Chuyển đổi sang dân chủ (12): Các sản phẩm phụ bất ngờ

VRNs (07.03.2015) – Hà Nội – Dân chủ . . . đã được tìm kiếm như một phương tiện cho mục đích khác nào đó hoặc nó đã đến như một sản phẩm phụ bất ngờ của cuộc chiến đấu -Dankwart A. Rustow1

150306009

Tại một lúc khi các định chế của nền dân chủ bầu cử cạnh tranh đã có vẻ không liên quan trong thế giới đang phát triển, Dankwart A. Rustow, gần như trong sự cô lập tuyệt vời, đã đưa ra cái gây ra và duy trì quá trình dân chủ. Lý thuyết tổng quát của ông đã chuẩn bị những sự tình cờ lịch sử, các sự ngẫu nhiên, và các quyết định sơ xuất như các điềm báo trước cho các chuyển đổi dân chủ. Ông đã không thấy các điều kiện tiên quyết xã hội kinh tế hay văn hóa cần hay đủ nào của dân chủ. Ông đã nhấn mạnh sự bế tắc chính trị và sự chấp nhận các giải pháp tốt thứ nhì bởi các bên chống đối nhau gay gắt. Một khi đang thực hiện, sự chuyển đổi đòi hỏi các cơ chế duy trì hoàn toàn khác với cơ chế đã khở động nó. Ông đã hoàn toàn biết khả năng của những sự đảo ngược, như trường hợp Thổ Nhĩ Kỳ của ông đã minh họa bằng thí dụ. Ông đã đề xuất như một điều kiện nền sự cần thiết cho một nét nhận diện quốc gia, mà tôi không đồng ý với đề xuất đó và tôi nghĩ nó làm yếu lý lẽ của ông. Tuy nhiên, bài báo của ông có giá trị như một sự bác bỏ có thể thấy trước và rất rõ ràng lời xác nhận của các nhà chuyên quyền thâm căn cố đế và các nhà khoa học xã hội ethnocentric (cho dân tộc mình là hơn cả): “nước này không sẵn sàng cho dân chủ.”

Rustow đã khoanh bằng cọc một lập trường được xác định rõ mà trong cái đã có thể được gọi là trường phái bất ngờ (contingency school) trong giải thích sự bắt đầu và sự định chế hóa của dân chủ. Trường phái đối lại, trường phái cấu trúc luận nhấn mạnh các điều kiện xã hội kinh tế và đôi khi văn hóa tiên quyết cho dân chủ. Các trường phái này không phải là các phe xung khắc, các lập trường của chúng cũng chẳng loại trừ nhau. Một nhấn mạnh đến sự kết hợp của các biến số cấu trúc xã hội – các tầng lớp trung lưu có cơ sở rộng, các nhóm khởi nghiệp tư nhân, sự biết đọc biết viết rộng, và các giá trị công dân nâng đỡ – trong khi trường phái khác nhấn mạnh loại thỏa hiệp giữa các nhóm tranh cãi nhau mà đã thất bại lặp đi lặp lại để áp đặt ý chí của họ lên bên kia. Rustow đầu tiên đã xác định lập trường sau, và tôi kiến nghị nghiên cứu nó ở đây.

Tôi sẽ khảo sát năm con đường tới chuyển đổi dân chủ: jump-starting (khởi động) quá trình ở các hệ thống không có thiên hướng văn hóa và điều kiện kinh tế xã hội tiên quyết nào cho hoặc kinh nghiệm lịch sử với dân chủ; giải thoát khỏi các cuộc đấu tranh được ăn cả ngã về không bị bế tắc; mặc cả và trách nhiệm giải trình giữa người đóng thuế và các chính phủ; mặc cả cho không gian hợp pháp trong các hệ thống độc đoán; và gây ra chuyển đổi bởi các bên thứ ba hùng mạnh. Trong mỗi (trường hợp), chuyển đổi là sản phẩm phụ của quá trình khác nào đó. Vì thế là không do dự tính trước và bất ngờ. Phải nhấn mạnh rằng không phải mọi con đường tự động dẫn đến một chuyển đổi hoặc rằng, một khi đã được khởi động, chuyển đổi sẽ tiếp tục.

Điều tra của Rustow đã không dính líu tới cách mà nền dân chủ sinh ra cũng như các điều kiện nào đã có thể duy trì chúng. Ông đã nêu ra điểm cốt yếu rằng cái gây ra chúng có thể ít liên quan đến cái duy trì hay phá hoại chúng. Rustow đã tách mình xa khỏi chủ nghĩa chức năng xã hội kinh tế của Seymour Martin Lipset và Philips Cutright và thay vào đó đưa ra một giải thích “chung” mà tách nguyên nhân khỏi sự tương quan. Cả cấu trúc lẫn bản chất hết sức tình cờ của cạnh tranh chính trị phải được đan xen vào nhau.

Nhiều lý thuyết hiện thời về dân chủ có vẻ ngụ ý rằng để thúc đẩy dân chủ đầu tiên bạn phải nuôi dưỡng các nhà dân chủ – có lẽ bằng bài thuyết giáo, tuyên truyền, giáo dục, hoặc có lẽ như một sản phẩm phụ tự động của sự thịnh vượng tăng lên. Thay vào đó chúng ta phải tính đến khả năng rằng hoàn cảnh có thể buộc, đánh lừa, cám dỗ, hay phỉnh phờ những người không dân chủ vào cách ứng xử dân chủ và rằng lòng tin của họ có thể điều chỉnh vào lúc thích hợp bởi quá trình nào đó của duy lý hóa hay sự thích nghi.2

Nếu Rustow đúng, quá trình dân chủ có thể được bắt đầu trong nhiều bối cảnh xã hội và chính trị. Không suy ra rằng tất mọi bối cảnh đều mến khách ngang nhau cho sự chuyển đổi dân chủ hoặc rằng các giá trị được yêu mến của những người giữ vai trò chủ đạo là không liên quan. Tuy vậy, hầu hết các phân tích mà nhấn mạnh các điều kiện tiên quyết là sai lạc tiềm tàng. Rustow đã loại trừ khỏi phân tích của mình các nền dân chủ “nơi một sự thúc đẩy đến từ nước ngoài,” như Đức hay Nhật bị chiếm đóng. Ông đã đặt một sine qua non, một điều kiện thiết yếu mà ông gọi là “điều kiện nền,” rằng “tuyệt đại đa số công dân trong một nền dân chủ sắp là phải không có sự nghi ngờ hay sự dè dặt tinh thần nào về cộng đồng chính trị nào họ thuộc về.”3 Cả nguyên tắc loại trừ lẫn điều kiện nền, có vẻ đối với tôi, đều không có căn cứ lý thuyết. Thực ra, nếu chúng ta lờ chúng đi, như tôi sẽ biện hộ chúng ta phải, thì logic tổng thể của lý lẽ Rustow trở nên vững chắc.

Áp dụng quy tắc kinh nghiệm của riêng mình, Rustow đã tìm ra hai mươi ba nền dân chủ trong 1969, mười ba trong số đó ở châu Âu.4 Giữa các nước kém phát triển ông đã nêu Chile, Ceylon, Colombia, Costa Rica, Ấn Độ, Lebanon, Philippines, Thổ Nhĩ Kỳ, Uruguay, và Venezuela.5 Nhóm sau này đa phần đã đi lạc khỏi đường dân chủ trong vòng vài năm sau sự xuất hiện của bài báo của ông. Ít học giả lúc đó đã thấy bất cứ dấu hiệu nào của sự dân chủ hóa sắp xảy ra.

Nghiên cứu riêng của tôi đã tập trung chủ yếu vào Trung Đông. Từ giữa các năm 1950 đã chỉ có bốn nền dân chủ trong khu vực. Thổ Nhĩ Kỳ, một trong các trường hợp được xem xét ở bài báo của Rustow, đã bắt đầu một sự chuyển đổi năm 1950, đã trượt lại vào chủ nghĩa độc đoán quân sự năm 1960, rồi đã tái khởi động sự chuyển đổi của nó năm 1965. Nhưng trong năm mà bài báo của Rustow xuất hiện, quân đội đã lại can thiệp. Lebanon đã là nền dân chủ thứ hai. Cuộc nội chiến của nó năm 1958 đã đưa Tướng Chehab lên nắm quyền, và dường như Lebanon đã có thể theo đuổi con đường Nasserist. Nó đã không; bắt đầu từ 1975, nó đã bước vào mười sáu năm nội chiến. Sudan, về mặt cấu trúc xã hội là địa điểm ít có khả năng nhất cho một chuyển đổi dân chủ, đã dao động giữa các chính phủ dân sự được bầu và sự cai trị quân sự cho đến, năm 1969, Ja’afar Nimeiri đã đưa vào một chế độ quân sự mà đã kéo dài đến 1985. Cuối cùng, Israel đã thiết lập một nền dân chủ hoạt động chủ yếu cho các công dân Do thái của nó.

Không cái nào trong các thí nghiệm này được các láng giềng của nó bắt chước. Đối với các chế độ Arab, Thổ Nhĩ Kỳ như nhà nước kế vị của các ông chủ Ottoman cũ, đã không thể cung cấp một mô hình có thể chấp nhận được. (Thực ra, một số sĩ quan Thổ Nhĩ Kỳ mà đã bày mưu tiếp quản 1960, như Alparslan Türkeș, đã chấp nhận nhãn Nasserist.) Kẻ thù không đội trời chung, Israel, đã không thể được bắt chước một cách an toàn. Và Lebanon đã luôn luôn được coi bởi các công dân của chính nó, bởi đặc trưng dân tộc của nó, và bởi các láng giềng của nó như là sui generis (riêng). Thí nghiệm Sudan đã là ngoại vi cho khu trung tâm Arab và về cơ bản bị bỏ qua.

Ngay cả các quốc vương thân phương tây đã chối các thí nghiệm khai phóng nhạt nhẽo của riêng họ. Các quốc hội Jordania và Kuwait đã bị giải tán một cách định kỳ trong cuối các năm 1950 và 1960; quốc hội Moroc đã bị treo trong năm 1965; và nền quân chủ Liby, mà đã không tiến hành sự tự do hóa nào, đã bị các cận vệ lật đổ năm 1969. Trong giữa các năm 1970 shah của Iran đã thay thế một chế độ một đảng cho một hệ thống hai đảng hoàn toàn giả tạo mà đã tại vị từ 1957.

