nghĩ là văn chương được linh hứng cách độc đáo. Không có thứ văn chương nào khác có thẩm quyền tương tự. Vẻ đẹp và sự thật chứa trong các tác phẩm của William Shakespeare, Robert Frost, hay tác giả được ưa thích nào khác có thể inspiring (truyền cảm hứng), chứ không thể inspired (được linh hứng). Chúng ta hãy xem xét ý niệm linh hứng này một cách kỹ lưỡng hơn.

Mọi Kitô hữu đều tin rằng Thánh Kinh là Lời Thiên Chúa được linh hứng. Họ bảo vệ điều mà họ gọi là “giáo thuyết về linh hứng”. Khẳng định rằng Thánh Kinh được linh hứng, điều đó không hoàn toàn giống với việc nói sự linh hứng này làm việc thế nào hay được thực hiện thế nào. Chúng ta thử xem bản văn trong 2Timôthê nói gì. Những nhận xét sau đây là rất quan trọng.

Trước hết, hãy ghi nhận rằng mấy chữ “tất cả những gì viết trong Sách Thánh” (Hy ngữ: pasa graphẽ) qui chiếu đến những Sách Thánh quen thuộc với thính giả mà lá thư này nhắm đến (cf. thành ngữ “đúng như lời Kinh Thánh” trong 1Cr 15,3.4). Vào thời gian mà lá thư này được biên soạn, Tân Ước chưa hề tồn tại như là một bộ sưu tập các tác phẩm có thẩm  quyền. (Nguồn tác giả của lá thư này bị tranh cãi. Phần đông các học giả cho rằng bức thư được viết khoảng năm 64-68 hoặc 80-90 của Công Nguyên, tùy thuộc vào sự kiện nó được viết bởi các môn đệ ban đầu của Phaolô hay bởi các môn đệ muộn hơn về sau – viết nhân danh Phaolô. Đa số các học giả nghi rằng không phải chính Phaolô viết bức thư.) Nói cách khác, việc qui chiếu đến Sách Thánh ở đây chính là qui chiếu đến cái mà các Kitô hữu gọi là Cựu Ước (Thánh Kinh Do thái) – theo sự nhận biết của các Kitô hữu sơ khai thì Cựu Ước là Sách Thánh có thẩm quyền. Dĩ nhiên, sự chú giải của Kitô giáo về sau nhìn nhận rằng tất cả những Sách Thánh được xem là qui điển đều nhận cùng một thẩm quyền ấy. Và đó là lý do tại sao bản văn này hiện nay có thể được áp dụng cho cả Cựu Ước lẫn Tân Ước.

Thứ hai, tính từ “được linh hứng” (Hy ngữ: theopneustos) có nghĩa sát chữ là “được Thiên Chúa thở hơi”. Tính từ này chỉ xảy ra một lần trong toàn bộ Thánh Kinh, và đó chính là trong bản văn này. Cũng như trong gốc Anh ngữ “inspire” (thở hơi vào), gốc Hy ngữ khẳng định rằng Thiên Chúa đã thổi sự sống hay ý nghĩa vào trong những lời được gọi là Sách Thánh. Những lời ấy chứa Thần Khí của Thiên Chúa. Thiên Chúa đứng đàng sau các bản văn ấy trong tư cách là tác giả tối thượng, mặc dù Ngài làm việc xuyên qua các tác giả nhân loại. Từ ngữ “được linh hứng” không chứa bất cứ một hàm ý nào về cách mà sự linh hứng ấy được thực hiện.  Từ ngữ ấy cũng không đụng chạm gì đến vấn đề linh hứng “cái gì”. Linh hứng lời nói truyền khẩu hay bản văn ghi chép? Linh hứng các bản văn bằng tiếng Do thái hay các ản văn bằng tiếng Hy lạp? Có linh hứng các bản dịch không? Từ ngữ ấy chỉ khẳng định rằng Thiên Chúa là nguồn của những lời ấy. Thiên Chúa là tác giả tối thượng. Vì thế, các bản văn thánh chứa sứ điệp mà Thiên Chúa muốn nói.

