Chuyển đổi sang dân chủ (9): Các phương pháp – Nam Mỹ và Đông Âu

VRNs (04.03.2015) – Hà Nội – Các chuyển đổi, được định nghĩa như các giai đoạn thay đổi chế độ, là các thời khắc hình thành hay sáng lập. Với tư cách như thế, chúng đặt một xã hội lên một con đường mà định hình sự phát triển chính trị tiếp sau của nó. Luận điểm này, mà ở trung tâm của sự phân tích phụ thuộc vào con đường về dân chủ hóa, gần đây đã được phát biểu rõ bởi một danh sách dài của các học giả xuất chúng những người đã tìm để kết nối phương thức chuyển đổi từ sự cai trị độc đoán với các vấn đề và triển vọng của sự củng cố dân chủ.1 Bất kể những đóng góp của họ, công trình của họ đã cả không chính xác về mặt khái niệm lẫn thiếu những phát hiện thuyết phục,2 những thiếu sót mà đã gây ra chủ nghĩa hoài nghi mang tính kinh viện về sự đánh giá các phương thức chuyển đổi.3 Một thập niên sau khi cuộc tranh luận được đề xướng, như thế vẫn chưa rõ không chỉ về các phương thức chuyển đổi tác động thế nào đến các diễn biến chính trị mà, căn bản hơn, nếu chúng có quan trọng chút nào.

Tuy vậy, sự hấp dẫn của một phân tích phụ thuộc vào con đường về dân chủ hóa vẫn còn. Vì thế, thay cho gạt bỏ cuộc tranh luận về tác động tiềm tàng của các phương thức chuyển đổi, chúng tôi tìm cách để xem xét lại nó. Chúng tôi bắt đầu bằng làm rõ khái niệm then chốt về phương thức chuyển đổi và bằng cách giải thích rõ ràng các cơ chế nhân quả mà nhờ đó các thuộc tính xác định của khái niệm này gây ra các di sản hậu quả chính trị. Chúng tôi định nghĩa phương thức chuyển đổi dưới dạng nét nhận diện của các diễn viên những người dẫn dắt quá trình chuyển đổi và các chiến lược họ áp dụng; rồi chúng tôi cho rằng các phương thức này tạo hình chế độ và chính trị sau chuyển đổi bằng tác động đến hình mẫu của cạnh tranh elite, các quy tắc định chế được soạn ra trong thời gian chuyển đổi, và sự sắp đặt các diễn viên chủ chốt để chấp nhận hay bác bỏ các quy tắc mới của trò chơi. Thông qua các cơ chế nhân quả này phương thức chuyển đổi giúp giải thích các nền dân chủ có nổi lên và củng cố hay không và thế nào nếu có. Để chứng minh lý lẽ này, chúng tôi phân tích nhiều nước Nam Mỹ và Đông Trung Âu: Argentina, Brazil, Chile, Bulgaria, Tiệp Khắc, Hungary, và Ba Lan.

Phương thức chuyển đổi không phải là nhân tố duy nhất tác động đến dân chủ hóa. Các di sản của các phương thức chuyển đổi cũng chẳng được cố định một cách vĩnh cửu. Tuy vậy chúng tôi muốn nhấn mạnh rằng một nhân tố chính trị nổi bật, bản thân quá trình chuyển đổi, có sự xác đáng chính trị kéo dài. Chúng tôi như thế dựa vào hai lý lẽ chính của Dankwart A. Rustow trong bài báo có ảnh hưởng sâu rộng của ông, “Transitions to Democracy”: phê phán của ông đối với các lý thuyết nhấn mạnh các điều kiện tiên quyết xã hội và kinh tế để loại trừ các nhân tố chính trị, và việc ông phát triển cách tiếp cận định hướng quá trình đến dân chủ hóa.4 Trong việc nhấn mạnh tính trung tâm của các chuyển đổi từ sự cai trị độc đoán, tuy vậy, chúng tôi đưa ra một vòng xoay mới lên mệnh đề quan trọng của Rustow rằng “các nhân tố mà giữ cho một nền dân chủ ổn định có thể không là các nhân tố sinh ra nó.”5 Dựa vào sự phân biệt giữa sự chuyển đổi từ chế độ độc đoán và sự chuyển đổi sang dân chủ, lý lẽ phụ thuộc con đường của chúng tôi đưa ra một mệnh đề hơi khác: chính quá trình chuyển đổi từ sự cai trị độc đoán, độc lập với các điều kiện gây ra nó, giúp xác định không chỉ các triển vọng của sự củng cố dân chủ mà trước hết cả sự thành công của chuyển đổi sang dân chủ.

Các Phương thức Chuyển đổi và Tác động của Chúng

Khái niệm về phương thức chuyển đổi phân biệt các quá trình khác nhau mà nhờ đó các quy tắc xác định các chế độ chính trị được vứt bỏ. Văn liệu về các phương thức chuyển đổi quá thường xuyên đã không phân biệt giữa những sự chuyển đổi từ các chế độ đã được thiết lập và những chuyển đổi sang các chế độ mới và như thế đã quy sự đánh giá các phương thức chuyển đổi về tác động của chúng lên sự củng cố của nền dân chủ. Phương thức chuyển đổi không chỉ tác động đến sự củng cố của các chế độ mới mà cũng giúp xác định sự chuyển đổi có sang dân chủ hay sang kiểu chế độ khác nào đó.

Làm sao chúng ta có thể phân biệt giữa các chuyển đổi từ các chế độ đã được thiết lập? Hai tiêu chuẩn cơ bản có thể được chiết xuất ra từ văn liệu hiện tồn, Bị ảnh hưởng mạnh bởi sự tương phản giữa Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha, văn liệu ban đầu đã nhấn mạnh mức độ kiểm soát mà các nhà cai trị sắp ra đi đã có đối với quá trình chuyển đổi. Theo các thuật ngữ động hơn, các nghiên cứu này đã nhắm vào các chiến lược được các diễn viên liên quan trong quá trình chuyển đổi áp dụng. 6 Họ đã phân biệt các chuyển đổi được thăng tiến qua các mức độ khác nhau của sự điều chỉnh và đối đầu giữa các diễn viên tìm sự thay đổi và những kẻ bảo vệ trật tự cũ, như thế phân biệt các chuyển đổi tuyệt giao với chế độ cũ khỏi các chuyển đổi được tiến hành bên trong một khung khổ pháp luật được thiết lập trước hay thông qua các thỏa thuận với các elite đương chức. Nhanh chóng đã trở nên rõ, tuy vậy, rằng tiêu chuẩn đơn giản này đã không thâu tóm được những sự khác nhau quan trọng trong quá trình chuyển đổi ngay cả trong các trường hợp đã gây cảm hứng cho nó, và như thế các học giả khác nhau đã đề xuất các tiêu chuẩn mới.

Có lẽ lý thú nhất trong những cách trình bày thay thế đã là gợi ý rằng các chuyển đổi phải cũng được phân biệt về mặt nhận diện các tác nhân chủ yếu của sự thay đổi. Tiêu chuẩn này làm nổi bật một biến số cốt yếu: liệu một sự chuyển đổi được thực hiện bởi các elite bên trong cấu trúc quyền lực được thiết lập, bởi elite đối lập (counterelite) những người thách thức các elite đương chức, hay bởi sự kết hợp nào đó của hai loại elite.7 Hơn nữa, khi kết hợp với tiêu chuẩn thứ nhất, tiêu chuẩn chiến lược, sự khái niệm hóa hai chiều này của các phương thức chuyển đổi có ưu điểm về thâu tóm trực tiếp một đặc tính khu biệt của các chuyển đổi: chúng là các quá trình lỏng duy nhất được xác định bởi nét nhận diện của những người thách thức chế độ và các chiến lược của họ trong việc thách thức chế độ cũ. Khái niệm này về phương thức chuyển đổi làm nổi bật ai tiến hành các sự chuyển đổi và chúng được tiến hành thế nào.

Hai câu hỏi cơ bản vẫn phải đương đầu. Vì sao các phương thức chuyển đổi lại quan trọng, và chúng quan trọng thế nào? Các chuyển đổi là quan trọng bởi vì chúng gây ra các di sản khá lâu bền mà tác động đến chế độ và chính trị sau chuyển đổi. Các phương thức chuyển đổi khác nhau chắc là có những hậu quả khác nhau cho hoạt động chính trị của một nước. Thách thức chủ yếu là để giải thích làm sao các phương thức chuyển đổi lại quan trọng bằng việc chỉ rõ các cơ chế nhân quả và sự quan trọng của các di sản này. Một số học giả đã tìm cách giải quyết thách thức này. Một tuyến điều tra màu mỡ đã tìm cách để kết nối sự cân bằng quyền lực tương đối giữa các nhà cai trị và đối lập trong thời gian chuyển đổi với sự lựa chọn các quy tắc thể chế cá biệt mà cả vẫn tồn tại vượt quá giai đoạn chuyển đổi lẫn định hình các triển vọng cho sự củng cố chế độ. 8 Tuy vậy, phân tích của chúng tôi là rộng hơn một chút.

Chúng tôi cho rằng phương thức chuyển đổi tác động đến hình thức của chế độ và hoạt động chính trị sau chuyển đổi thông qua ảnh hưởng của nó lên hình mẫu cạnh tranh elite, lên các quy tắc thể chế được soạn trong thời gian chuyển đổi, và lên việc các diễn viên chủ chốt chấp nhận hay bác bỏ các quy tắc mới của trò chơi. Một mối quan hệ xác suất giữa các phương thức chuyển đổi và dân chủ hóa như thế có thể được giải thích rõ ràng. Một phương thức chuyển đổi cho trước chắc là làm tăng cơ hội cho sự nổi lên của dân chủ nếu nó tạo ra hình mẫu ít nhiều cân bằng của sự cạnh tranh elite.9 Và nó chắc là làm tăng cơ hội cho sự củng cố của các nền dân chủ mới được lắp đặt nếu nó tạo thuận lợi cho sự chấp nhận các định chế tiện cho việc xử trí xung đột elite và sự sẵn lòng của tất cả các diễn viên chính để chấp nhận các quy tắc dân chủ của trò chơi

Các Trường hợp Nam Mỹ và Đông Âu

Các chuyển đổi mới đây từ sự cai trị quân sự ở Nam Mỹ và từ Chủ nghĩa Cộng sản ở Trung Đông Âu cung cấp các trường hợp tuyệt vời để kiểm tra lý lẽ này. Chúng tôi đã chọn bảy nước như các thí dụ.