Dân chủ, hay thường xuyên hơn sự thiếu vắng của nó, đã không làm các nhà phân tích bận tâm lúc đó. Đúng hơn,  chủ nghĩa độc đoán, ngay cả trong hình thức nhân từ nhất của nó, “dân chủ được hướng dẫn” (một thuật ngữ được tạo ra đầu tiên bởi Tướng Ayub Khan của Pakistan), được coi như cho trước. Các câu hỏi được đề cập đã liên quan đến các nguồn gốc, bản chất, và các mục tiêu của các thí nghiệm độc đoán khác nhau. Những sự giải thích thuyết phục về cái đang xảy ra được tìm thấy trong các luận đề hơi thán phục của Manfred Halpern về giai cấp trung lưu mới và đội quân tiên phong của nó và trong các bình luận nước đôi nếu không bị bóp méo của những nhà Marxist như Samir Amin (Hassad Riad) và Anouar Abdel Malek. Giống Rustow, họ cũng đã quan tâm đến các chuyển đổi, nhưng thuộc loại khác, sang nền dân chủ cách mạng hay được định hướng và sự hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa.6 Một nhà quan sát bảo thủ hơn, Samuel P. Huntington, đã tuyên bố thẳng thừng rằng “vấn đề không phải là tổ chức các cuộc bầu cử mà là để tạo ra các tổ chức.”7 Như thế, phân tích của Rustow ra mặt chống đối một sự đồng thuận khoa học mà đã trùng với các chương trình nghị sự độc đoán của chính các nhà lãnh đạo được nghiên cứu.

Rustow đã nhấn mạnh rằng dân chủ trước hết liên quan đến thủ tục hơn nội dung.8 Các nhà phân tích kể trên, và nhiều người khác, đã đặt mệnh đề này lộn đầu đuôi hay chí ít lộn sang bên. Họ đã cho rằng dân chủ có thể đạt được chỉ nếu quần chúng được thoát nghèo, bộ máy quan liêu được duy lý hóa, những kẻ bóc lột bị đuổi khỏi chính trị và nền kinh tế, và tất cả các lãnh thổ được giải phóng. Họ hoàn toàn đặt thủ thục dưới các mục tiêu trọng đại. Sự đồng thuận này đã dẫn nhiều người trong chúng ta để xem thường các thủ tục và các định chế chính trị được luật hóa, bởi vì các hiến pháp, điều lệ, và các cuộc bỏ phiếu trưng cầu dân ý đã là các trò đố chữ tinh xảo như vậy. Quan trọng hơn, chúng ta hay coi các thứ giữ vai trò chính trong xung đột bên trong các xã hội Trung Đông (các nhóm sắc tộc, giáo phái, các diễn viên giai cấp) như các trở ngại đối với các mục tiêu trọng đại của các chế độ độc đoán dân túy (dù chúng ta có chấp thuận chúng hay không), chứ không phải như các chất xúc tác tiềm năng của các chuyển đổi dân chủ.

Trung Đông đã không có vẻ độc nhất về những khía cạnh này. Argentina, Brazil, Chile, và Peru đã rơi vào tay các nhà độc đoán quân sự vào giữa các năm 1970. Marcos đã đặt Philippine dưới sự cai trị khẩn cấp; Pakistan đã chuyển từ chủ nghĩa độc đoán dân sự của Zulfikar Bhutto sang chủ nghĩa độc đoán quân sự của Zia al-Haq; Bangladesh mới được giải phóng đã đi theo cùng con đường; và ngay cả Ấn Độ, thành trì chống lại mọi lợi thế của thủ tục dân chủ, đã không chống nổi tình trạng Khẩn cấp của 1975 – 77. Quân đội Thổ Nhĩ Kỳ đã kết thúc thập niên bằng sự hạ bệ lại một lần nữa một chính phủ dân sự được bầu.

Sự nhấn mạnh về chủ nghĩa độc đoán trong các năm 1970, đặc biệt ở các nước mà đã trải qua sự tăng trưởng đáng kể, đòi hỏi một sự giải thích. Với sự chồng lấn nào đó trong những cách tiếp cận của họ Guillermo O’Donnell trong công trình của ông về chủ nghĩa độc đoán quan liêu và Cardoso và Faletto trong công trình của họ về sự phụ thuộc đã định hình nghiên cứu của các năm 1970.9 Một lần nữa, bài báo của Rustow giỏi nhất đã được xem như một sự kỳ lạ lý thú.

Hai mươi năm sau tôi đã bàn đến một số của cùng các vấn đề. Tôi đã bắt đầu nghiên cứu làm sao các chính phủ dân sự, được bầu, sau 1983 của Thổ Nhĩ Kỳ đã có thể duy trì nền dân chủ hình thức và thực hiện các cải cách điều chỉnh cấu trúc “đau đớn.10 Rồi sau đó tôi đã đề cập đến cái đã trở nên được biết đến như “chủ nghĩa ngoại lệ” Trung Đông. Nhiều nước đã bắt đầu các chuyển đổi vào cuối các năm 1980.11 Nhưng Trung Đông đã hầu như không thay đổi. Thổ Nhĩ Kỳ đã lập lại sự cai trị dân sự năm 1983; Lebanon đã làm vậy sau các Hiệp ước Taif năm 1990 dưới con mắt theo dõi của Syria độc đoán; Sudan trong thời gian ngắn đã trải qua chính phủ dân sự được bầu giữa 1986 và 1989; và Israel đã duy trì các thủ tục dân chủ của nó mà không có gián đoạn. Jordan đã tổ chức các cuộc bầu cử trong 1989; Algeria đã tổ chức và rồi đã bỏ chúng trong 1991; và hai nước Yemen đã mò mẫn đến sự thống nhất và các cuộc bầu cử quốc gia mà đã dẫn đến nội chiến và sự tái lập sự cai trị quân sự. Kuwait, sau Chiến dịch Bão táp Sa mạc, đã khôi phục quốc hội của nó, chịu trách nhiệm với 40.000 đàn ông thuộc tổ tiên Kuwaiti đã được chứng minh mà họ tạo thành toàn bộ cử tri. Không làn sóng dân chủ nào đã lan ra hai mươi ba nhà nước trong khu vực.

Tương phản với cái nền này tôi đã thử nhận thức làm thế nào nền dân chủ đã có thể được nuôi dưỡng trong một môi trường không thân thiện. Các luận điểm mà tôi đưa ra ở mức độ lớn được gây cảm hứng bởi bài báo của Rustow và cuốn sách của Adam Przeworski, Democracy and the Market- Dân chủ và Thị trường.12 Tôi đã tập trung vào một vùng mà đã chưa bao giờ biết dân chủ, đã xuất thân từ đế chế, nuôi dưỡng chủ nghĩa quân sự, và đã đắm chìm trong các giá trị “độc đoán” của Islam. Làm sao nó đã có thể từng chào đón các chuyển đổi dân chủ? Câu trả lời là “dễ,” không chỉ vì các lý do được Rustow đưa ra, mà cũng vì nhiều lý do khác.

Rustow đã đề xuất, một khi điều kiện nền của ông về tính đồng nhất quốc gia được thỏa mãn, một chuyển đổi gồm ba pha, kéo dài có lẽ một thế hệ hay hơn. Pha “chuẩn bị” nảy sinh từ một cuộc đấu tranh dài không có kết quả giữa các bè phái phi dân chủ (thường, như ở Thụy Điển, các diễn viên giai cấp). Sự bế tắc dẫn đến sự chấp nhận các giải pháp tốt thứ nhì bên trong một sự thỏa hiệp “dân chủ” miễn cưỡng. Trong pha “quyết định” các nhà lãnh đạo phi dân chủ quyết định để tiếp tục trò chơi. Cuối cùng, trong pha “tập làm quen” bản thân các công dân bắt đầu hấp thu và tôn trọng các quy tắc của giải pháp tốt thứ nhì. Mô hình của Rustow không đưa ra dẫn chiếu nào đến các mức phát triển, các tầng lớp trung lưu, hay văn hóa như các nhân tố cần thiết trong chuyển đổi.

Trong nghiên cứu của mình về tự do hóa chính trị và kinh tế ở Mỹ Latin và đông Âu, Adam Przeworski đã theo dòng lập luận tương tự. Ông đã coi dân chủ như một chuỗi các cân bằng được thương lượng.13  Ông hầu như đã chẳng nói gì về các điều kiện xã hội kinh tế tiên quyết và văn hóa chính trị cho phép. Đúng hơn, Przeworski nhấn mạnh sự theo đuổi duy lý các lợi thế chiến lược bởi các nhóm lợi ích khác nhau. “Khi nào là duy lý cho các nhóm lợi ích xung đột tự nguyện hạn chế khả năng tương lai của chúng để khai thác lợi thế chính trị bằng trao một số quyền lực của họ cho các định chế?”14

Przeworski phác họa hai pha cốt yếu trong các chuyển đổi với, trong một số trường hợp, những sự chia cắt quan trọng giữa chúng. Trong pha “giải thoát” các lực lượng chống hiện trạng độc đoán liên minh với nhau, và trong pha “hiến pháp” họ tìm kiếm các cân bằng định chế mà sẽ giữ mọi người một cách tự nguyện trong trò chơi. Trong pha sau liên minh ban đầu có khuynh hướng tan vỡ khi các nhóm lợi ích khác nhau giữa những người thắng cuộc dùng thủ đoạn vì lợi thế chiến lược. Như trong phân tích của Rustow, không có sự tiến bộ tuyến tính nào từ pha giải thoát sang hiến pháp; quả thực, có khả năng rõ rệt rằng sự chuyển đổi sẽ bị thui. Tóm lại, những chuyển đổi thành công xảy ra khi các cân bằng được thỏa thuận dẫn đến việc thiết lập các dàn xếp định chế mà từ đó không người tham gia quan trọng nào có bất cứ khuyến khích nào để đào ngũ. Quá trình này là rất bất ngờ.

Khởi động

Các giá trị công dân-dân chủ có thể được nuôi dưỡng trong lòng của chế độ chuyên quyền? Rustow tuyên bố rằng “sự đồng thuận về các nguyên tắc cơ bản là một tiền đề đáng ngờ” của dân chủ. 15 Walter Murphy đã thâu tóm thế lưỡng nan một cách hùng hồn.