Cuối cùng, bản văn trích dẫn trên phác họa cho thấy tại sao việc có những bản văn linh hứng là điều rất quan trọng. Nó hữu dụng (Hy ngữ: õphelimos, “hữu dụng, có lợi, thuận lợi”) cho nhiều công việc khác nhau của người Kitô hữu: giảng dạy, biện bác, sửa dạy, giáo dục để trở nên công chính. Mục đích là để đào tạo một Kitô hữu chính danh. Thánh Kinh hữu dụng về phương diện này. Bất chấp tình trạng được linh hứng cách độc đáo của nó, Thánh Kinh không bao giờ tự nhận rằng nó là nguồn duy nhất để đào tạo người Kitô hữu. Đúng hơn, trong việc chỉ dẫn và sửa dạy về luân lý để người ta sống một đời sống công chính, Sách Thánh là một hướng dẫn viên đáng tin cậy, một nguồn hữu dụng. Thật vậy, tất cả các Kitô hữu đều cho rằng Thánh Kinh không thể thiếu được cho một đời sống Kitô hữu đích thực. Tuy nhiên, bản văn không giải thích chính xác sự linh hứng làm việc như thế nào cũng không bảo vệ nguyên tắc sola scriptura (chỉ Sách Thánh thôi).

Một bản văn khác mà những người theo chủ nghĩa cơ yếu dùng để giải thích lập trường của họ về sự linh hứng, đó là bản văn trích từ 2 Phêrô:

Nhất là anh em phải biết điều này: không ai được tự tiện giải thích một lời ngôn sứ nào trong Sách Thánh. Quả vậy, lời ngôn sứ không bao giờ lại do ý muốn người phàm, nhưng chính nhờ Thánh Thần thúc đẩy mà có những người đã nói theo lệnh của Thiên Chúa (1,20-21)

Một cách thiết yếu, bản văn này nói rằng những lời nói ngôn sứ không bắt nguồn từ con người nhưng là bắt nguồn từ Thiên Chúa. “Thánh Thần” là nguồn của lời ngôn sứ, và sự giải thích các lời ngôn sứ không dựa vào sự nhận hiểu của một cá nhân nhưng là dựa vào ý Thiên Chúa muốn nói được chứa đựng trong các bản văn thánh. Nhưng một lần nữa chúng ta ghi nhận ở đây rằng bản văn trích dẫn trên không giải thích bằng cách nào người ta có được một sự chú giải đúng đắn. Việc khẳng định rằng Thánh Thần là nguồn của Sách Thánh và của nhà chú giải đích thực thì tương hợp với bản tính được linh hứng của Thánh Kinh, nhưng việc khẳng định như thế không giải thích khía cạnh “thế nào” của việc chú giải. Thật thú vị, bản văn này cũng chống lại sự chú giải cá nhân, một cái gì đó có tính đặc trưng của phương pháp tiếp cận Thánh Kinh theo chủ nghĩa cơ yếu.

Vì giáo thuyết về linh hứng là một phần thiết yếu của tất cả các giáo phái Kitô giáo, nên không đáng ngạc nhiên việc mỗi giáo phái vật lộn với công việc xác định cách thế mà  sự linh hứng làm việc. Những người theo chủ nghĩa cơ yếu chấp nhận giả thuyết “plenary verbal inspiration” (linh hứng hoàn toàn sát từng chữ). Điều này có nghĩa rằng mọi lời của các bản văn nguyên thủy của Thánh Kinh đều được linh hứng cách hoàn toàn và hoàn toàn không sai lầm. Những người theo chủ nghĩa cơ yếu hiểu thuyết linh hứng của họ theo ba nguyên tắc:

 (1)  Thánh Kinh được linh hứng từng chữ, nghĩa là không chỉ các sứ điệp được linh hứng mà chính các từ cũng được linh hứng.

 (2)  Thánh Kinh được linh hứng trọn vẹn, nghĩa là các lời của Thánh Kinh không duy chỉ là lời nhân loại nhưng đó là Lời Thiên Chúa, chứa đầy đủ sứ điệp mà Thiên Chúa muốn nói.