Mẫu này không chỉ tối đa hóa mức biến đổi trong biến số giải thích then chốt của chúng tôi, một điều ao ước phương pháp luận, mà cũng đủ nhỏ để cho phép việc sử dụng một phương pháp luận “lần theo vết quá trình” hợp một cách độc nhất để xác minh rằng các cơ chế nhân quả mà chúng tôi cho là đúng thực sự hoạt động. Ngoài ra, nó bao gồm hai cặp trường hợp mà chia sẻ một phương thức chuyển đổi (Brazil và Ba Lan, Argentina và Tiệp Khắc) bất chấp sự biến đổi đáng kể trong những khía cạnh khác. Như thế, ngoài việc sử dụng sự lần theo dấu vết quá trình ra, mẫu này cho phép chúng ta khai thác các sức mạnh của một thiết kế hệ thống “khác nhau nhất.”10

Trong mỗi trường hợp, chúng ta xác định ngày tháng chuyển đổi và biện minh việc đặt nó bên trong các phương thức chuyển đổi khả dĩ.11 Sau đó chúng ta tập trung vào việc phương thức chuyển đổi giúp thế nào để giải thích sự nổi lên của kiểu chế độ chính trị. Cuối cùng, chúng ta xem xét động học chính trị sau chuyển đổi, đặc biệt những thách thức đặc biệt của sự củng cố chế độ. Để tạo thuận tiện cho so sánh, chúng ta bắt đầu với Chile ở một cực và tiếp tục qua các trường hợp đến Bulgaria ở cực khác (xem hình 9.1).

Cải cách từ Dưới: Chile

Trong chuyển đổi của Chile, sự thúc đẩy cho thay đổi đã đến từ bên ngoài elite đương chức, từ các nhóm mà đã bị loại trừ và đã bị chống lại kịch liệt bởi các nhà cai trị quân sự sắp ra đi, dẫn đầu bởi Tướng Augusto Pinochet. Mặc dù không đẩy lui được một sự thay đổi chế độ, các elite đương chức có thể có nhiều kiểm soát đối với sự chuyển đổi hơn bất kể trường hợp nào khác của sự chuyển đổi chế độ. Các đối thủ của Pinochet như thế đã buộc đưa ra chương trình nghị sự của họ bên trong khung khổ pháp luật của chế độ cũ, thông qua một chiến lược điều chỉnh thuần túy. Sự chuyển đổi đã được khởi đầu trên cơ sở của một cuộc trưng cầu dân ý được ủy nhiệm theo hiến pháp trong tháng mười 1988 mà đối lập đã thắng. Sự chuyển đổi của Chile đã là một trường hợp cải cách từ dưới.

HÌNH 9.1 Các Phương thức Chuyển đổi: Một số Trường hợp Nam Mỹ và Đông Âu

Tác động của các nét đặc trưng cơ bản này của phương thức chuyển đổi của Chile là rõ rệt đầu tiên theo kiểu của chế độ được tạo ra trong thời gian chuyển đổi. Để thách thức một cách hiệu quả elite đương chức từ bên ngoài, các lực lượng chống chế độ đã cần tạo dựng một liên minh có cơ sở rộng. Sự chuyển đổi khi đó đã mở quá trình chính trị ra cho một dãy rộng các lực lượng xã hội. Ngoài ra, bởi vì các elite cũa của Chile đã vẫn là một lực lượng chính trị có thể đứng vững, sự chuyển đổi đã không đơn giản thay thế elite đương chức bằng các elite đối lập. Đúng nơn, phương thức chuyển đổi của Chile đã tạo ra một hệ thống cạnh tranh elite khá cân bằng, tức là, một nền dân chủ.

Nhưng chuyển đổi của Chile đã không dẫn đến một hệ thống dân chủ đầy đủ. Các elite cũ cả đã chống lại sự thay đổi dân chủ lẫn đã có một mức độ kiểm soát cao đối với quá trình chuyển đổi. Như thế họ đã có khả năng thực hiện một quid pro quo (sự đổi chác) mà nhờ đó khả năng thành công của chuyển đổi đã xoay quanh việc đối lập dân chủ chấp nhận các nét đặc tính công khai phi dân chủ, mà nhiều trong số đó đã được cấy vào trong hiến pháp Pinochet đã thiết kế trong năm 1980. Một cách cụ thể, chế độ mới của Chile đã chấp nhận quyền của Pinochet để vẫn là tổng chỉ huy quân đội trong tám năm sau khi chuyển giao quyền lực và sau đó trở thành thượng nghị sĩ suốt đời, chín thượng nghị sĩ được chỉ định, một hội đồng an ninh quốc gia với những quyền lực mạnh mẽ và sự đại diện quân đội, một tòa án tối cao đầy người của ông, và một luật bầu cử được quân đội tạo ra để thiên vị cho các đảng cánh hữu và ngăn cản việc sửa hiến pháp năm 1980 mà không có sự đồng ý của những người ủng hộ chế độ Pinochet.12 Chuyển đổi của Chile, nói tóm lại, đã tạo ra một dạng hạn chế của nền dân chủ mà đã không quy định việc bầu cử đối với tất cả các chức vụ then chốt và mà đã hạn chế quyền lực của các chức vụ được bầu.

Phương thức chuyển đổi của Chile cũng đã tác động đến hoạt động chính trị sau chuyển đổi, sau khi đối lập đã đánh bại Pinochet trong cuộc tổng tuyển cử tháng Mười Hai năm 1989 và đã nắm quyền lực trong tháng Ba 1990.13 Quả thực, nó đã định hình các diễn viên và các quy tắc thể chế: liên minh dân chủ, rộng, chống Pinochet, đã đối trọng với elite mà đã hưởng lợi dưới trật tự cũ và đã cam kết một cách đáng ngờ với dân chủ. Hình thể này làm nền cho động học hậu chuyển đổi của Chile. Một mặt, các chính trị gia dân chủ đã tìm cách loại bỏ những hạn chế phi dân chủ lên phạm vị và quyền hạn của các chức vụ được bầu. Mặt khác, họ đã biết kỹ rằng elite cánh hữu sẽ sử dụng vị trí được thừa nhận một cách hợp pháp của nó để ngăn cản việc cải cách “các enclave độc đoán” này và rằng sự xóa sạch chúng đã có thể gây ra một sự phản ứng bảo thủ dữ dội. Phương thức chuyển đổi đã để lại di sản của nó trong một hình mẫu gượng gạo của sự tranh luận elite mà cản trở sự củng cố ở Chile bằng cách biến sự chấp nhận một hình thức hạn chế của dân chủ thành cái giá cho sự ổn định.14

Cải cách Qua Giao dịch: Brazil và Ba Lan

Brazil và Ba Lan làm thí dụ cho cải cách qua giao dịch. Mặc dù sự thúc đẩy cho thay đổi đã không bắt đầu ngang nhau bên trong và bên ngoài elite đương chức, bởi vì các elite đương chức đã vẫn lập lờ nước đôi như elite đối lập thúc đẩy cho những thay đổi dân chủ, các elite đương chức ở Brazil và Ba Lan đã đủ mạnh để buộc đối lập đưa ra chương trình nghị sự của nó qua các cuộc thương lượng. Các di sản của chuyển đổi cũng đã biểu lộ những sự giống nhau quan trọng, bất chấp những sự khác biệt to lớn về mặt khác giữa hai nước.

Trong sự phân tích Brazil, vấn đề rắc rối đầu tiên cần giải quyết liên quan đến định ngày tháng của chuyển đổi. Mặc dù hầu hết nhà phân tích xác định năm 1974 như sự bắt đầu thay đổi chế độ của Brazil, trước 1982 Brazil thực sự đã trải qua một quá trình tự do hóa hơn là dân chủ hóa mà đã tìm cách mở rộng cơ sở xã hội của chế độ độc đoán hiện tồn.15 Như thế thì chính xác hơn để định ngày tháng của chuyển đổi từ 1982. Trong các cuộc bầu cử được tổ chức năm đó các đối thủ của chế độ quân sự đã thu được lợi đáng kể đến mức họ đã đương đầu các elite đương chức với một sự lựa chọn cốt yếu: hoặc chấp nhận các biện pháp ngày càng áp bức làm dừng sự tự do hóa lại hoặc cho phép sự dân chủ hóa. Các elite đương chức chọn không ngăn cản sự thay đổi dân chủ, mà đúng hơn đã tập trung quyền lực còn lại đáng kể của họ đối với quá trình chuyển đổi để buộc các elite đối lập chấp nhận một lập trường thích nghi.

Tác động của các đặc tính này của chính trị chuyển đổi của Brazil đã biểu lội, trước hết, trong tính phức tạp của quá trình chuyển đổi. Trong việc thực thi quyền lực mà đã thể hiện thái đội lập lờ nước đôi đối với dân chủ, các nhà cai trị quân sự đã kiên quyết đẩy lui một chiến dịch đối lập ồ ạt trong đầu năm 1984 cho các cuộc bầu cử tổng thống trực tiếp bởi nhân dân và đã buộc các đối thủ của họ chấp nhận một phương pháp gián tiếp chỉ định tổng thống. Ngay cả khi ứng viên tổng thống của phe đối lập đã thắng trong năm 1985, các nhà cai trị quân sự thực sự đã kéo dài sự chuyển đổi và đã giữ sự kiểm soát đáng kể đối với các nét chính của chế độ tương lai. Ngược với hầu hết các diễn giải, việc José Sarney lên làm tổng thống trong năm 1985 đã không kết thúc sự chuyển đổi. Sarney thực tế đã lãnh đạo một chính phủ lâm thời mà trong thời gian đó các quy tắc mới của trò chơi được thiết lập. Chỉ như kết quả của một quá trình bị kéo dài ra – các cuộc bầu cử quốc hội lập hiến trong năm 1986, việc thông qua một hiến pháp mới trong năm 1988, cuộc bầu cử tổng thống trực tiếp đầu tiên vào tháng Mười Một 1989, việc Collor de Mello nhậm chức tháng Ba 1990, và các cuộc bầu cử quốc hội và thống đốc tháng Mười, 1990 – thì sự chuyển đổi của Brazil mới kết thúc.