Để sống sót và phát đạt, nền dân chủ hiến định, có lẽ hơn bất kỳ loại hệ thống chính trị nào khác, cần các nhà lãnh đạo có cả sự kiên nhẫn và sự sáng suốt, các đức hạnh mà đã chẳng bao giờ dồi dào. Dân chủ hiến định cũng cần một văn hóa chính trị mà đồng thời cổ vũ công dân tôn trọng các quyền của đồng bào ngay cả khi họ thúc đẩy lợi ích riêng của họ và bắt các đại diện của họ có trách nhiệm giải trình vì việc thăng tiến các lợi ích đó – một văn hóa mà sức mạnh của nó không thể giảm bớt khi công dân tư trở thành quan chức công. Rằng một văn hóa chính trị như vậy sẽ tồn tại trước nền dân chủ hiến định là không chắc xảy ra, buộc chính thể phải tự mình cố gắng vươn lên bằng giúp để tạo ra chính môi trường mà trong đó nó có thể hưng thịnh. Biến nghịch lý này thành một fait accompli (việc đã rồi) chắc cần đến hàng thế hệ.16

Người ta phải xem xét khả năng rằng một văn hóa công dân có thể được nuôi dưỡng trong lòng của chế độ chuyên quyền. Đó chẳng phải là hình mẫu Anh, mà Rustow loại bỏ bởi vì sự chuyển đổi đã quá kéo dài? Các giá trị dân chủ, ta có thể nêu giả thuyết, được giữ mãnh liệt và dứt khoát nhất ở nơi chúng bị từ chối nhất. Ngược lại, chúng có thể được coi là nghiễm nhiên hay thậm chí bị hạ giá trị ở nơi trò chơi dân chủ được duy trì thuần túy dưới dạng các phần thưởng được phân biệt mà nó tặng cho các công dân.17

Bên ngoài châu Âu, các thí nghiệm dân chủ mới xảy ra, là cái gì đó xung đột với văn hóa địa phương, thường xuyên do elite dẫn dắt, và ngày càng phản ứng lại các thách thức và những sự xui khiến bên ngoài. Không đánh giá bản chất hay kết cục của sự chuyển đổi của nó, tôi muôn phác họa quá trình khởi động (jump-starting) ở Uganda từ 1986.

Uganda đã không được hưởng một nền dân chủ cạnh tranh từ khi nó được độc lập. Nó đã biểu lộ một số đặc tính có thể làm cho nó có đủ tư cách là một bế tắc Rustowian: các sự khác nhau giai cấp rõ rệt, đặc biệt trong kiểm soát các nguồn lực nông thôn, một sự chia tách bắc-nam mạnh, một sự chia rẽ Công giáo-Tin lành sâu sắc, và sự ganh đua giữa các tàn dư của các vương quốc sắc tộc ngôn ngư cổ hơn.18 Tất cả các sự chia tách này hiện ra trong một xã hội chủ yếu nông thôn với tỷ lệ biết đọc biết viết người lớn cao.

Miền bắc nằm phía trên sông Kyoga Nile mà cắt Uganda hầu như làm đôi. Hai nhà độc tài khét tiếng nhất Uganda, Milton Obote và Idi Amin, cả hai đã là những người miền bắc. Khúc xương họ đã chẳng bao giờ có thể nuốt là vương quốc miền nam Baganda. Nó đã có thể bị chinh phục, nhưng nó sẽ không biến mất. Cả chủ nghĩa độc đoán được bỏ phiếu toàn dân của Obote lẫn chế độ độc tài quân sự thất thường của Amin đều đã không thể tạo ra một giải pháp người thắng vơ cả.

Trong lần thứ hai của mình, Obote đã được đưa lên nắm quyền bởi các lực lượng vũ trang Tanzania mà đã lật đổ Amin. Năm 1980 ông đã tổ chức các cuộc bầu cử bị tẩy chay rộng rãi. Một người miền nam cấp tiến, Yoweri Museveni, đã tham gia, đã thua trong chính quận quê hương mình, sau đó “đã vào rừng” để chiến đấu với chế độ Obote. Phần lớn chiến tranh du kích đã xảy ra ở tam giác Luwero, một vùng Baganda gần với Kampala. Những người Baganda đã ủng hộ Museveni chống lại kẻ thù không đợi trời chung của họ, Obote, và vùng của họ đã bị bỏ hoang trong tiến trình chiến đấu.

Năm 1986 Museveni đã chiến thắng và lên nắm quyền. Được nói rằng nếu giả như ông đã có bất cứ mô hình ngoài nào trong đầu cho hệ thống chính trị mới, nó đã là jamahirria (dịch phóng, “cộng hòa nhân dân”)  Lybia. Nhưng Museveni hiểu chính xác và kỹ rapports de force (tương quan lực lượng). Tanzania, nơi ông đã sống và học nhiều năm, đã ở trong pha sau- Nyerere về điều chỉnh cấu trúc và tự do hóa chính trị rụt rè của nó rồi. Nhãn của nó về chủ nghĩa xã hội Phi châu độc đảng đã không còn có thể tồn tại nữa. Nền kinh tế Uganda cũng đã lê lết, và chỉ sự tiếp cận đến vốn phương tây đã có thể hồi sinh nó. Museveni đã hủy biện pháp nổi tiếng nhất của Amin, đuổi “những người Á châu” (Ấn Độ) năm 1972. Họ đã được phép quay lại Uganda và đòi lại các tài sản và doanh nghiệp của họ.

Nước đi của Museveni tới sự tự do hóa chính trị đã thận trọng hơn nhiều. Các nhà tài trợ bên ngoài, đặc biệt Hoa Kỳ, và những kinh nghiệm của các nhà nước Phi châu khác đã gây áp lực lên ông để dân chủ hóa. Ông đã đối mặt với thế lưỡng nan về biến đổi Quân đội Kháng chiến Quốc gia (NRA) thành một phong trào chính trị được tổ chức tốt. Các đối thủ duy nhất cho cái đã trở thành Phong trào Kháng chiến Quốc gia (NRM) đã là các đảng được thành lập trước đó, Đại hội Nhân dân Thống nhất của Obote (bây giờ lưu vong ở Zambia) và Đảng Dân chủ.

Museveni đã cần thời gian để xây dựng tổ chức của mình. Một hiến pháp mới được soạn và được hiệu đính từ cuối 1988 đến 1995. Các đối thủ của ông đã tố rằng quá trình dài dòng đã bị gian lận, rằng việc soạn thảo đã bị thao túng cẩn thận bởi NRM, và rằng ủy ban hiến pháp đã lấy dự thảo ra cho diễn đàn bầu cử quốc hội gồm chủ yếu những người trung thành với NRM.19  Một quốc hội lập hiến đã được bầu trong tháng Ba 1994 và đã thông qua và đã chấp nhận dự thảo hiến pháp, mà có hiệu lực từ ngày 22-9-1995. Các cuộc bầu cử tổng thống và quốc hội đã tiếp theo trong mùa xuân 1996.

Hiến pháp đã quy định trong các điều 269-271 gây tranh cãi của nó rằng trong bốn năm sau khi bầu cử quốc hội đất nước sẽ được cai quản bởi một chế độ “phong trào” và rằng các ứng viên trong các cuộc bầu cử không thể tranh cử dưới ngọn cờ đảng. Quả thực, các cuộc bầu cử quốc hội lập hiến đã được tổ chức dưới cùng quy tắc. Tuy nhiên, 68 trong số 284 đại biểu đã có những sự liên kết đảng được che dậy mỏng manh. Cuộc tranh luận về các điều 269-71 thực sự đã chia đất nước thành “những người theo phái phong trào” và “những người theo đa đảng.” Đại sứ Hoa Kỳ và những người khác đã cảnh cáo rằng, một khi một cơ quan lập pháp và tổng thống theo phái phong trào nhậm chức, thì trò chơi dân chủ sẽ hết. Museveni đã chiến thắng áp đảo trong các cuộc bầu cử tổng thống tháng Năm 1996. Ngược với các điềm của Đại sứ Southwick, Museveni đã phát biểu chính thức và công khai rằng hệ thống đa đảng sẽ nhanh chóng sa xuống thành chủ nghĩa bộ lạc và các đảng phải đợi cho đến khi có một tầng lớp trung lưu lớn hơn.20

Cho đến đây câu chuyện là khá đơn giản: một nhà dân chủ miễn cưỡng mua thời gian và né các nhà tài trợ nước ngoài nhằm dựng lên một chế độ “độc đảng-phong trào”. Tuy vậy, Museveni đã đưa ra một nhượng bộ quan trọng và đã phạm một lỗi sơ suất.

Sự nhượng bộ này đã được đưa ra cho Baganda, mà nhiều người ở đó đã nghĩ rằng sự ủng hộ của họ cho NRA trong chiến tranh du kích sẽ giành cho họ địa vị liên bang trong Uganda sau-Obote. Museveni và NRM đã bác bỏ chủ nghĩa liên bang chính thức nhưng đã thừa nhận vương quốc Buganda cổ, và một vua mới đã được tôn lên. Các vương quốc Bunyoro, Toro, và Ankole đã bắt chước đi theo.21 Mặc dù cái được gọi là “những người liên bang” đã bị để cho khao khát hơn, Museveni đã thừa nhận một không gian hợp pháp cho và nửa hợp pháp hóa một nhóm quan trọng của những người tham gia chính trị. Các đảng chính trị, mà hiến pháp thừa nhận với những hạn chế nghiêm ngặt, hưởng một vị thế tương tự.

Lỗi nằm ở quá trình hiệu đính dài của hiến pháp. Ủy ban hiến pháp, thông qua các tiểu ban gồm những thành viên của nó, đã đi khắp nước để giáo dục công dân về các giá trị của văn bản dự thảo. Các buổi họp ban đầu được tổ chức từ trên xuống và đã có ý định là công việc giáo huấn mà trong đó các cử tọa im lặng được diễu qua các bí quyết của luật hiến pháp. Họ đã được tổ chức bởi các ủy ban kháng chiến quốc gia địa phương mà đã được xem như những sự mở rộng của NRM. Quá trình dài này đã cho phép Museveni củng cố NRM, và các nhóm phụ đã đi thăm lại nhiều người địa phương. Những việc giáo huấn từ trên xuống đã biến thành các cuộc meeting thị trấn thực. Sự trao đổi quan điểm, thường đã nóng bỏng, đã thay thế sự im lìm. Mục đích bề ngoài của sự luyện tập thực sự đã đạt được: các công dân trung bình đã học được nhiều về các vấn đề hiến pháp.