 (3)  Thánh Kinh hoàn toàn không sai lầm, nghĩa là dứt khoát không thể có một sai lầm nào trong đó

Ở đây, chúng ta cần ghi nhận rằng thuật ngữ “không sai lầm” (inerrant) và “bất khả ngộ” (infallible) được sử dụng một cách đồng nghĩa. Một số người Tin Lành hơi châm biếm khi gọi việc sử dụng Thánh Kinh một cách quá độc đoán là “giáo hoàng giấy”, và điều này càng cho thấy rõ mối nối kết giữa hai thuật ngữ trên. Một phát ngôn viên thuộc chủ nghĩa cơ yếu tóm tắt tính không sai lầm như sau:

Thánh Kinh trong toàn phần của nó ủy trao Lời được ghi chép của Thiên Chúa cho con người [sic]. Lời này không mắc sai lỗi nào trong bản thảo viết tay nguyên thủy của nó… Nó hoàn toàn đáng tin cậy về lịch sử và giáo thuyết… Các tác giả Sách Thánh, dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, được gìn giữ để khỏi vướng mắc những sai lỗi về khoa học, lịch sử, về tính xác thực và về những lãnh vực khác.[3]

Chính từ “bản thảo viết tay” (autograph) cũng cần phải được giải thích. Những người theo chủ nghĩa cơ yếu đặt sự xác tín của họ trên sự tồn tại của những bản thảo nguyên thủy – chẳng hạn, như được mô tả trong Giêrêmia 36,1-32, là bản văn kể lại việc Giêrêmia đọc cho thư ký của mình là Baruch ghi chép. Song cuối cùng các bản thảo nguyên thủy đã thất lạc qua thời gian. Tuy nhiên, vì các bản thảo viết tay không còn tồn tại nữa, nên không có cách nào để tái lập bản văn nguyên thủy với sự chắc chắn. Chẳng hạn, hiện có vài ngàn bản thảo Tân Ước bằng tiếng Hi lạp, nhưng không bản nào trong chúng là nguyên thủy. Tất cả chúng là những bản sao lại từ các bản sao (copies of copies) được viết qua nhiều thế kỷ bởi các ký lục có trách nhiệm bảo quản chúng và chuyển trao chúng cho các thế hệ tương lai. Các bản thảo ấy, nhiều bản trong chúng ở trong tình trạng rời rạc, có nguồn gốc từ khoảng thế kỷ 2-10 sau Công Nguyên, hàng trăm năm sau khi xảy ra các biến cố mà chúng tường thuật. Không hề dễ dàng chút nào việc xác định xem bản thảo viết tay nguyên thủy của những bản sao ấy thì như thế nào, vì thế việc xác định ý niệm “linh hứng” là một việc không hề đơn giản.

Mặc dù những người theo chủ nghĩa cơ yếu bảo vệ lý thuyết về sự linh hứng trọn vẹn, ngày nay ít có ai chủ trương rằng linh hứng là ‘đọc từng chữ cho chép’ (nghĩa là Thiên Chúa trực tiếp đọc cho các tác giả nhân loại viết ra). Bằng “khoa phê bình bản văn”, các học giả có thể khảo sát các bản thảo trong đó có thể dò tìm ra các sai lỗi của nhân viên ký lục qua những khác biệt cỏn con nhất về cách diễn đạt trong các ngôn ngữ nguyên thủy– và điều đó đã cho thấy rằng không thể có chuyện ‘đọc cho chép’ ở đây. Tác giả được trích dẫn trên đây, Harold Lindsell, nhấn mạnh tính phù phiếm của giả thuyết ‘đọc cho chép’, mặc dù ông nhìn nhận rằng đó là một giả thuyết được kiên thủ bảo vệ nơi một số người cơ yếu bảo thủ thái quá.

Giả thuyết ‘linh hứng hoàn toàn từng chữ’ nhấn mạnh nhu cầu phải có sự chú giải từng chữ các bản văn Thánh Kinh, nhưng không phải trong hết mọi trường hợp. Như vậy, khi Thánh Kinh nói rằng thế giới được tạo dựng trong bảy ngày (St 1,1-2,4), thì đó là nó muốn chỉ một tuần (7 ngày x 24 giờ) như ý niệm thông thường của chúng ta về chữ “ngày”. Khi Thánh Kinh nói các bức tường Giê-ri-khô đổ nhào trong tiếng tù và vang dội (Gs 6,1-20), thì nghĩa là sự việc đã xảy ra đúng y như thế. Nhưng khi Thánh Kinh nói “nếu mắt ngươi nên dịp tội cho nguơi, hãy móc mắt đi” (Mt 5,29) hoặc “họ sẽ cầm rắn rết trong tay, và nếu họ uống phải chất độc, cũng chẳng bị hại gì” (Mc 16,18), thì không phải tất cả những người theo chủ nghĩa cơ yếu đều hiểu theo sát mặt chữ. Những người cơ yếu cũng nhìn nhận việc sử dụng các lối nói hình tượng trong Thánh Kinh, như biểu tượng, ẩn dụ, cường điệu … ngay cả trong khi họ vẫn chủ trương một lối giải thích thiên về mặt chữ. Phái duy Tin Mừng và các phái Tin Lành khác chủ trương một giả thuyết về linh hứng ít cứng nhắc hơn, đó là giả thuyết về “sự linh hứng từng chữ có giới hạn”, liên quan đến tính không sai lầm trong những vấn đề về đức tin hay luân lý hơn là liên quan đến lịch sử hay khoa học.