Phương thức chuyển đổi, qua quá trình bị kéo dài này, cũng đã ảnh hưởng đến hình thức mới của chính phủ. Bởi vì các phần tử bên trong elite đương chức đã ngày càng chấp nhận và đi theo sự thúc đẩy bên ngoài cho sự thay đổi, sự mở cửa chính trị của chuyển đổi đã không chỉ thừa nhận sự cạnh tranh giữa các elite chính trị, mà cũng đã tạo ra một chế độ mà không có các đặc tính phi dân chủ rõ rệt thấy ở Chile. Tuy vậy, sự thiếu một elite cánh hữu phản dân chủ công khai cũng đã có những nhược điểm. Ở Chile, sự hiện diện của một phái hữu phản dân chủ đã cổ vũ sự thống nhất trong liên minh chống độc tài trong và sau chuyển đổi. Ở Brazil, ngược lại, sự sẵn lòng của các elite truyền thống trước kia có cảm tình với sự cai trị quân sự để hợp tác với và thậm chí tham gia vào đảng đối lập chính, Đảng Phong trào Dân chủ Brazil (PMDB), trong bầu cử tri đoàn năm 1985 đã pha loãng bản sắc của PMDB. Động lực của các lực lượng tận tâm nhất đối với dân chủ đã bị làm yếu đi một cách nghiêm trọng.16

Sự mất bản sắc bên trong liên minh chống độc tài, cùng với năng lực của những kẻ cai trị sắp ra đi để kiểm soát sự chuyển đổi, đã tác động đến hiến pháp mới của Brazil. Mặc dù PMDB đã có được một đa số lớn trong các cuộc bầu cử 1986 cho quốc hội lập hiến, những người ủng hộ trước kia của quân đội đã xâm nhập nó, và các thành trì bảo thủ clientelist ở miền bắc và đông bắc kém phát triển (như một kết quả của các luật bầu cử bị thiên vị) đã được đại diện quá mức trong nó. Những người ủng hộ trước kia của các nhà cai trị quân sự thực sự đã đông hơn số lãnh đạo PMDB gốc.17 Quyền của tổng thống Sarney để bác bỏ các đòi hỏi mà làm cho quốc hội lập hiến độc lập, hơn nữa, đã làm yếu khả năng của nó để đoạn tuyệt với quá khứ. Như thế, trong khi hiến pháp mới, được thông qua năm 1988, đã hủy bỏ các khía cạnh độc đoán của hiến pháp quân sự cũ và đã bao gồm nhiều quy định tiến bộ, nó đã được định hình theo những cách quyết định bởi quân đội và các đồng minh của nó. Quan trọng nhất, kiến nghị để chấp nhận một hệ thống nghị viện đã bị đánh bại, và chủ nghĩa liên bang đã được tiếp sinh lực lại mà không đưa ra những sự thay đổi mà củng cố các đảng chính trị và ngăn chặn sự vỡ ra từng mảnh của hệ thống đảng.18 Tuy chế độ mới đã là dân chủ một cách rõ ràng, những người chủ trương thay đổi đích thực nhất đã mất xung lực, và các nhà cai trị sắp ra đi đã kiểm soát quá trình chuyển đổi, bằng cách ấy bảo đảm sự chấp nhận các quy tắc thể chế còn xa mới tối ưu cho dân chủ.

Phương thức chuyển đổi cũng đã tác động đến hoạt động chính trị sau chuyển đổi của Brazil. Nhiều elite đã cạnh tranh vì quyền lực như ở Chile, nhưng không diễn viên nào trực tiếp phản đối chế độ mới. Động học chính trị sau chuyển đổi của Brazil đã không được dẫn dắt bởi sự cự tuyệt của một số diễn viên để phục tùng các quy tắc dân chủ. Đúng hơn, các diễn viên đã trải qua những khó khăn trong dàn xếp các xung đột bên trong các quy tắc dân chủ được chấp nhận trong thời gian chuyển đổi. Đặc biệt, các luật bầu cử đã tạo thuận tiện cho sự vỡ ra từng mảnh của hệ thống đảng: mười chín đảng đã được đại diện trong quốc hội trong năm 1990. Hơn nữa, các luật bầu cử cùng với hệ thống tổng thống đã làm giảm khả năng của một đa số tổng thống trong quốc hội. Đặc tính loạn chức năng mấu chốt của chính trị sau chuyển đổi của Brazil, quả thực, đã là các xung đột lập pháp-hành pháp. Sự kết hợp của chế độ tổng thống và chủ nghĩa đa đảng, một di sản trực tiếp của phương thức chuyển đổi, đã cản trở sự củng cố dân chủ ở Brazil.19

Ở Ba Lan, động lực cho thay đổi ban đầu cũng đã đến từ bên ngoài elite đương chức, từ phong trào xã hội có cơ sở lao động, Đoàn kết, được thành lập năm 1980. Tuy nhiên, sự chuyển đổi đã không được thực hiện cho đến 1989 khi các elite đương chức đã nới lỏng các biện pháp đàn áp trước đây và đã khởi động các cuộc thương lượng bàn tròn với Đoàn kết. Trong khi động lực đằng sau quyết định để thương lượng đã là để hợp pháp hóa cương lĩnh kinh tế Cộng sản trong thời khủng hoảng kinh tế, chứ không phải để đưa ra các thay đổi dân chủ mà Đoàn kết tìm kiếm, bước này được cho là một sự rời khỏi tiền đề trung tâm của chế độ cũ: yêu sách Cộng sản đối với sự độc quyền chính trị. Các elite đương chức tuy vậy đã duy trì sự kiểm soát đáng kể lên quá trình chuyển đổi. Quả thực, những người Cộng sản Ba Lan đã được hưởng lợi từ việc là nước đầu tiên trong khối Soviet theo đuổi một sự mở cửa chính trị; sự không chắc chắn về phạm vi thay đổi mà Gorbachev sẵn sàng ủng hộ đã cho họ lợi thế đi kèm sự đe dọa rơi rớt lại về sự can thiệp Soviet. Như ở Brazil, khi đó, chuyển đổi Ba Lan đã bắt đầu khi các elite đương chức cho phép một sự mở cửa bên lề mà đã làm xói mòn các nét cơ bản của ancien re´gime (chế độ cũ), trong khi vẫn duy trì sự kiểm soát đủ đối với quá trình chuyển đổi để buộc các elite đối lập đàm phán.

Quá trình chuyển đổi ở Ba Lan đã trải qua cùng những sự rắc rối được chứng kiến ở Brazil. Trong khi Đoàn kết đã đạt được sự hợp pháp hóa nghiệp đoàn của nó trong thỏa thuận bàn tròn tháng Tư năm 1989, những người Cộng sản đã hạn chế mức tham gia của đối lập trong các cuộc bầu cử chỉ ở mức 35 phần trăm số ghế của hạ viện (Sejm) mấu chốt. Sejm theo hợp đồng, được dân chủ hóa không đầy đủ, như thế đã bị áp đảo bởi những người lưu nhiệm từ chế độ trước. Hơn nữa, một sự sửa đổi hiến pháp đã thiết lập một tổng thống, do Sejm lựa chọn, với những quyền hạn độc lập tiềm tàng đáng kể nhưng không được xác định rõ được bày địa vị chắc chắn thêm cho lãnh tụ Đảng Cộng sản Tướng Wojciech Jaruzelski. Như ở Brazil năm 1985, những hạn chế này đã không phải hoàn toàn chắc. Đối lập đã lợi dụng sự mở cửa pháp lý bị hạn chế để gây cho các elite đương chức một sự thất bại. Sự phô trương bầu cử mạnh đến gây sốc của Đoàn Kết tháng Sáu 1989, có thể được quy cho sức mạnh tuyệt đối của đối lập, cơ sở quần chúng của nó, và kỹ năng lãnh đạo của Lech Walesa, đã chứng tỏ rằng chiến lược Cộng sản đem lại kết quả ngược. Sau nhiều vận động, một chính phủ hỗn hợp Cộng sản-Đoàn kết đứng đầu bởi nhà hoạt động Đoàn kết Tadeusz Mazowiecki đã được lập ra tháng Chín 1989. Nhưng đồng thời quan trọng, ảnh hưởng gây hạn chế của hiệp ước bàn tròn đã biến chuyển đổi thành một quá trình phức tạp và kéo dài mà đã tác động đến hình thể của chế độ mới. Như ở Brazil, khi đó, chuyển đổi Ba Lan đã tiến tới theo cách từng bước. Các cột mốc chính của nó đã bao gồm một sự dàn xếp chia sẻ quyền lực mà đã hoạt động thông qua các định chế Cộng sản hiện tồn khi được bàn tròn sửa đổi, cuộc bầu cử tổng thống phổ thông mùa thu 1990, và các cuộc bầu cử cạnh tranh vào quốc hội trong tháng Mười 1991, mà đã kết thúc sự chuyển đổi.

Tác động của sự chuyển đổi bị kéo dài này lên chế độ mới đã là đáng kể. Bởi vì những người Cộng sản đã đồng ý với đòi hỏi của các elite không cộng sản để thanh lý những hạn chế về tranh luận chính trị, những hạn chế về cạnh tranh elite đã được loại bỏ từ từ. Như ở Brazil, Ba Lan đã nổi lên từ sự chuyển đổi của mình với nền dân chủ cạnh tranh đầy đủ, nhưng khả năng của các elite cũ để định hình sự đột phá bàn tròn ban đầu và sự tham dự tiếp tục của họ trong quá trình dân chủ hóa đã cản trở nột sự đoạn tuyệt rõ ràng với quá khứ theo nhiều cách quan trọng. Thứ nhất, sự đe dọa Cộng sản bị yếu đi đối với dân chủ hóa đã giúp làm mòn sự thống nhất của liên minh chống độc tài theo một cách mà đã ảnh hưởng trực tiếp đến sự thiết kế các định chế dân chủ. Khi lãnh tụ Đoàn kết Walesa, người đã phải đứng ngoài chính phủ hỗn hợp của Thủ tướng Mazowiecki vì các lý do chiến lược, đã thấy mình bị đẩy ra ngoài lề, ông đã không do dự để tấn công tính hợp pháp của chính liên minh nội các Đoàn kết-Cộng sản mà việc tạo ra nó ông đã thương lượng. Lại tham gia chính trị thông qua sự mở cửa thể chế được tạo ra bởi thỏa thuận bàn tròn, Walesa đã thành công ép các cuộc bầu cử trực tiếp tổng thống, mà ông đã thắng vào tháng Mười Hai 1990 trong một thách thức nồi da nấu thịt cay đắng đối với phẩm chất dân chủ của các đồng minh Đoàn Kết của ông.