Một số người Uganda cảm thấy rằng trong không gian của bốn năm văn hóa chính trị, chí ít ở một số vùng và cho một số tầng lớp, đã biến đổi căn bản. Việc trì hoãn hướng về các đại diện của quyền lực chính trị đã nhường đường cho chủ nghĩa hoài nghi và sự phê phán. Trong các cuộc bầu cử quốc hội lập hiến tháng Ba 1994 nửa số ứng viên của các Ủy ban Kháng chiến Quốc gia đã bị đánh bại, hai phần ba thua ở miền bắc.22  Các công dân đã trở nên quan tâm đến sự hiểu các quyền của họ.

Như thế, một nước mà không có các điều kiện tiên quyết kinh tế, giai cấp, hay văn hóa của dân chủ có thể là một thí dụ về một sự khởi động một chuyển đổi. Ban lãnh đạo của nó không gồm các nhà dân chủ được khai minh; nó có ít vốn xã hội; và một phần đáng kể của giai cấp tư sản thậm chí không được coi như người Uganda hoàn toàn. Tuy nhiên, việc dùng thủ đoạn chiến lược bởi những người đương chức và những người thách thức đã mang lại các sản phẩm phụ Rustowian.

Bế tắc

Xung đột xã hội không được giải quyết và sự bế tắc là cốt yếu đối với mô hình chung của Rustow về chuyển đổi. Tuy vậy, ông làm ít để hoạt hóa sự bế tắc. Chúng ta phải, ở mức tối thiểu, nhận diện ba biến số: bản chất của những vai chính (các giai cấp, các nhóm lợi ích, các sắc tộc và quân đội) và các vấn đề, khoảng thời gian bế tắc (nhân tố mệt mỏi), và cường độ của cuộc đấu tranh. Nếu sự bế tắc là hung bạo và kéo dài, một giải pháp độc đoán đã có thể có khả năng hơn một chuyển đổi dân chủ. Museveni đúng khi ông gợi ý rằng các cuộc đấu tranh về các lợi ích là dễ giải quyết một cách hòa bình hơn các cuộc về các giá trị tôn giáo hay huyết thống. Thế mà Nam Phi đã bắt đầu một chuyển đổi dân chủ sau hàng thập niên của cuộc chiến đấu đẫm máu, không được giải quyết, dính đến chủng tộc, tôn giáo, và giai cấp. Chẳng diễn viên chính nào, ANC và Đảng Dân tộc của De Klerk, đã bước vào sự mặc cả ban đầu, thấm đẫm các thói quen dân chủ của họ.

Ở Trung Đông hai tình huống bế tắc được xác định rõ, một được giải quyết một phần và một chưa được giải quyết, tồn tại ở Lebanon và Algeria. Hiệp ước dân tộc không chính thức năm 1946 đã dẫn đến việc thiết lập một nền dân chủ nghị viện đặt nền tảng trên sự cân bằng mỏng như tờ giấy giữa những người Kitô giáo và Muslim. Các Kitô hữu được đại diện theo tỷ lệ 6:5 hơn những người Muslim (trên cơ sở tỷ lệ được nhận diện trong điều tra dân số năm 1932). Đã có các sự đại diện phân nhỏ thêm de facto bên trong hai tín điều chính. Hiệp ước này đã bén rễ trong sự không tin cậy, chứ không phải sự thích nghi; hai vai chính đã chĩa súng vào nhà thờ của nhau.

Tuy nhiên, một pha làm quen gập ghềnh đã bắt đầu. Nhưng trước khi những cảm giác tốt lành hơn giữa các tín điều đã có thể bén rễ, tổng thống Camille Chamoun theo Kitô giáo đã tìm cách kéo dài sự ủy nhiệm của mình một cách vi hiến, vì thế gây ra một nội chiến. Tướng Fouad Chehab người theo Kitô giáo đã tiếp quản chức tổng thống, với sự ủng hộ của chính quyền Eisenhower. Một thập niên tăng trưởng kinh tế mạnh đã tiếp theo và đã che đậy các rạn nứt cơ bản trong dinh thự chính trị và xã hội.23

Cò súng được bóp trong 1975, sau một sự tràn vào đột ngột của dân tị nạn Palestin và các chiến sĩ PLO có vũ trang từ Jordan, hầu hết trong số họ là Muslim, vào đầu thập niên. Họ đã được chào đón bởi cộng đồng Muslim phái Suni địa phương, những người Palestin mà đã ở trong nước từ 1946, và các nhà dân tộc chủ nghĩa và cộng sản Arab địa phương. Người Kitô giáo phái Maronite đã cảm thấy sự tồn tại của họ bị hiểm nguy và đã nổ súng các đợt đầu trong cái đã trở thành một cuộc nội chiến mười sáu năm. Được ước lượng rằng hơn 150.000 người trong số ba triệu dân của đất nước đã bị giết.

Năm 1990 một cuộc ngừng bắn và hiệp ước mới được môi giới bởi Saudi Arabia, Syria, và các đại diện của Liên Đoàn Arab ở Taif, Saudi Arabia. Những thay đổi duy nhất được đưa ra trong hiệp ước 1946 đã san bằng tỷ lệ Muslim/Kitô giáo xuống 50:50 và đã giảm các quyền hạn của tổng thống trong khi tăng cường quyền hạn của nội các được phân chia theo tín điều. Tất cả các quyết định chính trị quan trọng đã phải được xem xét chặt chẽ với những người Syria, mà đã duy trì sự chiếm đóng quân sự của họ ở thung lũng Beka’a miền đông. Họ sẽ chắc chắn không rời đi trước khi Israel đóng cửa hẳn khu vực an ninh của nó ở miền nam Lebanon, và có lẽ không ngay cả khi đó. Năm1995 nhà độc tài Syria, Hafiz al-’Assad, đã quyết định tái tục sự ủy nhiệm của tổng thống Elias Hrawi theo Kitô giáo vi phạm hiến pháp. Quốc hội đã nghiêm túc biểu quyết sự thay đổi hiến pháp cần thiết.

Sẽ là lạc quan một cách cường điệu để cho rằng Lebanon ở trên bờ của pha quyết định, không ít hơn sự bước lại vào pha tập làm quen. Nhưng không phải là không thể, bất chấp sự thực rằng điều kiện nền của Rustow đã luôn luôn thiếu. Cho đến gần đây Lebanon đã chẳng có ý thức vững chắc nào về bản sắc quốc gia. Hiệp ước quốc gia năm 1946 đã thừa nhận tường minh sự thực này và đã phác thảo một cuộc đình chiến tín điều mà trong đó những người Kitô giáo sẽ thề bỏ sự giúp đỡ từ các đồng minh Kitô giáo truyền thống của họ ở châu Âu, chủ yếu Pháp, nếu những người Muslim sẽ không tìm cách hòa nhập Lebanon vào đại Arab, quốc gia Muslim. Nếu bản sắc quốc gia Leban bây giờ mạnh hơn so với trong năm 1946, là bởi vì những sự chiếm đóng kết hợp của Syria và Israel. Đặc biệt, nhiều người Leban trước chiếm đóng đã tự coi mình như người Syria.

Ở Algeria tình hình là giống với Ba Lan trước sự sụp đổ của chế độ Cộng sản, khi Đoàn Kết đã chống lại Tướng Jaruzelski. Ở Algeria các vai chính bị dồn vào thế bí là Mặt trận Cứu tế Islamic (FIS) và Tổng thống Lamine Zeroual và tàn dư của Mặt trận Giải phóng Dân tộc (FLN), đảng hợp pháp duy nhất của Algeria trước 1989.

Chuyển đổi dân chủ bị thui của Algeria đã bắt đầu năm 1989, trước một sự bế tắc nhưng sau các năm khắc khổ kinh tế và các cuộc nổi loạn đẫm máu tháng mười 1988. Tổng thống, Chedli Benjedid, đã là một sản phẩm của chiến tranh cách mạng chống Pháp (1954 – 62) và một đảng viên tích cực của FLN người đã tại chức từ 1979. Ông đã quyết định để tự do hóa hệ thống độc đảng vì động cơ cá nhân.24  Các cuộc nổi loạn đã bóc trần sự thiếu tính chính đáng của chế độ, nhưng sự khắc khổ kinh tế đã không thể tránh được. Sự mở cửa chính trị đã cho Benjedid một cách để tách mình ra khỏi FLN và tự giới thiệu mình như tổng thống của tất cả nhân dân. Không ai đã dự đoán rằng trong vòng một năm một đảng Islamic được hợp pháp hóa, FIS, lại đã có thể thắng các cuộc bầu cử đô thị và vùng và đứng ở tư thế sẵn sàng trong tháng Giêng 1992 để nắm quyền kiểm soát quốc hội lập pháp quốc gia. Trước vòng hai của các cuộc bầu cử quốc hội có thể được tổ chức, quân đội Algeria đã can thiệp, đã hoãn lại các cuộc bầu cử, đã hạ bệ Benjedid, đã giải tán FIS, và đã tống ban lãnh đạo của nó vào tù.

Từ 1991 gần như một cuộc nội chiến đã diễn ra ác liệt ở Algeria giữa FIS và các tổng thống kế tiếp được quân đội dựng lên. Hai mươi lăm đến năm mươi ngàn người đã có thể bị chết trong năm năm qua. Trong mùa thu 1995 Tổng thống Zeroual, người ban đầu đã được junta quân sự chỉ định, đã tranh cử tổng thống đối lại bốn ứng viên khác, kể cả một nhà lãnh đạo Islamic ôn hòa. FIS và Nhóm Islamic Vũ trang (GIA) còn chiến đấu hơn đã kêu gọi tẩy chay các cuộc bầu cử. Tuy nhiên,  một ước lượng 70 phần trăm cử tri đã tự nguyện bỏ phiếu, vào trao một sự ủy thác lớn cho Zeroual.