Như bạn đọc có thể nhận thấy, việc giải thích lý thuyết linh hứng là một công việc đầy gai góc. Những nỗ lực của những người theo chủ nghĩa cơ yếu trong việc giải thích cách thức mà sự linh hứng làm việc vẫn còn quá nhiều lấn cấn. Việc chấp nhận giả thuyết linh hứng từng chữ và trọn vẹn đặt người ta vào một chỗ thật lúng túng trước những tương phản trong Thánh Kinh.

Khoa Chú Giải Cổ Bản

Việc áp dụng Thánh Kinh thường là trung tâm của những tranh cãi về chú giải. Bằng cách nào chúng ta có thể áp dụng những bản văn cổ cho các hoàn cảnh mới của thời hiện đại? Khoa chú giải cổ bản (hermeneutics, Hy ngữ: “hermeneuõ”) tựu trung là một khoa giải thích. Người ta có thể nói rằng thách đố quan trọng thật sự đối với mọi Kitô hữu là học biết cách giải thích Thánh Kinh cho đúng đắn. Mọi thời đại, người ta đều phải phấn đấu để biết cách áp dụng Sách Thánh vào thời đại của mình và vào cuộc sống của mình. Về sự linh hứng, có nhiều giả thuyết khác nhau; thì cũng vậy, về chú giải, cũng có nhiều phương pháp khác nhau.

Về mặt chú giải, những người theo chủ nghĩa cơ yếu chủ trương một quan điểm có thể được gọi là “chuyển trực tiếp”. Nghĩa là Thánh Kinh có thể được trực tiếp áp dụng vào mọi vấn đề, không chỉ những vấn đề tôn giáo mà cả những vấn đề khoa học và lịch sử nữa. Một hệ quả của cách tiếp cận này, đó là Tân Ước giải thích Cựu Ước và thay thế cho Cựu Ước về mặt nghi thức nhưng không thay thế về mặt giáo huấn luân lý. Một lần nữa, có những người cơ yếu khác chủ trương một quan điểm rộng rãi hơn và nói rằng Thánh Kinh có thể được  áp dụng trực tiếp trong những vấn đề về đức tin và luân lý mà thôi chứ không phải trong những vấn đề về khoa học hay lịch sử.

Bất cứ bản văn nào không rõ ràng đều được giải thích dựa vào những bản văn rõ ràng hơn, để cho những mâu thuẫn chỉ có tính biểu kiến hơn là thực. Những người theo chủ nghĩa cơ yếu có những ‘tưởng tượng vòng vo’ trong việc chú giải để hòa hợp những mâu thuẫn rõ ràng trong Thánh Kinh. Chúng ta hãy xem xét vài ví dụ minh họa.