Đến lượt, việc bầu Walesa vào chức tổng thống vẫn chưa được bàn tròn xác định rõ nhưng có quyền thế, đã tác động đến các lựa chọn thể chế theo một cách rắm rối, dựng sân khấu cho xung đột lập pháp-hành pháp. Walesa đã có thể dựa vào uy quyền bầu cử của mình để đe dọa phủ quyết bất cứ sự dàn xếp hiến pháp nào được soạn bởi Sejm “hợp đồng” bị nhơ, một cơ quan được cảm nhận một cách rộng rãi là thiếu tính chính đáng với tư cách một quốc hội lập hiến. Sự kết hợp của việc bầu Walesa và các di sản luôn hiện diện của các thỏa thuận bàn tròn đã tạo ra một sự bế tắc hiến pháp. Kết cục này có lẽ đã rất ít có khả năng nếu giả như một quốc hội lập hiến chính đáng hoàn toàn đã được tự do để hành động, mà không có ràng buộc của chức tổng thống theo bàn tròn.

Sự vỡ ra từng mảnh của Đoàn Kết đã tác động trực tiếp đến luật bầu cử cho các cuộc bầu cử cạnh tranh hoàn toàn đầu tiên trong tháng Mười 1991. Ngày càng nghi ngờ sự tiếp sau bầu cử của họ, các phe phái Đoàn Kết trong Sejm đã kết hợp với những người Cộng sản được đại diện quá mức để chấp nhận, ngược với những mong muốn của Walesa, một hệ thống bầu cử hết sức tỷ lệ mà không có ngưỡng đại diện nào. Về thể chế, giống Brazil, Ba Lan đã chọn một hệ thống tổng thống đa đảng có vấn đề.

Trong pha sau chuyển đổi, ngày càng trở nên rõ ràng rằng các diễn viên chủ chốt đã cam kết cho một hệ thống cạnh tranh elite. Quá trình bị kéo dài để khắc phục những hạn chế của sự mặc cả ban đầu đã hợp nhất một cách hiệu quả các elite trước kia vào hệ thống dân chủ mới. Như ở Brazil, những trở ngại chính cho sự củng cố dân chủ nằm ở hoạt động có vấn đề của các định chế dân chủ. Luật bầu cử không hạn chế đã tạo ra một Sejm bị vỡ ra từng mảnh của hai mươi chín đảng, báo trước một giai đoạn kéo dài của chính phủ bởi những liên minh thiểu số kế tiếp nhau, chẳng chính phủ nào đã có đủ sự ủng hộ hay thời gian tại chức đủ để thông qua một hiến pháp.20 Những sự đụng chạm lặp đi lặp lại giữa tổng thống và quốc hội đặc trưng cho phần sau của chuyển đổi đã vẫn còn, chỉ được kiềm chế một phần bởi “hiến pháp nhỏ” của tháng Tám 1992, một cố gắng chi tiết để làm rõ sự cân bằng quyền lực lập pháp-hành pháp nhằm đáp lại những đụng độ thẩm quyền. Ngay cả Sejm 1993 gọn hơn, được bầu với một ngưỡng, đã không đạt được một thỏa thuận hiến pháp chừng nào Walesa còn là tổng thống. Như ở Brazil, các cơ chế không thỏa đáng để điều tiết xung đột lập pháp-hành pháp, một di sản trực tiếp của phương thức chuyển đổi, đã tiếp tục cản trở sự thiết lập một hình mẫu được biến thành thủ tục quen thuộc của sự tương tác elite và đã cản trở sự củng cố của nền dân chủ Ba Lan.

Cải cách Thông qua Giải thoát: Hungary

Ở Hungary, chuyển đổi đã được thương lượng bởi đối lập và các elite đương chức mà cả hai bên đã có quyền lợi trong việc theo đuổi một sự mở. Cánh cải cách của elite Cộng sản đã xây dựng các cây cầu tới các hướng sẵn sàng đáp lại hơn trong đối lập chính trị và văn hóa từ nhiều năm trước 1989, để tìm một công thức tự do hóa chính trị cho “chủ nghĩa đa nguyên xã hội chủ nghĩa” mà có thể hợp lệ hóa cải cách kinh tế hữu hiệu. Các nhà cải cách này đã hy vọng để ngăn chặn trước một cuộc đụng độ chống cộng sản bằng việc có được sự tín nhiệm cho sự phản ứng nhanh của họ với sự thay đổi chính trị. Khi các lãnh tụ trẻ hơn, linh hoạt hơn đã tiếp quản sự lãnh đạo của đảng sau một sự dọn dẹp nhà, đẩy các ủy viên Bộ Chính trị trên bảy mươi tuổi về vườn vào tháng Năm 1988, họ đã theo đuổi một chiến lược chia để trị về thương lượng riêng rẽ với các nhóm đối lập theo các xu hướng khác nhau, dân tộc chủ nghĩa-dân túy chủ nghĩa và đô thị-thế giới chủ nghĩa, của họ. Chiến lược này cuối cùng đã thất bại. Phe đối lập đã tạm thời thành công trong việc phối hợp các lập trường của họ; sự ủng hộ cho sự thay đổi đã tăng lên trong tiến trình của các cuộc phản kháng dân chúng; và các sự kiện ở Ba Lan đã làm yếu những người Cộng sản khắp đông Âu bởi sự tiết lộ việc Liên Xô không sẵn sàng bảo vệ hiện trạng. Trong tháng Sáu 1989 những người Cộng sản đã bắt đầu các cuộc đàm phán với các nhóm đối lập chủ chốt trong một dạng thức bàn tròn kiểu Ba Lan mà đã bao gồm tất cả các đảng và các tổ chức xã hội mới sinh và đã đạt một thỏa thuận với đối lập trong tháng Chín 1989. Như thế “cuộc cách mạng được thương lượng” của Hungary là một thí dụ tốt về cải cách thông qua giải thoát. Cả các nhà cai trị cũ lẫn elite đối lập đã tìm kiếm sự thay đổi, và những người đương chức, dù yếu hơn ở Ba Lan và Brazil, đã vẫn đủ sự kiểm soát để buộc đối lập mặc cả.21

Chuyển đổi Hungary đã tương đối không phức tạp. Ngược với Ba Lan, nơi hình phạt do là nước đầu tiên thử sự chịu đựng Soviet cho sự thay đổi đã là việc chấp nhận những hạn chế phi dân chủ và một quá trình kéo dài để loại bỏ chúng, chuyển đổi Hungary đã không bị ràng buộc. Thỏa thuận tháng Chín 1989 đã phản ánh sự cân bằng tương đối công bằng về sức mạnh giữa các nhà cai trị và đối lập và một sự đồng thuận rộng cho thay đổi và đã dẫn trực tiếp đến một sự mở chính trị hoàn toàn trong các cuộc bầu cử cạnh tranh vào quốc hội tháng Ba 1990. Trong khi chuyển đổi Ba Lan đã kéo lê hai năm rưỡi, chuyển đổi Hungary đã hoàn tất trong thời gian ít hơn chín tháng.

Luật bầu cử cũng đã được tán thành với sự đồng thuận. Những người Cộng sản đã đề xuất một hệ thống đa số mà họ đã tin, một cách sai lầm, sẽ có lợi cho họ với tư cách đảng có các nguồn lực tổ chức ưu việt chống lại một đối lập bị chia rẽ. Tuy vậy, luật cuối cùng đã là kết quả của một sự thỏa hiệp. Hệ thống bầu cử hỗn hợp, rất phức tạp đã phản ánh nỗi sợ của đối lập về sức mạnh Cộng sản và sự đòi hỏi cho việc pha loãng nguyên tắc đa số.

Sự rắc rối mà đã liên quan đến cố gắng của những người Cộng sản để tạo ra một cơ sở định chế cho bản thân họ, theo cách gợi lại Ba Lan, bằng việc thể chế hóa một chức tổng thống do dân bầu trước các cuộc bầu cử cạnh tranh đầu tiên vào quốc hội. Các nhà chiến lược Cộng sản đã tính rằng ứng viên được biết đến nhiều hơn và được tổ chức kỹ hơn của họ sẽ thắng trên đỉnh của sự đánh giá cao của nhân dân về sự sẵn sàng của những người Cộng sản để mở hệ thống. Diễn đàn Dân chủ Hungary (HDF) đối lập ban đầu đã chấp nhận đề xuất này, nhưng mưu mẹo đã bị phá hủy khi phần còn lại của phe đối lập đã đưa vấn đề ra trưng cầu dân ý vào mùa thu 1989. Cân bằng sức mạnh sau đó đã chuyển từ những người Cộng sản sang các đối thủ của họ trong tiến trình của các cuộc đàm phán, bỏ dở cố gắng của những người Cộng sản để tạo ra một hệ thống tổng thống. Như một kết quả của phương thức chuyển đổi của nó, Hungary đã tạo ra một chế độ mới với không quy tắc phi dân chủ công khai nào, một luật bầu cử đa số phức tạp, và một hệ thống nghị viện.