Một lần nữa, chúng ta thấy một vũ đài bị mất của các nhà lãnh đạo hay các phong trào với bất cứ thành tích dân chủ nào. Người thách thức chủ yếu được dẫn dắt bởi tính quá khích tôn giáo, trong khi những người đương chức ngoan cố bám lấy quyền lực bởi vì từ bỏ nó tỏ ra là quá nguy hiểm. Có thể tiến hành vụng một chuyển đổi dân chủ từ sự bế tắc này? Các cuộc bầu cử 1995 cho lý do để hy vọng. Chúng có vẻ đã nghi nhận sự mệt mỏi của toàn bộ cử tri với bạo lực nhưng, quan trọng hơn, một sự xa lánh thực sự khỏi FIS. Ban lãnh đạo FIS đã nhận được thông điệp và, theo cách tốt thứ nhì, đang tìm kiếm một sự thỏa hiệp với Zeroual. Là khó để tưởng tượng bất cứ sự thỏa hiệp nào mà sẽ không đưa đến các cuộc bầu cử lập pháp mới mà trong đó FIS sẽ được phép tham gia chừng nào nó thề tôn trọng hiến pháp.*

Như một lưu ý cuối cùng, có thể cho rằng sự can thiệp quân sự năm 1992 đã gửi một thông điệp, cho đến nay chưa hủy bỏ, rằng FIS sẽ không được được phép thắng một cuộc bầu cử ngay lập tức. Những người đương chức đã đưa ra các thông điệp tương tự cho những người thách thức ở Ai Cập, Jordan, Tunisia, và Palestin, và mơ hồ hơn, Thổ Nhĩ Kỳ.25

Về mặt lý lẽ của Przeworski, các tổ chức Muslim không nên tự nguyện tôn trọng triệt để các quy tắc của trò chơi nếu họ không có triển vọng nào để được lợi từ chúng. Tuy vậy, nhân tố này không được loại trừ các tổ chức Muslim khỏi việc chơi trò chơi dân chủ. Việc tham gia có thể đem lại cho họ một chút quyền lực, một cơ sở quyền lực địa phương trong các quận cụ thể, và sự tiếp cận nào đó đến sự bảo trợ. Sự không tham gia được hiểu, sai hay đúng, như thù địch với chế độ và quá trình chính trị hợp pháp và sẽ gây ra sự đàn áp chính thức và bạo lực. Hơn nữa, khá giống “những người Cộng sản Euro” sau 1956, việc chơi trò chơi có thể hóa ra là cái đỡ tệ hơn trong những cái xấu. Khi thiếu cách mạng, vô sản hay Islamic, sự gạt ra ngoài lề đoạn cuối có thể là lựa chọn thay thế duy nhất để chơi trò chơi.

Bế tắc vẫn mập mờ về mặt kinh nghiệm và lý thuyết. Những bế tắc dữ dội mà không có các kết cục thích nghi hay dân chủ đã là phổ biến, và cách giải quyết hòa bình, dân chủ-đầu tiên có thể là cực kỳ mong manh, như nội chiến giữa bắc và nam Yemen, sau bầu cử dân chủ, minh họa bằng thí dụ. Dahl đã thừa nhận rằng “polyarchy” không thể dàn xếp hai hoặc hơn hai phái tương đối lớn mà coi chiến thắng của phái khác như một sự đe dọa chủ yếu cho “các giá trị xếp hạng cao” và đã viện dẫn nội chiến Mỹ như kết quả của một tình huống như vậy.26 Có vẻ là không thể cho bế tắc hiện nay ở Rwanda để đem lại một kết cục dân chủ. Sau sự gần-diệt chủng người Tutsi và người Hutu sợ một sự trả thù tương xứng của người Tutsi, một chế độ dựa vào [nguyên tắc] một người một phiếu sẽ mang lại một chiến thắng Hutu áp đảo (85 phần trăm dân cư là người Hutu và sẽ bỏ phiếu với tư cách người Hutu) mà với nó không người Tutsi nào đã có thể chịu.

Các hợp đồng khai thác và hàng hóa công dân chủ

Những hậu quả của sự quản lý tồi kinh tế và những thay đổi trong nền kinh tế quốc tế đè nặng lên những người không dân chủ như những người theo chế độ dân chủ.27  Từ đầu các năm 1980 đa số các nước kém phát triển đã phải thực hiện các chương trình điều chỉnh cấu trúc và tổ chức lại tài chính công của họ. Để kiềm chế hay giảm thâm hụt ngân sách, các khoản chi tiêu đã bị cắt bớt và tăng các loại thuế. Các khoản bao cấp người tiêu dùng và người sản xuất bị cắt. Một số nước không muốn cắt chi tiêu công, như Thổ Nhĩ Kỳ, đã phải dùng đến thuế lạm phát để chuyển các nguồn lực từ các công dân sang cho chính phủ.

Cách mà theo đó và mức mà tại đó các chính phủ đánh thuế công dân của mình tác động đáng kể đến loại và mức trách nhiệm giải trình của chính phủ. Chúng ta có thể giả thuyết rằng các hình thức chế định của trách nhiệm giải trình và sự đại diện nổi lên từ sự mặc cả ngầm và rõ ràng giữa chính phủ và các nhóm lợi ích khác nhau mà nó tìm cách đánh thuế. Giả thuyết này là đáng tôn kính nhưng rất khó để xác minh một cách dè sẻn.28 Quá trình được giả thuyết cũng có thể được bắt đầu trong một bối cảnh phi dân chủ mà trong đó các vai chính mù tịt về các hệ lụy dân chủ của sự mặc cả của họ.

Dân cư bị đánh thuế có thể bắt nhà chức trách đánh thuế có trách nhiệm giải trình bằng nhiều cách. Chỉ có vài cách dính đến hoạt động chính trị rõ ràng hay chính thức. Goran Hyden đã chứng minh bằng tư liệu làm thế nào các nông dân Tanzani, bị lừa gạt bởi hội đồng tiếp thị chính phủ mà đã tìm cách tối đa hóa sản xuất cây trồng thương phẩm và xuất khẩu, đã lao vào nông nghiệp tự túc hoặc buôn lậu. Theo thời gian, khi sản xuất thương mại sụt giảm cùng với thu nhập xuất khẩu, chính phủ Tanzania đã phải đưa ra những nhượng bộ giá (tức là, đảo ngược các điều khoản nông nghiệp của thương mại) để cám dỗ nông dân quay lại cây trồng thị trường. 29 Loại này của tính trách nhiệm giải trình không dính líu gì đến sự bày tỏ chính trị chính thức về những nỗi bất bình nông dân hay sự thay đổi trong hệ thống chính trị độc đảng.

Trong các nền kinh tế tựa kế hoạch hóa, bị điều tiết cao với giá cả được quản lý, nhiều tác nhân kinh tế rút khỏi nền kinh tế chính thức và tham gia vào khu vực phi chính thức. Ở đó các nhà khởi nghiệp (bị làm cho) nản lòng đã có thể kiếm lợi nhuận thực, các công chức đã có thể bổ sung cho lương thấp của họ và có thể tìm thấy hàng hóa với giá mà không phải xếp hàng. Khi càng nhiều hoạt động kinh tế đã thoát khỏi những sự kiểm soát trực tiếp của chính phủ, thì càng ít sản phẩm quốc gia bị đánh thuế. Việc ngăn chặn các hoạt động phi chính thức hiếm khi có kết quả, cho nên với thời gian chính phủ đã bắt đầu giải điều tiết và hợp pháp hóa các hoạt động mà trước đây đã bị cấm hay bị bóp nghẹt. Giống các nông dân Tanzania, những người trong khu vực phi chính thức cũng đã gửi một thông điệp cho chính phủ mà đã gây ra sự thay đổi chính sách. Nhưng, nó đã không, chí ít ban đầu, gây ra sự thay đổi thể chế hay chính trị.

Thí dụ thứ ba là vốn bỏ chạy. Các tác nhân kinh tế riêng lẻ, có phần ẩn danh quyết định rằng tiền của họ không an toàn ở trong nước họ. Họ có thể, tất nhiên, đơn giản đi theo sự dẫn đầu của các nhà đầu tư định chế, không phải công dân trong nước. Lượng vốn tháo chạy được những người Trung Đông nắm giữ ngoài Trung Đông có thể là cỡ 600 tỷ $.30  Sẽ cần có cải cách chính sách và thể chế để dụ dỗ nó quay về. Vốn tháo chạy không dính líu đến sự bày tỏ chính trị chính thức nào về lợi ích tập thể và sự mặc cả được thể chế hóa nào.31 Nếu tính trách nhiệm giải trình lớn hơn xảy ra sau đó, nó đến như một hàng hóa công phụ.

Mức trách nhiệm giải trình phải là thấp nhất ở nơi các loại thuế là nhẹ và gián tiếp. Nhiều nhà quan sát chính trị Trung Đông, kể cả bản thân tôi, đã quy khả năng tồn tại của chủ nghĩa độc đoán một phần cho sự tiếp cận của khu vực đến các mức cao không bình thường của các khoản tiền tô (rent) bên ngoài.32 Luồng rent chính đã được tạo ra bởi xuất khẩu dầu, mà đến lượt lại tạo ra các khoản rent dưới dạng các khoản chuyển tiền đến các nước xuất khẩu lao động trong khu vực. Suốt Chiến tranh Lạnh một số nước đã nhận được các khoản rent chiến lược có giá trị từ một cường quốc lớn hay cường quốc lớn khác hoặc từ các nhà xuất khẩu dầu dễ tổn thương về mặt quân sự trong khu vực. Các khoản rent đã cho phép các chính phủ giảm nhẹ gánh nặng thuế lên công dân của họ và để duy trì phúc lợi rộng rãi và các chương trình bao cấp để trung hòa sự bất mãn kinh tế. Các cơ chế chính thức của trách nhiệm giải trình bị teo đi hoặc, như ở Iraq, đã biến mất hoàn toàn.

Các nhà phân tích chính trị, vì thế, đã hoan nghênh thời kỳ điều chỉnh và khắc khổ bởi vì họ hy vọng các nhà lãnh đạo độc đoán cuối cùng sẽ phải rèn các mối quan hệ hữu cơ, dù là đối kháng với toàn bộ công dân. Các cuộc nổi loạn chi phí sinh hoạt thực ra đã thúc đẩy sự tự do hóa chính trị nào đó ở Sudan (1985 – 86), Jordan (1989), và Algeria (1988). Nhiều chính phủ đã thí điểm với các loại thuế mới để tăng thu và giảm thâm hụt. Mỉa mai thay, khi các nhà khoa học chính trị đã đầy hy vọng tìm các dấu hiệu của việc dựa nhiều hơn vào các loại thuế trực tiếp trên thu nhập và lợi nhuận – bởi vì sự đau [tiếc tiền] được cá nhân hay các hãng cảm nhận – thì các kinh tế gia được các nhà tài trợ ủng hộ lại chủ trương tăng các thuế gián tiếp, đặc biệt VAT, bởi vì sự đau của họ được cảm nhận ít trực tiếp hơn và vì thế dễ thu hơn.33 Logic của kinh tế gia về tối đa hóa các khoản thu đã đi và đang đi ngược với logic của nhà khoa học chính trị về tăng trách nhiệm giải trình.