Một ví dụ tốt ở đây là cách đọc và hiểu Sáng Thế 1-2, bản văn mà phần đông các học giả xem là hai câu chuyện tách biệt nhau về sự sáng tạo được viết bởi những tác giả khác nhau vào những thời gian khác nhau. Đa số các học giả Thánh Kinh chấp nhận Sáng Thế 1 có nguồn gốc từ khoảng thế kỷ 6 trước Công Nguyên, do một nhóm ký lục quan tâm đến việc bảo vệ các truyền thống phụng vụ của Do Thái giáo (quan tâm về giản đồ 7 ngày sáng tạo và về ý niệm ngày sa-bát). Sáng Thế 2, đàng khác, là một truyền thống xuất hiện sớm hơn, nguyên sơ hơn, vào khoảng thế kỷ 10 trước Công Nguyên. Tuy nhiên, Những người theo chủ nghĩa cơ yếu không xem hai câu chuyện đó là tách biệt nhau, câu chuyện thứ nhất (St 1,1-2,4) có tính thi ca và câu chuyện thứ hai (St 2,4-25) có tính nhân hình hóa (anthropomorphic), nghĩa là mô tả Thiên Chúa bằng những đặc tính con người, như một thợ chạm thần linh tạo thành con người đầu tiên từ bụi đất. Đối với những người theo chủ nghĩa cơ yếu, đây không phải là một câu chuyện thứ hai về sáng tạo nhưng chỉ là những mô tả “chi tiết hóa” câu chuyện sáng tạo. Điều này làm cho những khác biệt trong các bản tường thuật chỉ có tính biểu kiến thôi chứ không thuộc bản chất. Họ cũng khẳng quyết rằng nhãn quan này về sáng tạo phải được dạy như một lý thuyết khoa học ngang hàng với thuyết tiến hóa. Họ chiến đấu cho cái mà họ gọi là “sáng tạo thuyết đầy tính khoa học” (scientific creationism). Trong suy nghĩ của họ, thuyết sáng tạo ấy cũng vững chắc như bất cứ thuyết nào khác. Họ kiên cường đấu tranh để bảo vệ giáo thuyết rằng Adam và Eva là những nhân vật cụ thể trong lịch sử.

Một ví dụ khác được tìm thấy trong khuynh hướng đan kết những trình thuật Thánh Kinh thành một trình bày thống nhất. Theo đó, khi các Tin Mừng Nhất lãm (Mátthêu, Máccô, Luca) mô tả việc Đức Giêsu thanh tẩy Đền Thờ xảy ra vào cuối sứ mạng công khai của Người, còn Gioan đặt biến cố đó vào đầu sứ mạng của Đức Giêsu, thì những người theo chủ nghĩa cơ yếu xem đó là hai trường hợp khác nhau, một trường hợp xảy ra trước, còn trường hợp kia xảy ra sau.[4] Phần đông các học giả không nghĩ rằng Đức Giêsu đã thanh tẩy Đền Thờ hai lần, xét vì bản chất không bình thường của cử chỉ ấy. Một giải thích có nhiều khả năng đúng hơn, đó là các soạn giả Tin Mừng thực hiện một sự phá cách ở đây – để đặt câu chuyện vào những chỗ khác nhau, vì những lý do thần học hơn là vì những lý do lịch sử.

Cái chết của Giuđa cung cấp một minh họa khác về cách mà những người theo chủ nghĩa cơ yếu giải quyết những mâu thuẫn trong Thánh Kinh. Một trình thuật kể chuyện Giuđa treo cổ trong tuyệt vọng (Mt 27,5). Một trình thuật khác kể chuyện Giuđa ngã lộn đầu xuống, vỡ bụng, lòi cả ruột gan ra (Cv 1,18). Những người theo chủ nghĩa cơ yếu giải thích sự khác biệt bằng cách ghép hai trình thuật kia lại thành một câu chuyện liên tục. Họ giả thiết rằng Giuđa treo cổ gần một vách đá, dây thừng đứt và anh ta rơi xuống vách đá, lòi ruột ra. Đành rằng quan điểm ấy tự nó không phải là không thể, song nghe thật có vẻ vặn vẹo uốn ép việc giải thích một điều có nhiều khả năng là hai truyền thống khác nhau về cái chết của kẻ phản bội vốn được lưu truyền giữa các cộng đoàn khác nhau.

Điều quan trọng nhất trong sự chú giải của chủ nghĩa cơ yếu, đó là Lời Thiên Chúa không thể nào mâu thuẫn. Người ta phải tìm một chỗ khác để giải thích cho những mâu thuẫn biểu kiến. Tôi tưởng cũng cần ghi nhận ở đây rằng không phải tất cả những người theo chủ nghĩa cơ yếu đều ngây ngô về việc lưu truyền các bản văn Thánh Kinh. Một số trong họ nhìn nhận rằng một số bản sao Tân Ước bằng tiếng Hy lạp hay tiếng Hípri có thể chứa những lỗi so với nguyên văn, những lỗi này len vào do sự vô ý hoặc do tình trạng thiếu khả năng của một ký lục khi sao chép một bản văn trước đó. Tuy nhiên họ khẳng quyết rằng các bản thảo nguyên thủy không thể nào chứa những lỗi như thế.