Sau chuyển đổi, đã không còn diễn viên chính nào phản đối dân chủ.22 Các lựa chọn thể chế của giai đoạn chuyển đổi cũng cho phép Hungary tránh các đụng độ lập pháp-hành pháp nghiêm trọng đăc trưng cho chính trị sau chuyển đổi ở Brazil và Ba Lan. Quy tắc bầu cử đa số phức tạp chấp nhận ghế thưởng cho các đảng lớn, biến đa số thường (plurality) thành gần đa số (majority) của HDF trong năm 1990 và đa số cựu Cộng sản trong năm 1994.* Hệ thống bầu cử này đã không chỉ tạo thuận lợi cho sự tham gia của đảng kế vị Cộng sản, Đảng Xã hội Hungary, vào hệ thống chính trị như một diễn viên chính trị “bình thường” chơi theo các quy tắc mới, mà về tiềm năng nó cũng đã tạo ra các điều kiện cho việc hoạch định chính sách mạch lạc. Sẽ là sai lầm, tuy vậy, để gợi ý rằng sự dàn xếp được thương thảo tương đối không hạn chế của Hungary đã không để lại di sản tiêu cực nào. Mỉa mai thay, bất chấp các tác động mặt khác tích cực, các quy tắc bầu cử của Hungary đã bắt phải nộp một khoản phí trên tính chính đáng và phản ứng nhanh của chính phủ HDF nhậm chức. Sức mạnh nghị trường bất cân xứng của nó sau các cuộc bầu cử đầu tiên đã tăng cường xu hướng đôi khi kiêu căng của nó để tự coi mình như trọng tài thật duy nhất của các lợi ích Hungary, đặc biệt trong sự theo đuổi chương trình nghị sự dân tộc chủ nghĩa riêng của nó đến mức sao lãng một phần các vấn đề cấp bách khác.* Khi xét một cách so sánh, tuy vậy, cải cách Hungary thông qua giải thoát đã gây ra các di sản ít phiền hà một cách đáng kể cho sự củng cố dân chủ so với các phương thức chuyển đổi khác.

Cải cách thông qua Đoạn tuyệt: Argentina và Tiệp Khắc

Argentina và Tiệp Khắc là các trường hợp về cải cách qua đoạn tuyệt. Ở Argentina, động lực thay đổi rõ ràng đã đến từ các nhóm xã hội chống sự cai trị quân sự. Bản thân chuyển đổi, tuy vậy, đã không bắt đầu cho đến khi các lãnh đạo quân sự đầu hàng các đòi hỏi thay đổi chế độ tiếp sau sự bại trận của họ trong chiến tranh Falklands/Malvinas với Anh tháng Sáu 1982. Thất bại quân sự cũng đã làm cho elite đương chức quá yếu để kiểm soát sự chuyển đổi, và chương trình nghị sự chuyển đổi đã do elite đối lập chi phối.

Như thế, chuyển đổi Argentina đặc biệt mở. Ngược với Chile, sự mặc nhận của elite đương chức đã làm giảm sự bất trắc của quá trình chuyển đổi. Hơn nữa, ngược với Brazil và Ba Lan, sự yếu của elite cũ đã đảm bảo sự tiến tới của đối lập không bị phức tạp hay bị làm chậm bởi các cơ chế ràng buộc. Cuối cùng, ngược với Hungary, tính dễ tổn thương chính trị của các nhà cai trị cũ và các đồng minh của họ đã cản họ khỏi việc định hình chế độ tương lai qua các cuộc đàm phán. Chuyển đổi Argentina đã đoạn tuyệt rõ ràng với quá khứ.

Cơ sở lập luận rằng chuyển đổi Argentina đã được giám sát bởi một chính phủ tạm quyền đương chức, một hình thức chính phủ lâm thời mà trong đó các nhà cai trị cũ thường định các điều kiện chuyển đổi và buộc các elite đối lập thích nghi, gây lầm lạc. Chương trình nghị sự chuyển đổi thực sự đã được các elite đối lập định ra và được các nhà cai trị quân sự sắp ra đi chấp nhận. Các nhà cai trị quân sự đã mau chóng nhường cho đòi hỏi của Multipartidaria, liên minh đa đảng đối lập, cho các cuộc bầu cử cạnh tranh, sự thu xếp thỏa hiệp của các đảng khác nhau mà đã thống nhất trong phe đối lập với sự cai trị quân sự. Các nhà cai trị quân sự phần lớn đã bất lực để soạn các quy tắc để bảo vệ các lợi ích của họ hay để cải thiện cơ hội của các đồng minh của họ. Sau khi đã không đưa ra được một hiến pháp mới tại đỉnh quyền lực của họ và bây giờ không có khả năng ngay cả sửa đổi hiến pháp hiện hành, quân đội đã thiết thực nhờ đến sự hồi sinh toàn bộ của hiến pháp 1853 theo thể chế tổng thống. Luật bầu cử mới đã không thiết lập một trình tự các cuộc bầu cử mà đơn giản đã đưa lại vào một hệ thống đại diện tỷ lệ mà đã không cản trở các đối thủ của quân đội cũng chẳng ưu ái các đồng minh yếu của nó. Như thế, chuyển đổi Argentina đã hoàn tất nhanh chóng. Không có sự cạnh tranh từ các nhà cai trị cũ, hai đảng chính của Multipartidaria đã đấu với nhau trong các cuộc bầu cử tháng Mười 1983, và tổng thống và quốc hội mới được bầu đã nắm quyền trong tháng Mười Hai 1983. Argentina đã chấp nhận một hệ thống dân chủ không bị ràng buộc.23

Các di sản của chuyển đổi Argentina thông qua đoạn tuyệt đã tích cực một phần. Không biện pháp phi dân chủ nào đã hạn chế và không diễn viên chính nào đã phản đối các quy tắc dân chủ của trò chơi. Nhưng chúng cũng đã đưa ra một vấn đề đặc biệt về cạnh tranh elite. Multipartidaria có vị thế chắc chắn, không cần thống nhất chống lại một đối thủ độc đoán hay để bảo vệ các cuộc bầu cử tự do, đã bắt đầu tan rã vào cuối năm 1982. Ngược với Brazil và Ba Lan, sự tan rã này đã không làm phức tạp hay kéo dài quá trình chuyển đổi. Quả thực, sự bất lực của các nhà cai trị cũ của Argentina đã cùng cực đến mức thậm chí đã là có thể và tiện lợi cho các elite đối lập để trì hoãn việc giải quyết các vấn đề hiến pháp then chốt. Tuy vậy, sự tan vỡ của một liên minh độc đoán đã nhanh chóng biến các đồng minh trước kia thành các đối thủ cạnh tranh mãnh liệt những người đã không có khả năng rèn sự đồng thuận về một hiến pháp mới. Các chính quyền của cả Alfonsin (1985–89) và Menem (1989 – 95) đã tìm cách để giới thiệu mình như sự hiện thân của dân tộc và sử dụng sự đa số tạm thời của họ để trở nên đảng bá quyền bằng đơn phương giải quyết các vấn đề hiến pháp. Do cải cách qua đoạn tuyệt của nó, Argentina đã phung phí cơ hội để xử trí các vấn đề như vậy trước khi sự đồng thuận được tạo ra trong cuộc đấu tranh chống độc tài bị tan biến mất trong cái nóng của sự cạnh tranh bầu cử. Nền dân chủ của nó như thế đã bị đe dọa bởi sự miễn cưỡng của các diễn viên chính trị chủ chốt để xem mình như phần của một hệ thống lớn hơn, một nét đặc trưng định rõ của dân chủ.

Cái gọi là cách mạng nhung của Tiệp Khắc đã cũng là một cải cách thông qua đoạn tuyệt. Sự chuyển đổi đã được kích bởi một đợt bột phát của sự huy động dân chúng đáp lại sự đàn áp một cuộc biểu tình sinh viên trong tháng Mười Một 1989. Sau đó các lãnh tụ bất đồng chính kiến bị cô lập trước đây đã nhận được sự phê chuẩn trong sự tán thành của các đám đông tại các cuộc meeting lớn gần như hàng ngày, và một cuộc tổng đình công ngắn tượng trưng (“cách mạng vào giờ ăn trưa”) đã ra hiệu sự đào ngũ của các công nhân khỏi ban lãnh đạo Cộng sản. Sự tiết lộ đầy kịch tính này về sự yếu của chế độ, được ghép với sự từ chối hiển nhiên rồi của Liên Xô để can thiệp cưỡng bức, đã khiến cho các nhà cai trị Cộng sản cứng nhắc trước kia từ bỏ sự phản kháng của họ đối với sự thay đổi.

Như ở Argentina, chuyển đổi đã gọn và khá không bị phức tạp hóa. Đối lập đã nắm thế chủ động và đã áp đặt chương trình ngẫu hứng của nó lên elite đương chức đang rút lui. Các cuộc đàm phán đã có dạng chủ yếu của các chu kỳ lặp của các đòi hỏi đối lập, hành động lẩn tránh của chính phủ, các đòi hỏi mở rộng của đối lập, và cuối cùng chính phủ miễn cưỡng chấp nhận, tất cả được nén bên trong một giai đoạn hai tuần lễ. Trong khi các elite đối lập đã chấp nhận các điều kiện được áp đặt bởi các nhà cai trị cũ ở Chile, Brazil, và Ba Lan, tại Tiệp Khắc họ đã buộc các elite đương chức đưa ra các nhượng bộ ồ ạt chẳng khác gì sự đầu hàng – đặc biệt, sự từ bỏ giáo điều về vai trò lãnh đạo của đảng và sự cam kết với các cuộc bầu cử cạnh tranh. Như ở Argentina, tính thiết thực trước cơ hội cho một sự chuyển đổi nhanh chóng đã bức chế việc tạm thời giữ lại hiến pháp Cộng sản mà, ngược với hiến pháp dân chủ năm 1920 của Tiệp Khắc, đã quy định một cấu trúc liên bang của chính phủ cho một nhà nước đa dân tộc. Chuyển đổi đã nhanh chóng hoàn tất trong tháng Sáu năm 1990 khi các cuộc bầu cử quốc hội đã mở đầu một hệ thống dân chủ cạnh tranh hoàn toàn.

Bất chấp sự dễ dàng và sự thu xếp định chế không bị ràng buộc nó đã tạo ra, sự chuyển đổi của Tiệp Khắc cũng đã để lại một di sản rắc rối cho hoạt động chính trị sau chuyển đổi. Như ở Argentina, phương thức chuyển đổi đầu tiên đã khuyến khích việc trì hoãn các vấn đề hiến pháp căn bản; logic sau chuyển đổi của sự cạnh tranh bầu cử khi đó đã làm cho hầu như không thể để giải quyết chúng theo một cách đồng thuận. Cho dù liên minh chống độc tài của Tiệp Khắc đã thống nhất suốt chuyển đổi hơn liên minh của Argentina, các bất đồng nghiêm trọng giữa các lực lượng chống cộng sản, đặc biệt về mối quan hệ Czech-Slovak trục trặc từ lâu, đã có thể thấy rồi trong cuộc đấu tranh tượng trưng về tên hậu cộng sản của nhà nước và trong sự phân chia theo các ranh giới dân tộc của cả mặt trận đối lập và hệ thống đảng mà đã nổi lên từ các cuộc bầu cử tháng Sáu 1990.