Có lẽ sự phân biệt giữa thuế trực thu và gián thu là không hoàn toàn cốt yếu đến thế. Các nông dân Tanzania đã biết kỹ về thuế gián tiếp trên sản phẩm của họ do hệ thống quản lý giá gây ra, và chắc là những người tiêu dùng và người hưởng lương sẽ không quên thuế tiêu thụ hay thuế lạm phát. Họ đã chắc chắn phản ứng lại mạnh mẽ với sự giảm bao cấp tiêu dùng. Tuy vậy, tính chính thống kinh tế thịnh hành làm cho hầu như chắc chắn rằng sự chuyển đổi kinh tế sẽ đi cùng với sự phân bổ thu nhập tồi đi và sự bất bình đẳng. Thu nhập không còn được tái phân phối thông qua thuế nữa.34 Sự quản lý yếu kém và các nhóm có thu nhập cao hùng mạnh sẽ đánh bại bất cứ cố gắng nào về đánh thuế tái phân phối; các chi phí thu thuế sẽ có lẽ nhiều hơn lợi tức.35 Sự bất bình đẳng lớn hơn đã có thể ngăn ngừa chuyển đổi dân chủ. Như Zehra Arat biện luận, một hệ thống dân chủ không thể được duy trì mà không có sự xác nhận các quyền kinh tế xã hội và sự giảm bất bình đẳng.36

Các nhóm kinh doanh và các nhà đầu tư có thể có một vai trò đặc biệt quan trọng để đóng trong pha chuẩn bị. Các nhóm lợi ích kinh doanh là không dân chủ bẩm sinh. Tuy vậy, trong nhiều nước kém phát triển chúng đã bị từ chối tính chính đáng chính trị và thường xuyên bị một khu vực nhà nước mở rộng bóp nghẹt. Ngoài tư lợi chúng đã tìm cách để nới lỏng những sự kiểm soát nhà nước. Trong thời kỳ khắc khổ và cắt bớt chi tiêu công chúng đã trở thành quyết định đối với các chương trình đầu tư mà một mình có thể dẫn đến tăng trưởng. Chúng đã có được sức mạnh mặc cả mới đối với chính phủ, và như Partido de Accio´n Nacional (PAN-Đảng Hành dộng Quốc gia) ở Mexico, cũng đã trở thành các diễn viên chính trị độc lập.37

Trong hầu hết trường hợp họ mặc cả để bảo vệ và thúc đẩy các hoạt động kinh doanh của họ. Trong quá khứ sự mặc cả thường dính đến sự dàn xếp thương vụ riêng và các cơ hội kiếm tô (rent) được thương lượng với các nhà chức trách công. Các thói quen đó sẽ chết một cách khó khăn cho cả hai bên; một khi các nhóm lợi ích kinh doanh đã có được một số nhượng bộ họ có thể tìm cách đóng băng quá trình và thu các khoản tô của họ. Hơn nữa, Przeworski và Limongi khẳng định rằng doanh nghiệp không có sở thích duy lý, dựa trên lợi ích nào cho dân chủ.38  Cam kết của nhà chuyên chế để bảo vệ tài sản tư không ít đáng tin hơn của người theo chế độ dân chủ.39

Hội các Doanh nhân và nhà Công nghiệp Thổ Nhĩ Kỳ (Tüsiad) là kiểu mẫu (paradigmatic). Nó đã tồn tại từ 1971 nhưng đã dễ bảo về chính trị. Trong khủng hoảng cấu trúc lớn của Thổ Nhĩ Kỳ năm 1979, nó đã đưa ra một phê phán gây nhức nhối về các chính sách kinh tế của chính phủ, mà đã được công bố trong các báo lớn. Nó cũng đã ủng hộ sự can thiệp quân sự năm 1980. Nó đã thích hơn việc chấm dứt sự giết chóc và sự không an toàn dù là nền dân chủ của Thổ Nhĩ Kỳ có bị đình chỉ. Nhưng nó đã tạo tiền lệ về đoàn thể phê phán chính phủ và đã thiết lập tập quán về sự xuất hiện thường xuyên của các quan chức chính phủ trước các thành viên Tüsiad để giải thích chính sách và tìm lời khuyên.

Một loại hàng hóa công – nghĩa vụ của chính phủ để giao thiệp trực tiếp với các nhóm lợi ích kinh tế quan trọng trong xã hội – như thế đã được tạo ra. Hơn nữa, sẽ là khó để từ chối các quyền tương tự đối với các nhóm lợi ích khác trừ trên một cơ sở hoàn toàn tùy tiện. Theo nhiều cách nước đi này nghe giống cái Schmitter đã gọi là “social corporatism –chủ nghĩa nghiệp đoàn xã hội,” mà một số người đã xem như xương sống của một số nền dân chủ thành công nhất của châu Âu.40

Sự đánh thuế và sự đại diện đã được liên kết trong lý thuyết dân chủ tây phương kể từ sự khởi đầu của nó. Các liên kết, hoặc các tuyến nhân quả, là âm u. Nhiều nền văn hóa và nền văn minh đã biểu lộ các mức cao của sự khai thác và của chế độ chuyên quyền hàng thế kỷ, nếu không phải hàng thiên niên kỷ. Sự phản ứng phổ biến nhất của người bị đánh thuế đã là tìm hình thức nào đó của sự ra khỏi hệ thống. Thế kỷ thứ hai mươi cho những cơ hội tương tự, nhưng chủ yếu cho những người được đặc ân. Các nhóm lợi ích này có thể là đội tiên phong không cố ý của sự can dự công dân rộng hơn với các chính phủ đói thu nhập.

Không gian Hợp pháp

Như phần của pha chuẩn bị, hoặc thậm chí của pha tiền chuẩn bị, các nhóm khác nhau trong xã hội phải khoét ra cho chính mình không gian được thừa nhận hợp pháp, tức là, chúng phải trở thành các thực thể pháp lý (pháp nhân). Ở châu Âu các không gian này đầu tiên đã được chiếm bởi nhà thờ, các chính quyền đô thị tự trị, các đại học, các điền trang, và cuối cùng báo chí. Những người chuyên quyền đã thừa nhận và hợp pháp hóa không gian.

Ở các nước kém phát triển các nhóm tìm sự công nhận pháp lý chắc hỗn tạp hơn và, đối với đầu óc khai phóng, gây phiền muộn hơn. Trong bối cảnh này tôi thách thức điều kiện nền của Rustow. Một ý nghĩa trực giác về sự thuộc về một cộng đồng cụ thể có thể giúp khởi đầu pha chuẩn bị, song điều ngược lại không cần và không phải đúng. Thí dụ, nền dân chủ mong manh của Lebanon đã cắm rễ trong và phụ thuộc vào những bản sắc lẫn lộn và sự không thống nhất quốc gia. Lý lẽ này có thể được mở rộng sang Ethiopia.

Việc tạo một quốc gia Ethiopia theo nhiều cách đã là giống với quá trình lịch sử của “sự xây dựng quốc gia” ở Pháp, Tây Ban Nha, Iran, và nhiều nước khác. Một nền văn hóa và ngôn ngữ chi phối, được nhúng trong một tổ chức tôn giáo và cư trú trong một lõi địa lý, đã được áp đặt, đôi khi một cách hung dữ, lên một ngoại vi không đồng nhất, mà các elite của nó theo thời gian được đưa vào dự án bá chủ.41  Trong 130 năm qua, người Amhara ở Trung tâm cao nguyên Ethiopia đã từ từ xây dựng Ethiopia địa lý, hiện đại và thông qua nhà thờ và chính quyền đế quốc đã truyền bá ngôn ngữ và sự kiểm soát chính trị của nó ra khắp một vùng đất có kích thước của Pháp và Tây Ban Nha cộng lại. Lịch sử về sự xâm chiếm và đồng hóa văn hóa gần đây được nhiều người biết đến.42 Quá trình hoàn toàn chưa xong và từ 1991 đã bị làm cho dừng lại.

Meles Zenawi, Thủ tướng Ethiopia trong 1995 – 96, đã lãnh đạo Mặt trận Giải phóng Nhân dân Tigray (TPLF) lên nắm quyền trong 1991, trong liên minh với Mặt trận Giải phóng Nhân dân Eritrea và Mặt trận Giải phóng Oromo. Meles đã là một thành viên của Phong trào Sinh viên Ethiopia cấp tiến mà đã ủng hộ chế độ độc tài quân sự, Marxist của Mengistu Haile Meriam trong năm 1974. Khẩu hiệu chung của cả các sinh viên lẫn Mengistu và junta (Derg) của ông đã là sự tự quyết cho nhân dân Ethiopia. Derg và các sinh viên mau chóng chia tay, và quân đội đã đàn áp thẳng tay một cách dã man các đồng minh ngày xưa của họ. Từ lúc đó chế độ đã xử lý tàn nhẫn, tuy không hiệu quả, các thách thức sắc tộc. Hai chiến trường chính đã là Eritrea và Tigray. Cuối cùng các mặt trận khởi nghĩa cấp tiến trong hai vùng này, với sự giúp đỡ của láng giềng Sudan, đã làm nghiêng cán cân quân sự chống lại Mengistu.43 Năm 1991 TPLF và các đồng minh của nó chiếm Addis Ababa.

Từ 1991 cho đến sự thông qua một hiến pháp mới trong năm 1995 chế độ mới, được biết đến như Mặt trận Dân chủ Nhân dân Cách mạng Ethiopia (EPRDF), đã tuyên bố rằng quyền tự quyết phải được long trọng ghi trong hiến pháp và rằng hiến pháp phải thiết lập Ethiopia như một nhà nước liên bang dựa trên các vùng sắc tộc. Trong năm 1993 “tỉnh” Eritrea đã lựa chọn độc lập qua cuộc trưng cầu dân ý. Bằng sự đồng ý Eritrea độc lập EPRDF đã vượt quá các khẩu hiệu đơn thuần. Hiến pháp 1995 đưa ra các thủ tục nếu một vùng muốn ly khai.