Một khía cạnh khác liên quan đến khoa chú giải, đó là những người theo chủ nghĩa cơ yếu tuyên bố rằng ý nghĩa của các bản văn trong Thánh Kinh tự nó rõ ràng. Họ cho rằng hầu như bất cứ ai cũng có thể kiếm được một quyển Thánh Kinh và hiểu nó bởi vì ý nghĩa của các lời trong đó thật dễ hiểu. Thế nhưng, sự kiện chính quyển Thánh Kinh Scotfield Study được chú giải và chứa những ghi chú giải thích và diễn dịch dài dằng dặc đã làm rúng chuyển khẳng quyết nói trên. Ngay cả những người theo chủ nghĩa cơ yếu cũng cần sự giúp đỡ của các chuyên gia am hiểu để giúp họ trong việc giải thích Thánh Kinh. Văn chương cổ, dù là văn chương Thánh Kinh hay loại văn chương nào khác, cũng không phải luôn luôn dễ hiểu. Hơn nữa, vì Thánh Kinh được viết bằng thứ tiếng nước ngoài vốn chỉ một ít chuyên gia nắm hiểu (Hípri, Aram, Hy ngữ Koine), nên người Kitô hữu trung bình sẽ gặp bế tắc trong việc giải thích nếu không có sự trợ giúp của những công cụ hay những chuyên gia.

Tiên Tri

Văn chương tiên tri của Thánh Kinh là một lãnh vực khác nữa mà những người theo chủ nghĩa cơ yếu có một cách giải thích riêng của mình. Vì phần lớn trong Thánh Kinh là những lời tiên tri và sự hoàn thành các lời tiên tri, nên những người theo chủ nghĩa cơ yếu quan tâm sâu sắc đến cách mà những lời tiên tri ấy được áp dụng vào hôm nay. Họ tin rằng Thánh Kinh trực tiếp hướng chỉ đến sự áp dụng vào hôm nay trong bối cảnh hiện đại này. Vì thế, các lời tiên tri hướng về hiện tại này hơn là quá khứ. Chẳng đáng ngạc nhiên việc những người theo chủ nghĩa cơ yếu bị hấp dẫn nhiều bởi những Sách Tiên Tri ly kỳ như Sách Đanien và Sách Khải Huyền. Họ tin rằng những sách ấy áp dụng trực tiếp cho thời đại hiện nay và mô tả sự đương đầu kịch liệt giữa thiện và ác, giữa Thiên Chúa và Satan, điều mà họ tin là đang diễn ra trong hiện tại này. Một cây bút theo chủ nghĩa cơ yếu đã viết những dòng sau đây – cho thấy đôi khi quan điểm này chật hẹp biết bao:

Lời Tiên tri Đanien… không phải là một sứ điệp cho… It-ra-en … cũng không phải là một sứ điệp cho Giuđa! Sự thật quá hiển nhiên, đó là những lời tiên tri này được viết CHO CHÚNG TA TRONG THỜI ĐẠI HƠM NAY, chứ không phải cho bất cứ dân nào của thời nào trước đây! Những lời tiên tri ấy hướng chỉ đến tình trạng thế giới hôm nay, và mãi cho tới hôm nay mới có thể được hiểu hết!… Thật quá rõ rằng những lời tiên tri ấy không nhắm đến thời đại nào cả ngoại trừ thời đại của chúng ta trong thế kỷ 20 này![5]

Bản văn có một nhãn quan thật quá khích, nhưng nó minh họa rất tốt cho khuynh hướng của những người theo chủ nghĩa cơ yếu muốn giải thích Thánh Kinh bên ngoài bối cảnh lịch sử của Thánh Kinh. Việc áp dụng trực tiếp chiếm ưu tiên hơn việc diễn dịch căn cứ trên lịch sử. Trong thời điểm năm 2000, khi ngàn năm thứ ba của Kitô giáo đang đến gần, một số người theo chủ nghĩa cơ yếu trở nên bị ám ảnh với ý tưởng rằng sự đến lần thứ hai của Đức Kitô đang gần kề và rằng các lời tiên tri của Thánh Kinh đang đi đến chỗ được hoàn thành đầy đủ. Thái độ này không hề mới trong Kitô giáo. Có những giai đoạn trong lịch sử, nhất là xung quanh những niên đại đặc biệt như giao thừa thế kỷ hay thiên niên kỷ, vẫn có những nhóm người có thái độ như thế. Một số khía cạnh của lời tiên tri Thánh Kinh xem ra dễ gây sự chộn rộn đó, chẳng hạn loại văn chương khải huyền của Thánh Kinh (ví dụ, Sách Đanien; Isaia 24-27; Dcr 9-14; Mc 13; Mt 24-25; Sách Khải Huyền). Những đặc điểm của loại văn chương khải huyền này trùng với nhãn quan của những người theo chủ nghĩa cơ yếu, bao gồm các thái độ sau đây:

¨  Một cái nhìn nhị nguyên về thế giới trong đó bất cứ gì cũng hoặc đúng hoặc sai, không có chỗ cho trung dung.

¨  Xác tín rằng sự dữ đang sinh sôi nẩy nở tràn lan trên thế giới và các tình trạng đang càng ngày càng tệ hơn.

¨  Một niềm tin theo thuyết tiền định rằng Thiên Chúa đã ấn định trước các kết quả của lịch sử nhân loại.

¨  Một niềm tin mạnh mẽ rằng một cuộc đương đầu khủng khiếp giữa Thiên Chúa và Satan sẽ đưa lịch sử nhân loại tới hồi kết cục và cuối cùng thiết lập vương quốc công chính.

¨   Một tiếng mời gọi khẩn thiết tất cả mọi người sống một đời sống chính trực đạo đức hơn để chuẩn bị cho chiến thắng của Thiên Chúa trên sự dữ.

Vì những người theo chủ nghĩa cơ yếu tin rằng những lời tiên tri trực tiếp áp dụng cho thời đại chúng ta, nên họ không quan tâm mấy đến vấn đề bản văn ấy có nghĩa gì khi nó được viết ra cho bằng quan tâm đến sự áp dụng bản văn ấy vào thời đại hôm nay. Cuối thế kỷ 20, chẳng hạn, các khía cạnh của Sách Khải Huyền được qui chiếu đến nước Nga và sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản. Sức lôi cuốn đến văn chương khải huyền như thế đem lại cho sứ điệp của những người theo chủ nghĩa cơ yếu nhiều tính khẩn cấp. Nó cũng củng cố ý tưởng rằng họ, cũng như nhiều tiên tri và các thánh trước họ, sẽ phải chịu đau khổ lớn lao để phục vụ cho việc loan báo sứ điệp Tin Mừng. Họ tin rằng cuối cùng họ sẽ chiến thắng và sẽ thuộc về số người được Thiên Chúa tuyển chọn vào Vương  Quốc trên trời.

Đó là những yếu tố chính trong cách tiếp cận Thánh Kinh của những người theo chủ nghĩa cơ yếu. Họ lưu tâm đến các ý tưởng nòng cốt về thẩm quyền và về qui điển, về linh hứng, chú giải và về các lời tiên tri. Cố nhiên, việc giải thích các bản văn đặc biệt rất khác nhau tùy theo những mối quan tâm chuyên biệt khác nhau, nhưng cách tiếp cận căn bản của những người theo chủ nghĩa cơ yếu đều theo những nguyên tắc và những giả định như được phác họa trên đây. Bây giờ chúng ta hãy thử mô tả cách đại lược nhãn quan của Công Giáo về Thánh Kinh – để đối chiếu với cách tiếp cận của những người cơ yếu.

Ronald D. Witherup, S.S.

Lê Công Đức Chuyển ngữ

[1] năm 367 sau Công Nguyên là thời điểm của bức thư Lễ Phục Sinh lần thứ 39 của Thánh Athanasiô, bức thư này liệt kê qui điển Thánh Kinh như ta có hôm nay.

[2] apostolic authorship, nghĩa là khi tác giả là chính các Tông Đồ hoặc là một người khác (chẳng hạn một môn đệ) ghi lại những giáo huấn của các Tông Đồ. (ctcnd)

[3] Harold Lindsell, The Battle of the Bible, Grand Rapids, Mich.: Eerdmans, 1976, 30-31.

[4] Cf. Mt 21,12-13; Mc 11,15-17; Lc 19,45-46; Ga 2,13-17

 [5] Lloyd J. Averill, Religious Right, Religious Wrong, New York: Pilgrim Press, 1989, 133.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s