Những hậu quả tai hại của di sản này đã nổi bật vào lúc bắt đầu của pha sau chuyển đổi. Thứ nhất, hai phong trào hợp tác chống cộng, Diễn đàn Công dân Czech và Công chúng Slovak chống lại Bạo lực, đã giải tán một cách tương ứng trong năm 1990 và 1991. Đáng kể hơn, các đảng kế vị của chúng đã hòa vào các dòng rộng hơn của hai hệ thống con chính trị, bị phân đoạn về sắc tộc, ngày càng đông cứng. Khi vấn đề hiến pháp về các mối quan hệ Czech-Slovak đã nổi lên trên chương trình nghị sự chính trị, không lực lượng toàn quốc nào đã tạo ra sự đồng thuận về các quy tắc cơ bản của sự tương tác elite Czech và Slovak bên trong một nhà nước được phân quyền hơn. Quả thực, hoạt động chính trị elite Slovak phần lớn đã chống lại chủ nghĩa trung tâm Prague và ban lãnh đạo Czech. Xu hướng ly tâm này đã được tăng cường thêm bởi việc giữ lại hiến pháp Cộng sản “consociational” [với sự đại diện nhóm được đảm bảo], mà đã quy định cho cả hai nhóm dân tộc trong quốc hội liên bang, bất chấp độ lớn của nhóm, một quyền phủ quyết sửa đổi hiến pháp.24 Quy định này đã là một công thức cho sự bế tắc. Như ở Argentina, khi đó, cải cách qua đoạn tuyệt đã góp phần cho một động lực chính trị đặc biệt nguy hại. Cấu trúc chia tách đặc biệt của Tiệp Khắc đã khác với hình mẫu của Argentina về những ý muốn bá quyền elite. Chính trị của sự phân mảnh sắc tộc đã dẫn đến việc giải thể nhà nước Tiệp Khắc trong tháng Giêng 1993. Cho dù sự đổ vỡ đã là một “cuộc ly hôn nhung” hòa bình, nó vẫn được cho là sự thất bại cuối cùng của Tiệp Khắc để thể chế hóa các quy tắc về tranh luận elite và để củng cố nền dân chủ mới của nó.25

Cách mạng từ Trên: Bungari

Ở Bungari, elite cai trị đã thiếu áp lực từ một đối lập mạnh và đã không nhạy cảm với sự cởi mở chính trị cho đến sự sụp đổ khu vực của chính quyền Cộng sản. Những sự kiện bên ngoài này, với thông điệp của chúng về sự không can thiệp Soviet, đã làm thay đổi cân bằng quyền lực nội bộ và đã thúc đẩy một sự mở ngăn chặn trước từ trên xuống. Các lãnh tụ Cộng sản trẻ hơn, ít bị liên can trong trung tâm cai trị đã tham vấn Gorbachev trong tháng Mười Một 1989 trước khi khởi xướng một “ chính biến” mà đã làm mất tín nhiệm ban lãnh đạo chóp bu. Nước đi này, mà đã đánh dấu sự bắt đầu của chuyển đổi Bungari, có thể được hiểu như một sự phòng ngừa trước sự phản kháng đang tăng lên, tuy được tổ chức tồi, đối với sự cai trị Cộng sản được tập hợp dưới cái ô của Liên hiệp các Lực lượng Dân chủ (UDF). Quả thực, chiến lược Cộng sản đã là để mở ra sự cạnh tranh nhằm để chặn trước một sự huy động dân chúng đầy đủ hơn mà đã có thể làm suy yếu ưu thế của họ.

Tác động của cuộc cách mạng từ trên này lên kết cục của chuyển đổi đã là khá hiển nhiên. Đảng Cộng sản Bungari, được đổi tên thành Đảng Xã hội Bungari, đã dự định và đã thắng các cuộc bầu cử cho một quốc hội lập hiến trong tháng Sáu 1990 trên cơ sở một luật bầu cử đa số mà đã ưu ái những người đương chức được tổ chức và chuẩn bị tốt hơn. Từ thắng lợi này những người cựu Cộng sản đã có quyền để tạo hình các quy tắc của chế độ mới trong hiến pháp năm 1991, một tư liệu phần lớn dân chủ mà đã bãi bỏ tất cả những hạn chế chính lên cạnh tranh nhưng tuy thế đã có cách diễn đạt tiềm năng hạn chế tự do ngôn luận và tổ chức thiểu số. Khi chuyển đổi chấm dứt với việc tổ chức các cuộc bầu cử cạnh tranh trong tháng Mười 1991, Bungari đã nổi lên như một nền dân chủ, tuy là một nền dân chủ mang các dấu ấn của sự kiểm soát Cộng sản đối với sự chuyển đổi.

Không ngạc nhiên, tác động trực tiếp nhất của phương thức chuyển đổi lên các động lực chính trị sau chuyển đổi đã là lợi thế chiến lược nó đã tặng cho các nhà cai trị trước kia. Trên bề mặt, đã có vẻ rằng chiến lược của những người đương chức đã phản tác dụng khi đối lập đã đánh bại các cựu cộng sản trong các cuộc bầu cử 1991. Nhưng chính phủ mới, dựa trên một liên minh UDF với thiểu số những người Thổ Nhĩ Kỳ, đã không có khả năng cai trị và đã sụp đổ sau một năm, dọn đường cho các cựu Cộng sản cố kết hơn và được tổ chức tốt hơn quay lại chính phủ và tiện tay thắng cuộc bầu cử 1994 nữa. Như ở Chile nhưng không giống các trường hợp Đông Âu khác, UDF đã đoàn kết với nhau một cách hời hợt đối diện với quyền lực Cộng sản được tiếp tục; ngược với Chile, tuy vậy, “sự sinh non” của UDF trong sự chuyển đổi do Cộng sản khởi xướng đã làm suy yếu khả năng của nó để đối trọng một cách hữu hiệu với các cựu Cộng sản.26

Chính trị sau chuyển đổi của Bungari như thế đã được đặc trưng bởi một hình mẫu nghiêng hẳn về một bên của sự tranh cãi elite, mà đã làm tăng tiền cược của chính trị và đã cản trở sự bình thường hóa các mối quan hệ giữa các elite thông qua sự chấp nhận lẫn nhau về khái niệm đối lập trung thành. Tác động có hại của phương thức chuyển đổi lên quá trình củng cố dân chủ là rất rõ trong sự cam kết đáng ngờ đối với các quy tắc dân chủ bởi cả các cựu Cộng sản lẫn đối lập, mỗi bên biện minh cho sự đi lệch các chuẩn mực dân chủ bằng cách dẫn chiếu đến ứng xử chống hệ thống của bên kia. Chính trị sau chuyển đổi, quả thực, đã bị đánh dấu bởi những vi phạm lác đác các thủ tục dân chủ, kể cả các cuộc bầu cử địa phương bị hủy hay bị làm mất hiệu lực, những báo cáo thường xuyên về sự thao túng và gian lận bầu cử, và sự xung đột với media dòng chủ lưu, gây ra sự phê phán chính phủ và việc bỏ tù các nhà báo chủ chốt. Cách mạng từ dưới của Bungari đã sinh ra một hình mẫu tương tác elite mà ràng buộc nền dân chủ bằng việc làm yếu cam kết của các diễn viên chủ chốt đối với các quy tắc cơ bản của nó.

Kết luận

Phân tích của chúng ta gợi ý rằng trong các cải cách từ dưới, được lấy làm thí dụ bởi Chile, các phong trào đối lập rộng mở ra hệ thống chính trị bằng việc đòi kể cả họ vào đấu trường chính trị, nhưng đồng thời các elite đương chức mạnh có khả năng áp đặt những ràng buộc lên sự tranh cãi elite. Chế độ mà nổi lên từ phương thức chuyển đổi này là một nền dân chủ hạn chế. Thách thức của sự củng cố dân chủ là để cải cách các khía cạnh phi dân chủ, trong khi tránh một sự đụng độ từ các elite cũ, mà sự cam kết của họ cho dân chủ vẫn không chắc chắn và họ có vẻ không sẵn lòng đóng vai trò của đối lập trung thành.

Các cải cách thông qua giao dịch gắn với những chuyển đổi phức tạp hơn và bị kéo dài và là các phiên bản ít hạn chế hơn của dân chủ. Như Brazil và Ba Lan cho thấy, bởi vì các elite đương chức đồng ý với sự thay đổi chế độ, các cải cách thông qua giao dịch tạo ra sự mở cửa cho cạnh tranh elite và rồi sau đó tạo ra một nguyên tắc trong hệ thống mới cho cả elite cũ và mới. Vấn đề với các trường hợp như Brazil và Ba Lan không phải là bản chất phi dân chủ công khai của các di sản của chuyển đổi hay sự không trung thành của các elite cũ với chế độ mới. Đúng hơn, quyền lực còn rớt lại của các elite cũ và sự mất bản sắc của liên minh chống độc đoán, hai nhân tố mà đã tự biểu lộ trong quá trình chuyển đổi từng bước, dẫn đến việc chấp nhận các quy tắc thể chế không tối ưu cho dân chủ hóa. Cụ thể hơn, các quy tắc thể chế gây ra sự đụng độ lặp đi lặp lại giữa hành pháp và lập pháp và để lại một di sản mà cản trở tính có thể cai trị và sự củng cố dân chủ.