Làm cơ sở cho thí nghiệm táo bạo này là lòng tin rằng Ethiopia sẽ chỉ gắn bó với nhau nếu các phần của nó có quyền hợp pháp để bỏ đi. Làm mất tinh thần của các elite Amhara, chế độ mới đã tuyên bố 130 năm xây dựng quốc gia là một hình thức của chủ nghĩa đế quốc văn hóa mà đã thất bại và không thể được hồi sinh trong khung khổ bá chủ trước kia của nó. Trong tháng Năm 1995 Ethiopia đã tổ chức các cuộc bầu cử lập pháp dưới sự giám sát quốc tế, dựa trên các vùng sắc tộc ngôn ngữ mới của đất nước. Một số đảng đã tẩy chay, đặc biệt Mặt trận Giải phóng Oromo và Tổ chức Nhân dân Toàn Amhara. Số người tham gia tuy nhiên đã cao, và việc bỏ phiếu yên bình. Tuy vậy, các nhà quan sát quốc tế đã kiềm chế khỏi mô tả quá trình là tự do và công bằng.

Đối với nhiều người Ethiopia quá trình đang tiếp diễn không phải là dân chủ hóa mà đúng hơn là sự củng cố của một chế độ chuyên quyền Tigray mới. Đánh giá này không phải không có lý, căn cứ vào xuất xứ của Meles như sinh viên cấp tiến và chiến sĩ du kích. Tuy vậy, EPRDF đã dựng lên một trật tự pháp lý mà có thể làm cho chế độ chuyên quyền là cực kỳ khó khăn. Hệ thống liên bang cho các quyền đánh thuế nhất định và quyền để tiến hành các hoạt động kinh tế nhất định cho các vùng mà không có sự chấp thuận từ trung tâm. Vẫn còn chưa có nhiều của cải để đánh thuế ở Ethiopia, nhưng chúng ta không được vội đánh giá tương lai.

Vì thế “các nhà chuyển đổi học” phải chú ý kỹ đến các lực lượng mà thách thức sự thống nhất và bản sắc quốc gia và bằng cách ấy rút ra sự công nhận pháp lý từ các nhà chức trách trung ương. Hệ thống liên bang và nền dân chủ của Ấn Độ đã đi theo hình mẫu này từ 1947, và sự tồn tại của “các xu hướng sinh sản bằng lối phân đôi” đã làm cho quá trình dân chủ là cấp bách (trừ, đáng tiếc, ở Kashmir). Giữa 1972 và 1983 nam Sudan đã áp dụng sự tự trị khu vực hợp pháp để giữ các dân cư da đen, không-Arab, không-Muslim bên trong liên hiệp. Trong 1970 – 75 chế độ độc tài Ba’athi ở Iraq đã trao sự tự trị khu vực cho khu vực người Kurd miền bắc. Những bế tắc sáng tạo như thế có thể xảy ra như kết quả từ sự thiếu vắng một ý thức về bản sắc quốc gia. Các diễn viên chính trong trường hợp này sẽ hầu như luôn luôn được xác định bởi giáo phái, ngôn ngữ, hay huyết thống, hơn là bởi giai cấp hay lợi ích.

Những chuyển đổi được xui khiến

Rustow đã loại trừ dứt khoát các nước được biến thành dân chủ bởi những người chiếm đóng quân sự (Nhật Bản và Đức) và các nước được biến thành dân chủ bởi những người di cư từ các nền dân chủ tồn tại trước (Hoa Kỳ, Australia, New Zealand, Israel) khỏi vũ trụ các nền dân chủ của ông. Bây giờ chúng ta ở trong một thời kỳ mà trong đó các nền dân chủ hùng mạnh tìm cách bẩy nền dân chủ ra từ các xã hội yếu về mặt kinh tế. Tôi ngờ rằng Rustow trong 1969 – 70 đã có thể không thoải mái  với hiện tượng này (nói chung ông đã gạt bỏ “các xung lực từ nước ngoài”) nhưng nó đã tồn tại ngay cả lúc đó. Tây Ban Nha của Franco đã bị loại trừ khỏi thành viên trong cả NATO lẫn Thị trường Chung bởi vì hệ thống chính trị của nó.

Các nước OECD và một số tổ chức đa phương đã thực hành nhiều hình thức của tính có điều kiện trong thập niên qua hay khoảng thế. Những sự xui khiến tích cực chào mời sự gia nhập các khối thương mại hay địa vị tối huệ quốc nếu các nước cải thiện hồ sơ quyền con người của họ hoặc mở rộng các quyền chính trị của các công dân của họ. Áp lực tiêu cực đe dọa ngưng viện trợ hay áp dụng các sự trừng phạt nếu một nước bỏ dở quá trình dân chủ hay vi phạm có hệ thống các quyền con người. Bratton và van de Walle đã thấy những sự xui khiến tiêu cực này ở châu Phi hạ-Sahara tương quan âm với sự tự do hóa chính trị.44

Những sự xui khiến tích cực có thể giúp đỡ và xúi giục, nếu không khởi đầu, một sự chuyển đổi. Ở Cambodia Liên Hiệp Quốc đã thử hành động như một người cha đỡ đầu cho một chuyển đổi dân chủ với cái giá 2,6 tỷ $. Thí nghiệm đã không thành công chút nào.45 Vẫn còn phải xem nếu những sự xui khiến của Liên Hiệp Quốc sẽ có kết quả ở Angola.

Có lẽ thí dụ hay nhất về sức mạnh của những sự xui khiến tích cực, bên ngoài có thể thấy ở Thổ Nhĩ Kỳ, một nước mà đã được miêu tả một cách nổi bật trong phân tích của Rustow. Từ các năm 1960 Thổ Nhĩ Kỳ đã là một ứng viên cho tư cách thành viên trong Liên minh châu Âu, EU. Nó như thế đã tự mở ra cho sự xem xét kỹ lưỡng bởi các đối tác Âu châu tiềm năng của nó. Quân đội Thổ Nhĩ Kỳ đã biết rằng những sự can thiệp lặp đi lặp lại của nó vào hoạt động chính trị dân sự đã không nâng cao đơn xin vào của Thổ Nhĩ Kỳ. Sau khi chính phủ dân sự được khôi phục trong năm 1983, các nước Âu châu đã ép Thổ Nhĩ Kỳ xem xét lại hiến pháp của nó để cho phép các quyền tự do rộng hơn của các tổ chức chính trị (hiến pháp đã cấm việc hình thành các đảng trên cơ sở tôn giáo, ngôn ngữ, hay vùng), để đưa ra những bảo đảm pháp lý chặt chẽ hơn của các quyền con người, và để điều chỉnh sự từ chối các quyền của người Kurd.

Các áp lực đã là không lay chuyển được. Các nhà lãnh đạo Thổ Nhĩ Kỳ đã giữ thế thủ hàng năm trời. Mười sáu điều của hiến pháp đã được sửa đổi bởi đại hội đồng quốc gia (quốc hội), và để được gia nhập vào liên hiệp hải quan EU thì điều 8 của luật chống khủng bố đã cũng phải sửa.

Loại này của việc gây áp lực để đạt mục đích đã có thể dẫn đến một sự phản ứng dữ dội ở Thổ Nhĩ Kỳ, có lẽ được đảng Phúc lợi Islamic sắp đặt. Thổ Nhĩ Kỳ đã có thể từ bỏ sự truy tìm tư cách thành viên đầy đủ trong EU, đảo ngược thí nghiệm dân chủ của nó, và quay sang các nước Arab và Trung Á cho đối tác thương mại. Tuy vậy, Thổ Nhĩ Kỳ có thể đã bước vào pha tập làm quen của Rustow rồi. Hơn nữa, thương mại của nó với châu Âu ở cở 20 tỷ $ và không thể dễ dàng tái định hướng. Các sự xui khiến của EU sẽ giữ cuộc tranh luận về các định chế dân chủ, các hình thức được khoan dung của sự đại diện, và các quyền thiểu số rất sống động và ở trung tâm sân khấu.

Kết luận

Các nhân tố cấu trúc xã hội, lịch sử, và văn hóa tất cả đều có thể quan trọng trong khởi động và tiếp tục các chuyển đổi dân chủ. Tuy vậy, như Rustow đầu tiên đã biện luận, chúng không phải là [điều kiện] cần và vì thế không phải là đủ. Dù môi trường và các điều kiện tồn tại trước có thế nào, các diễn viên không dân chủ, chẳng có nơi khác để quay về, có thể tìm kiếm các giải pháp tốt thứ nhì, được thương lượng cho các thế lưỡng nan tình cờ mà xô đẩy họ một cách không cố ý lên con đường tới thói quen dân chủ.