Những cải cách thông qua giải thoát, giống cải cách thông qua giao dịch, dẫn đến nền dân chủ không bị hạn chế. Cả elite đương chức lẫn elite đối lập chấp nhận sự cần thiết cho tranh cãi elite. Tuy vậy, như Hungary cho thấy, các nhà cai trị cũ không có khả năng nhào nặn sự chuyển đổi; chương trình nghị sự của chuyển đổi về cơ bản được giải quyết theo những điều kiện của các elite đối lập. Quá trình chuyển đổi như thế đánh dấu một sự tuyệt giao rõ ràng với quá khứ và tránh được những sự phức tạp tốn phí gắn với các cải cách thông qua giao dịch. Tuy nhiên, quyền lực còn rớt lại của các elite cũ đã có một tác động dịu đi và làm cho sự tuyệt giao êm hơn một chút so với trong các cải cách thông qua đoạn tuyệt. Trong khi các elite Cộng sản Hungary đã không có khả năng áp đặt các điều kiện của họ lên chuyển đổi, họ đã đấu tranh với đối lập trong sự mặc cả nghiêm túc, mà đã buộc các elite đối lập, ngược với Argentina và Tiệp Khắc, đối mặt với các vấn đề về thiết kế hiến pháp trước khi các cuộc bầu cử cạnh tranh được tiến hành và các cuộc đấu tranh gây chia rẽ của chính trị bình thường bắt đầu có hiệu lực đầy đủ. Sức mạnh cân bằng của các elite cũ và mới làm tăng khả năng rằng những người cai trị cũ sẽ thích nghi với các quy tắc dân chủ và không đe dọa hệ thống. Các cải cách thông qua giải thoát, nói tóm lại, làm cho cả quá trình chuyển đổi sang dân chủ lẫn sự tiến vững chắc đến sự củng cố dân chủ dễ hơn.*

Các cải cách thông qua đoạn tuyệt, như qua thí dụ của Argentina và Tiệp Khắc, có vẻ là kiểu chuyển đổi không rắc rối nhất. Chúng cắt đứt đột ngột với quá khứ và cho phép đối lập để áp đặt đòi hỏi của nó cho các cuộc bầu cử không bị hạn chế. Về phần tích cực, sự yếu của các elite cũ cho phép việc thiết lập một khung khổ thể chế mới mà không có những ràng buộc rắc rối gắn với các chuyển đổi được kiểm soát hơn. Nhưng các nhà cai trị cũ và bản thân sự dễ dàng của chuyển đổi tạo ra các di sản tiêu cực của chính chúng. Bởi vì các elite đối lập đạt được một sự đột phá mà không có các cuộc thương lượng nghiêm chỉnh và được duy trì với các nhà cai trị cũ, sự chuyển đổi nhanh có thể trì hoãn cuộc tranh luận về các vấn đề hiến pháp, và khung khổ thể chế tạm thời có thể được chấp nhận vì tính thiết thực. Rồi sau đó, logic của sự cạnh tranh bầu cử sau chuyển đổi đưa các đồng minh trước kia ra đấu với nhau và cản trở sự giải quyết đồng thuận các vấn đề hiến pháp. Các nhà cai trị cũ là quá yếu để đưa ra một sự đe dọa chung mà đã có thể thuyết phục các elite đối lập để thỏa hiệp. Sự cạnh tranh elite mãnh liệt bên trong một khung khổ thể chế mà không cải thiện sự không tin cậy hay tạo thuận tiện cho việc giải quyết xung đột làm cho ngày càng khó để kiềm chế cạnh tranh bên trong khung khổ dân chủ hiện tồn. Mỉa mai thay, các cải cách thông qua đoạn tuyệt làm cho chuyển đổi sang dân chủ tương đối dễ nhưng cũng cản trở sự củng cố dân chủ bằng việc làm giảm khuyến khích cho các elite đối lập để phát triển các mối quan hệ hợp tác và sự đồng thuận về các quy tắc thể chế chủ chốt trong gian đoạn cốt yếu của chuyển đổi.

Cuối cùng, các cuộc cách mạng từ trên giống các cải cách thông qua đoạn tuyệt trong sự thiếu tính phức tạp của chúng. Tuy vậy, như Bungari cho thấy, sự chuyển đổi ít phức tạp hơn là, không phải do sức mạnh của đối lập để định chương trình nghị sự, mà đúng hơn là do khả năng của một mảng của các elite đương quyền để tuyệt giao với trật tự cũ và đơn thương độc mã xác định chương trình nghị sự chuyển đổi từ trên. Bởi vì mục đích cơ bản của nó là để ngăn chặn trước hay để kiểm soát các thay đổi bao quát hơn, phương thức chuyển đổi này cũng tạo ra một sự mở cửa chính trị. Nhưng như trong những cải cách thông qua đoạn tuyệt, các điều kiện mà cho phép một sự chuyển đổi mau lẹ sang dân chủ có thể làm vướng víu sự củng cố dân chủ. Các nhà cai trị trước kia chắc giữ lại một ảnh hưởng không cân xứng bên trong hệ thống chính trị so với đối lập vẫn rời rạc. Một hình mẫu thiên hẳn về một bên của sự tranh cãi elite làm xói mòn sự tin cậy lẫn nhau giữa các elite cạnh tranh nhau và cám dỗ đảng cầm quyền để hạn chế một cách định kỳ các quy tắc dân chủ của trò chơi. Sự thiếu một đối trọng hiệu quả đối với elite trông nom sự chuyển đổi cản trở việc biến cạnh tranh thành thủ tục quen thuộc và sự chấp nhận khái niệm đối lập trung thành. Về mặt so sánh, cách mạng từ trên có lẽ là phương thức chuyển đổi ít có khả năng nhất để duy trì sự tiến triển vững vàng đến sự củng cố của nền dân chủ.

Tóm lại, một nhân tố chính trị về bản chất, bản thân quá trình chuyển đổi, là quan trọng trong việc xác định khả năng có thể xảy ra rằng kết cục của chuyển đổi sẽ là một hình thức chính quyền dân chủ, cũng như các thách thức khu biệt mà các nền dân chủ đối mặt khi chúng thử củng cố mình. Sự tập trung này vào quá trình chuyển đổi thúc đẩy sự tranh luận về các phương thức chuyển đổi theo hai cách cơ bản. Thứ nhất, nó khái niệm hóa các phương thức chuyển đổi như các kiểu khác nhau của chuyển đổi từ các chế độ đã được xác lập, hơn là việc đúc kết hai sự chuyển đổi, sự chuyển đổi từ một chế độ đã được xác lập và sự chuyển đổi sang một chế độ mới, thành một. Như thế chúng ta có khả năng chứng minh phương thức chuyển đổi giúp thế nào để giải thích, không chỉ các động lực chính trị sau chuyển đổi, mà cả chế độ nảy sinh, một thách thức giải thích mấu chốt. Thứ hai, nhiều sự lẫn lộn trong tranh luận về các phương thức chuyển đổi có thể được xua tan bằng việc khái niệm hóa các phương thức chuyển đổi dưới dạng hai chiều mà thâu tóm bản chất lỏng (dễ thay đổi) vô song của quá trình chuyển đổi và bằng việc định rõ các cơ chế nhân quả mà theo đó các di sản của các phương thức chuyển đổi được tạo ra.

Chắc chắn, các cơ chế chính xác mà nhờ đó các di sản của chuyển đổi được tạo ra và tái tạo ra cần được làm rõ, và các phương thức chuyển đổi khác nhau cần được liên kết với các kiểu phụ khác nhau của nền dân chủ và các động lực khu biệt của chúng. Cuộc tranh luận về các phương thức chuyển đổi cần được kết nối với một số cố gắng có tính hệ thống nhất để khái niệm hóa các biển thể định chế của nền dân chủ. Cũng cần nghiên cứu thêm về những sự kết nối khả dĩ giữa phương thức chuyển đổi, mà chúng ta đã coi như một biến số độc lập, và đặc tính của chế độ trước. Cuối cùng, một nhiệm vụ cốt yếu, tuy làm nản chí, vẫn phải đối mặt là để tích hợp các yếu tố quyết định chính trị của dân chủ hóa được nhấn mạnh ở đây với những cách tiếp cận tập trung vào các nhân tố xã hội học và kinh tế. Bài báo này không thể thảo chi tiết một chương trình nghiên cứu như vậy. Nó đã hoàn thành mục tiêu của nó nếu nó đã đưa ra gợi ý khiêm tốn hơn rằng một chương trình như vậy là đáng triển khai.