John Waterbury

 ——

CHÚ THÍCH

  1. Dankwart A. Rustow, ‘‘Transitions to Democracy: Toward a Dynamic Model,’’Comparative Politics, 2 (April 1970), 351.
  2. Ibid., pp. 344 – 45.
  3. Ibid., p. 350
  4. Rustow đã loại trừ Nhật và Đức vì các lý do đã được nhắc tới (nhưng đã kể cả Italy), cũng như Hoa Kỳ, Australia, New Zealand, và Israel bởi vì các nền dân chủ của chúng đã đến như hành lý của những người nhập cư. Anh Quốc đã bị loại trừ bởi vì Rustow đã quan tâm đến những chuyển đổi tương đối nhanh.
  5. Ông đã loại trừ Hy Lạp, mà đã rơi vào chế độ độc tài quân sự năm 1967, và Mexico, bởi vì nó đã không có được ba hoặc nhiều hơn cuộc bầu cử cạnh tranh, kế tiếp nhau. Có lẽ, Peru đã bị loại trừ bởi vì sự tiếp quản quân sự 1969, nhưng Rustow không nhắc tới nó.
  6. Anouar Abdel-Malek, Egypt: Military Society (New York: Vintage Books, 1968); Manfred Halpern, The Politics of Social Change in the Middle East and North Africa (Princeton: Princeton University Press, 1963); Hassan Riad, L’Egypte Nasserienne (Paris: Editions de Minuit, 1964).
  7. Samuel P. Huntington, Political Order in Changing Societies (New Haven: Yale University Press, 1968), p. 7.
  8. Rustow, p. 345.
  9. Fernando Henrique Cardoso and Enzo Faletto, Dependency and Development in Latin America(Berkeley: University of California Press, 1979); Guillermo O’Donnell, Modernization and Bureaucratic Authoritarianism (Berkeley: Institute of International Studies, 1973). Trong sự công bằng với O’Donnell, vào cuối các năm 1970 ông đã đang viết rồi về những mâu thuẫn nội bộ trong nhà nước độc đoán quan liêu. Xem Guillermo O’Donnell, ‘‘Tensions in the Bureaucratic-Authoritarian State and the Question of Democracy,’’ trong David Collier, ed., The New Authoritarianism in Latin America (Princeton: Princeton University Press, 1979), pp. 285 – 318.
  10. John Waterbury, ‘‘Export-Led Growth and the Center-Right Coalition in Turkey,’’ Comparative Politics 24 (January 1992), pp. 127 – 46.
  11. Michael Bratton and Nicholas van de Walle, Will Africa Democratize? (New York: Cambridge University Press, 1997), kỷ lục là năm 1989 đã có bốn mươi hai chế độ độc đoán rõ ràng ở châu Phi hạ Sahara; vào 1992 bốn mươi đã tiến hành các biện pháp để khôi phục các quyền chính trị. Chỉ Liberia và Sudan đã không làm vậy. Trao các quyền chính trị là không ngang với dân chủ hóa, song đã có tự do hóa nhiều hơn rất nhiều ở châu Phi hạ Sahara so với ở Trung Đông.
  12. Adam Przeworski, Democracy and the Market: Political and Economic Reforms in Eastern Europe and Latin America (New York: Cambridge University Press, 1991); John Waterbury, ‘‘Democracy without Democrats? The Potential for Political Liberalization in the Middle East,’’ trong Ghassan Salame, ed.,Democracy without Democrats? (London: I. B. Taurus, 1994), pp. 23 – 47.
  13. Przeworski, p. 73. Xem cả, Adam Przeworski, ‘‘Democracy as a Contingent Outcome of Conflicts,’’ trong Jon Elster and Rune Slagstad, eds., Constitutionalism and Democracy (New York: Cambridge University Press, 1988), p. 69.
  14. Ibid., pp. 37 – 38.
  15. Philippe Schmitter, ‘‘Transitology and Consolidology: Proto-Sciences of Democratization?,’’ unpublished ms., Stanford University, September 1994; Rustow, p. 362.
  16. Walter Murphy, ‘‘Civil Law, Common Law, and Constitutional Democracy,’’ Louisiana Law Review 91 (1991), pp. 100 – 14, như được trích dẫn trong Stephen Marks, ‘‘The New Cambodian Constitution: From Civil War to a Fragile Democracy,’’ Columbia Human Rights Law Review 26 (1994), p. 109.
  17. Hoặc như Dahl đã diễn đạt súc tích: “Theo một nghĩa thô, bản chất của chính trị cạnh tranh là các chính trị gia mua chuộc cử tri.’’ Robert Dahl, A Preface to Democratic Theory (Chicago: University of Chicago Press, 1956), pp. 68.
  18. Xem Phares Mutibwa, Uganda since Independence (Kampala: Fountain Publishers, 1992); Mahmoud Mamdani, Critical Reflections on the NRM (Kampala: Monitor Publications, 1995).
  19. Akiiki Mujaju, ‘‘Towards an NRM Constitution in Uganda,’’ Political Science Seminar, Maketere University, Kampala, November 7, 1995.
  20. Ibid., p. 31; và John Balzar, ‘‘Profile of Yoweri Museveni,’’ Los Angeles Times, June 27, 1995, p. 5. Không giống các nhà lãnh đạo dân túy kiêm nghiệp đoàn chủ nghĩa sớm hơn, Museveni sẵn sàng sống với xung đột. Trên tờ Los Angeles Times ông được trích dẫn như sau: “Chúng ta cần đạt đến điểm nơi có cạnh tranh giữa các lợi ích, không phải các sự đồng nhất. Ngày nay bạn có Buganda chống lại Acholi. Đó là rất không lành mạnh. Nhưng một khi bạn có các nhân viên đấu tranh chống lại các nhà sử dụng lao động, ah! Không có cách nào một nhà sử dụng lao động lại sẽ muốn tàn sát tất cả nhân viên của mình. Sẽ có đấu tranh, đúng, nhưng chẳng bên nào muốn thoát khỏi bên kia.”
  21. Apolo Nsibambi, ‘‘The Restoration of Traditional Rulers,’’ trong Holger B. Hansen and Michael Twaddle, eds., From Chaos to Order: The Politics of Constitution-Making in Uganda (Kampala: Fountain Publishers, 1995?), pp. 11 – 60.
  22. Judy Geist, ‘‘Political Significance of the Constituent Assembly Elections,’’ trong Hansen and Twaddle, eds., pp. 90, 113, lưu ý mức cao của việc đăng ký và số cử tri tham gia bầu cử.
  23. Xem Michael Hudson, Lebanon: Precarious Republic (New Haven: Yale University Press, 1968).
  24. Xem Severine Labat, Les islamistes alge´riens (Paris: Seuil, 1995), p. 98.
  25. Vào lúc viết, Đảng Phúc lợi Islamic (Refah) của Thổ Nhĩ Kỳ đã lập một chính phủ liên minh với Đảng Con đường Chân chính của Tansu Ciller. Không rõ liệu liên minh này có thể sống sót không, nhưng Đảng Phúc lợi không thể và sẽ không được quân đội Thổ Nhĩ Kỳ cho phép, để cai trị một mình.
  26. Dahl, A Preface, p. 98.
  27. Xem Adam Przeworski and Fernando Limongi, ‘‘Political Regimes and Economic Growth,’’ Journal of Economic Perspectives 7 (Summer 1993), p. 63.
  28. Xem John Waterbury, ‘‘The Political Economy of Authoritarianism and Democracy: From Social Contracts to Extraction Contracts,’’ trong John Entelis, ed., Islam, Democracy, and the State in North Africa (Bloomington: Indiana University Press, 1997).
  29. Goran Hyden, Beyond Ujamaa in Tanzania (Berkeley: University of California Press, 1980).
  30. Xem Alan Richards and John Waterbury, A Political Economy of the Middle East (Boulder: Westview, 1996), p. 224. Ước lượng bắt đầu với IMF.
  31. Về các sức mạnh mặc cả tương đối của vốn “lỏng” và cố định, xem Robert Bates and Da-Hsiang Lien, ‘‘A Note on Taxation, Development and Representative Government,’’ Politics and Society, 1 (1985); và Robert Bates, ‘‘A Political Scientist Looks at Tax Reform,’’ trong Malcolm Gillis, eds., Tax Reform in Developing Countries (Durham: Duke University Press, 1989), pp. 473 – 91.
  32. Xem Hazem Beblawi and Giacomo Luciani, eds., The Rentier State (London: Croom Helm, 1987).
  33. Waterbury, ‘‘The Political Economy of Authoritarianism and Democracy.’’
  34. John F. Due, Indirect Taxation in Developing Economies (Baltimore: The Johns Hopkins University Press, 1988); và Richard Goode, ‘‘Tax Advice to Deve-loping Countries: An Historical Survey,’’ World Development 21 (1993), pp. 37 –53.
  35. Roy Bahl, ‘‘The Political Economy of Jamaican Tax Reform,’’ trong Gillis, ed., pp. 115 – 76.
  36. Zehra Arat, Democracy and Human Rights in Developing Countries (Boulder: Lynne Rienner, 1991), p. 103.
  37. Bratton and van de Walle, Will Africa Democratize?, đã thấy trong phân tích nhiều chiều của họ về sự phản kháng chính trị và tự do hóa ở châu Phi hạ Sahara rằng số các hội doanh nghiệp trong một nước đã liên kết dương với các mức phản kháng. Xem cả Nancy Bermeo with Jose Garcia-Duran, ‘‘Spain: Dual Transition Implemented by Two Parties,’’ trong Stephan Haggard and Steven Webb, eds., Voting for Reform: Democracy, Political Liberalization, and Eco- nomic Adjustment (New York: World Bank/Oxford University Press, 1994), pp. 88 – 127.
  38. Przeworski and Limongi ‘‘Political Regimes and Economic Growth.’’
  39. Đã có thể cho rằng là dễ để hối lộ một người chuyên chế duy nhất hơn toàn bộ một cơ quan lập pháp. Ngoài ra, dân chủ hóa thường đi cùng với một sự tăng cường của tư pháp, quyền kháng cáo, và trách nhiệm của các quan chức được bầu đối với toàn bộ cử tri và như thế đem lại những sự bảo vệ lớn hơn. Một trong những doanh nhân Á châu hàng đầu của Uganda, Mayur Madhvani, đã tuyên bố rằng, trong khi tự coi mình là phi chính trị, ông đã  ủng hộ nền dân chủ  đa đảng. “Bạn xem, nếu không có sự kiểm tra và đối trọng, tình hình có thể gặp rắc rối, cho nên là quan trọng rằng các đảng khác cũng hoạt động và chứng minh qua các tuyên ngôn của chúng rằng chúng có cái gì đó để chào mời.” Phỏng vấn, The Monitor (Kampala), Feb. 23 – 26, 1996. Xem Andrei Shleifer, ‘‘Establishing Property Rights,’’Proceedings of the World Bank Annual Conference on Development Economics (Washington, D.C.: World Bank, 1994), p. 97.
  40. John Freeman, Democracy and the Markets: The Politics of Mixed Economics (Ithaca: Cornell University Press, 1989).
  41. Xem David Laitin, ‘‘The National Uprisings in the Soviet Union,’’ World Politics 44 (October 1991), pp. 139 – 77.
  42. Xem Bahru Zewde, A History of Modern Ethiopia (Addis Ababa: Addis Ababa University Press, 1994); và Richard Pankhurst, A Social History of Ethiopia (Addis Ababa: Institute of Ethiopian Studies, 1990).
  43. Mengistu đã ủng hộ Quân Giải phóng Nhân dân miền Nam ở Sudan, mà từ 1983 đã tiến hành chiến tranh chống lại chính phủ ở Khartoum. Dưới thời Đại tá Omar al-Bashir và Mặt trận Islamic Quốc gia của Hassan Turabi trong năm 1989, chính phủ Sudan đã giúp những người Ethiopia chống lại Derg.
  44. Bratton and van de Walle, Will Africa Democratize?
  45. Marks, The Economist, Nov. 25, 1995, p. 35.

* Ông đã tuyên bố từ chức năm 1998 và cuộc bầu cử tháng Tư 1999 đã đưa Abdelaziz Bouteflika lên làm tổng thống được bầu lại (2004),  (2009) và (2014); hiện có 20 đảng có chân trong quốc hội từ cuộc bầu cử 2012; FIS vẫn bị cấm nhưng các đảng Islamist khác có vai trò quan trọng.

Biên tập: Lisa Anderson

Dịch: Nguyễn Quang A

Thuộc tủ sách SOS2)

VRNs đăng với phép của dịch giả

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s