Gerardo L. Munck và Carol Skalnik Leff

——–
CHÚ THÍCH

1. Juan 1. Linz, ‘‘Some Comparative Thoughts on the Transition to Democracy in Portugal and Spain,’’ trong Jorge Braga de Macedo and Simon Serfaty, eds., Portugal since the Revolution: Economic and Political Perspectives (Boulder: Westview Press, 1981); Guillermo O’Donnell and Philippe Schmitter, Transitions from Authoritarian Rule: Tentative Conclusions about Uncertain Democracies (Baltimore: The Johns Hopkins University Press, 1986), pp. 11, 37 –39; Terry Lynn Karl, ‘‘Dilemmas of Democratization in Latin America,’’ Comparative Politics 23 (October 1990), pp. 1 – 21; Terry Lynn Karl and Philippe Schmitter, ‘‘Modes of Transition in Latin America, Southern and Eastern Europe,’’ International Social Science Journal 128 (May 1991), pp. 269 – 84; Giuseppe Di Palma, To Craft Democracies: An Essay on Democratic Transitions (Berkeley: University of California Press, 1990), chs. 4, 6; Samuel Huntington, The Third Wave: Democratization in the Late Twentieth Century (Norman: University of Oklahoma Press, 1991), ch. 3; Guillermo O’Donnell, ‘‘Transitions, Continuities, and Paradoxes,’’ trong Scott Mainwaring, Guillermo O’Donnell, and J. Samuel Valenzuela, eds., Issues in Democratic Consolidation: The New South American Democracies in Comparative Perspective (South Bend: University of Notre Dame Press, 1992); J. Samuel Valenzuela, ‘‘Democratic Consolidation in Post-Transitional Settings: Notion, Process, and Facilitating Conditions,’’ trong Mainwaring, O’Donnell, and Valenzuela, eds.; Yossi Shain and Juan J. Linz et al., Between States: Interim Governments and Democratic Transitions (Cambridge: Cambridge University Press, 1995); Stephan Haggard and Robert Kaufman, The Political Economy of Democratic Transitions (Princeton: Princeton University Press, 1995), pp. 14 – 15, 163 – 74, 368 –71, ch. 4; P. Nikiforos Diamandouros and Richard Gunther, ‘‘Preface,’’ trong Richard Gunther, P. Nikiforos Diamandouros, and Hans-Ju¨rgen Puhle, eds., The Politics of Democratic Consolidation: Southern Europe in Comparative Perspective (Baltimore: The Johns Hopkins University Press, 1995), pp. xii-xxvii; P. Nikiforos Diamandouros, Hans-Ju¨rgen Puhle, and Richard Gunther, ‘‘Con- clusion,’’ trong Gunther, Diamandouros, and Puhle, eds.. pp. 397 – 98, 402 – 7; Juan J. Linz and Alfred Stepan, Problems of Democratic Transition and Con- solidation: Southern Europe, South America and Post-Communist Europe (Bal- timore: The Johns Hopkins University Press, 1996), pp. 71 – 72.
2. Cuộc tranh luận liệu những hiệp ước là có ích không hay là gây loạn chức năng cho dân chủ hóa là một trường hợp đang được bàn đến. Sau một sự đồng thuận ban đầu rằng những chuyển đổi được ký kết hiệp ước đã là có lợi hơn cho sự củng cố của nền dân chủ, một lập trường được đưa ra bởi O’Donnell và Valenzuela. Tuy vậy, lý lẽ của Karl, đối với tác động mà các hiệp ước thường đưa đến các yếu tố loại trừ cản trở sự củng cố dân chủ, đến lượt đã bị phê phán bởi Di Palma và Diamandouros, Puhle, và Gunther. O’Donnell gần đây, trong một vòng xoắn thêm, đã lập luận ủng hộ một lập trường thứ ba, nhấn mạnh đến các khía cạnh tiêu cực hay các sự đánh đổi gắn với cả các chuyển đổi có hiệp ước và không có hiệp ước, một lập trường được chia sẻ bởi Huntington, O’Donnell, và Schmitter, p. 39; Karl, pp. 9 –12, 14; Valenzuela, pp. 76 – 78; Di Palma, pp. 122 – 25; Diamandouros, Puhle, và Gunther, pp. 406 – 7: O’Donnell, pp. 24 – 37; Huntington, p. 276.
3. Xem, sinh động nhất, Adam Przeworski, Democracy and the Market: Political and Economic Reforms in Eastern Europe and Latin America (Cambridge: Cambridge University Press. 1991), pp. 94 – 99.
4. Dankwart A. Rustow, ‘‘Transitions to Democracy: Toward a Dynamic Model,’’
Comparative Politics, 2 (April 1970), 337 – 63.
5. Ibid., p. 346.
6. Bởi vì các chiến lược thay đổi của các diễn viên bị điều kiện hóa bởi sức mạnh tương đối của các nhà cai trị sắp ra đi, đấy thực sự là hai sự mô tả đặc trưng tương tự. Chúng tôi theo Karl, ‘‘Dilemmas of Democratization in Latin America,’’ pp. 8 – 9, trong việc phân biệt các chuyển đổi về mặt chiến lược của các diễn viên thay cho lựa chọn thay thế khả dĩ thông thường hơn về nêu bật mức kiểm soát được thực hiện bởi các nhà cai trị sắp ra đi. Về những sự khái niệm hóa mà nhấn mạnh sức mạnh tương đối của các nhà cai trị sắp ra đi, xem Linz, ‘‘Some Comparative Thoughts’’; và Scott Mainwaring, ‘‘Transitions to Democracy and Democratic Consolidation: Theoretical and Comparative Issues,’’ trong Mainwaring, O’Donnell, and Valenzuela, eds., pp. 317 – 26.
7. Mặc dù Karl phân biệt giữa các diễn viên chi phối quá trình chuyển đổi, sự khái niệm hóa của bà nhấn mạnh sự phổ biến tương đối của elite đối lại các diễn viên đại chúng và không nhắm trực tiếp một vấn đề cốt yếu trong các chuyển đổi: cuộc tranh cãi giữa các elite đương chức và các elite đối lập. Quả thực, sự khái niệm hóa của bà sẽ đúc kết thành một các chuyển đổi mà được khởi xướng bởi các elite đương chức với các chuyển đổi mà là kết quả từ các hoạt động của các elite đối lập. Sự khái niệm hóa của chúng tôi gần hơn với sự nhấn mạnh của Valenzuela đến “thái độ của các elite cai trị sau cùng của chế độ độc đoán đối với dân chủ hóa,” bằng việc nhấn mạnh liệu sự thay đổi đến từ bên trong hay bên ngoài elite đương chức. Karl, ‘‘Dilemmas of Democratization in Latin America,’’ pp. 8 – 9; Valenzuela, ‘‘Democratic Consolidation in Post-Transitional Settings,’’ pp. 73 – 78.
8. Về các lựa chọn định chế, xem Arend Lijphart, ‘‘Democratization and Consti- tutional Choices in Czechoslovakia, Hungary and Poland, 1989 – 91,’’ Journal of Theoretical Politics 4 (1992), pp. 207 – 23. Trong sự củng cố của những dàn xếp định chế cụ thể, xem Juan J. Linz and Arturo Valenzuela, eds., The Failure of Presidential Democracy, Volume 1: Comparative Perspectives (Baltimore: The Johns Hopkins University Press, 1994).

9. Ở đây chúng tôi theo Przeworski, Democracy and the Market: Political and Economic Reforms in Eastern Europe and Latin America, p. 10, người cho rằng trong thời đại hiện hành, mà trong đó những hạn chế về sự tham gia quần chúng là hiếm, “khả năng về tranh cãi bởi các lợi ích xung đột nhau là đủ để giải thích động lực học của dân chủ. Một khi các quyền chính trị là đủ rộng để thừa nhận các lợi ích xung đột nhau, thì mọi thứ khác kế theo.”
10. Giá trị của những so sánh ngang khu vực đã được tranh luận sôi nổi. Test cuối cùng về độ hữu dụng của những so sánh như vậy là liệu chúng có tạo ra những diễn giải thuyết phục về mặt lý thuyết hay không. Xem trao đổi giữa Philippe Schmitter và Terry Karl và Valerie Bunce trong Slavic Review (Spring 1994, Spring 1995, and Winter 1995).
11. Việc sắp đặt tất cả các trường hợp không trùng trong những cố gắng mã hóa tương tự. Sự khác nhau này là do các tiêu chuẩn khác nhau được dùng để định nghĩa phương thức chuyển đổi, sự mã hóa các trường hợp theo các nguyên nhân hơn là các đặc trưng của quá trình chuyển đổi, và thông tin mới về các trường hợp. Về những cố gắng khác để mã hóa các chuyển đổi, xem Karl and Schmitter, p. 276; Huntington, p. 113; Valenzuela, p. 77; James W. McGuire, ‘‘Interim Government and Democratic Consolidation: Argentina in Comparative Perspective,’’ trong Shain and Linz et al., pp. 194 – 95; và Felipe Agu¨ero, Soldiers, Civilians, and Democracy: Post-Franco Spain in Comparative Perspective (Baltimore: The Johns Hopkins University Press, 1995), p. 65.
12. Valenzuela,‘‘Democratic Consolidation in Post-Transitional Settings:..”, pp. 62 –
67.
13. Trong khi một số tác giả đã nhấn mạnh một cách đúng rằng Chile đã có một “chuyển đổi chưa đầy đủ” bởi vì các vấn đề hiến pháp quan trọng đã vẫn còn trên chương trình nghị sự chính trị, vẫn chính xác để tuyên bố rằng chuyển đổi đã chấm dứt trong năm 1990, khi các đặc tính cơ bản của chế độ mới đã được xác định.
14. Gerardo L. Munck, ‘‘Democratic Stability and Its Limits: An Analysis of Chile’s
1993 Elections,’’ Journal of Interamerican Studies and World Affairs, 36 (1994),
1 – 38; Manuel Antonio Garreto´ n, Hacia una nueva era polı´tica: Estudio sobre democratizaciones (Mexico: Fondo de Culture Eco´ nomica, 1995), pp. 34 – 42,
111 – 29, 216 – 17.
15. Hầu hết nhà phân tích về Brazil ngầm định coi sự tự do hóa như sự bắt đầu của một sự chuyển đổi. Nhưng, như Przeworski, Democracy and the Market: Political and Economic Reforms in Eastern Europe and Latin America, pp. 54 – 66, lập luận, “tự do hóa không luôn luôn dẫn đến sự chuyển đổi.” Là cốt yếu để phân biệt rõ ràng giữa sự tự do hóa và sự dân chủ hóa.
16. Frances Hagopian, ‘‘The Compromised Consolidation: The Political Class in the Brazilian Transition,’’ trong Mainwaring, O’Donnell, and Valenzuela, eds., Issues in Democratic Consolidation, pp. 266, 247 – 48.
17. Thomas Bruneau, ‘‘Constitutions and Democratic Consolidation: Brazil in

Comparative Perspective,’’ trong Diane Ethier, ed., Democratic Transition and Consolidation in Southern Europe, Latin America and Southeast Asia (Basingstoke: Macmillan, 1990), pp. 178 – 84.
18. Ibid., p. 184 – 90; Hagopian, ‘‘The Compromised Consolidation,’’ pp. 272 – 77.
19. Scott Mainwaring, ‘‘Presidentialism, Multipartism, and Democracy: The Difficult Combination’’ Comparative Political Studies 26 (July 1993), pp. 198 –228.
20. Lijphart, ‘‘Democratization and Constitutional Choices,’’ pp. 211, 213; Krzysztof Jasiewicz. ‘‘From Solidarity to Fragmentation,’’ Journal of Democracy 3 (April 1992), pp. 55 – 69.
21. La´ szlo´ Bruszt and David Stark, ‘‘Remaking the Political Field in Hungary: From the Politics of Confrontation to the Politics of Competition,’’ Journal of International Affairs 45 (1991), pp. 201 – 45.
22. Adras Bozoki, ‘‘Party Formation and Constitutional Change in Hungary,’’ trong Terry Cox and Andy Furlong, eds., Hungary: The Politics of Transition (London: Frank Cass, 1995).
23. Gerardo L. Munck, Authoritarianism and Democratization: Soldiers and Workers in Argentina, 1978, in Comparative Perspective (University Park: Pennsylvania State University Press, forthcoming), ch. 6.
24. Lijphart, ‘‘Democratization and Constitutional Choices,’’ pp. 216 – 17.
25. Carol Skalnik Leff, The Czech and Slovak Republics: Nation versus State (Boulder: Westview Press, 1996).
26. Georgi Karasimeonov, ‘‘Parliamentary Elections of 1994 and the Development of the Bulgarian Party System,’’ Party Politics, 1 (October 1995), pp. 579 – 88.

Biên tập: Lisa Anderson

Dịch: Nguyễn Quang A

Thuộc tủ sách SOS2)

VRNs đăng với phép của dịch giả

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s