Chuyển đổi sang dân chủ (8):Những nghịch lý của dân chủ đương thời – các chiều hình thức, tham gia, và xã hội

VRNs (03.03.2015) – Hà Nội – Chúng tôi đã đưa ra khẳng định này khi chúng tôi giới thiệu kết quả của một khảo sát lịch sử so sánh có cơ sở rộng về gốc rễ của dân chủ trong sự phát triển tư bản chủ nghĩa: “Chúng ta quan tâm đến dân chủ hình thức bởi vì nó có khuynh hướng là nhiều hơn hình thức đơn thuần. Nó có khuynh hướng là thực ở một mức độ nào đó. Trao cho nhiều người một tiếng nói trong việc ra quyết định tập thể hình thức của một nước là cơ sở hứa hẹn nhất cho tiến bộ thêm nữa trong phân bổ quyền lực và các dạng khác của sự bình đẳng thật.”1

Chúng tôi đã cho rằng dân chủ hình thức có giá trị riêng của nó, nhưng chúng tôi đã nhấn mạnh rằng nó làm sâu sắc thêm cho dân chủ tham gia đầy đủ hơn và làm cho sự tiến bộ vì sự bình đẳng tăng lên là có thể. Và, thêm nữa, chúng tôi đã cho rằng cùng các điều kiện xã hội và lịch sử mà đã thúc đẩy dân chủ hình thức – đặc biệt, một sự thay đổi cán cân sức mạnh giai cấp trong xã hội dân sự bênh vực các giai cấp dưới – sẽ cũng thúc đẩy mục tiêu của sự bình đẳng xã hội và kinh tế lớn hơn. Thế mà trong tình thế lịch sử hiện thời sự tiến bộ theo hướng đưa ra và củng cố dân chủ hình thức ở Mỹ Latin và đông Âu có vẻ đã kết hợp với những chuyển động rời xa dân chủ tham gia đầy đủ hơn và sự bình đẳng. Chúng tôi muốn phân tích sự bất thường rõ ràng này trong tiểu luận này.

Chúng tôi bắt đầu bằng việc định nghĩa dân chủ hình thức, dân chủ tham gia, và dân chủ xã hội. Chúng tôi hiểu dân chủ hình thức là một hệ thống chính trị mà kết hợp bốn đặc tính: các cuộc bầu cử tự do và công bằng đều đặn, quyền bầu cử phổ quát, trách nhiệm giải trình của các cơ quan hành chính nhà nước đối với các đại diện được bầu, và các đảm bảo hữu hiệu cho quyền tự do ngôn luận và lập hội cũng như sự bảo vệ chống lại hành động tùy tiện của nhà nước. Quả thực, từ dân chủ thường được hiểu theo cách này khi nó được dùng với sự thận trọng khái niệm nào đó. Tuy vậy, nó thường được dùng một cách lỏng lẻo hơn. Đàm luận chính trị hiện thời ban nhãn này thường xuyên cho bất cứ nước nào mà đã tổ chức một cuộc bầu cử đại thể không bị gian lận. Cho dù các cuộc bầu cử được tổ chức với sự đều đặn nào đó, đáng hỏi liệu đối lập đã có thể được phát biểu và tổ chức mà không có sự sợ hãi không và bộ máy nhà nước thực sự có trách nhiệm giải trình đến mức độ nào với các quan chức được bầu. Nếu trong quá khứ những hạn chế về quyền đi bầu đã là các công cụ thông dụng nhất để hạn chế dân chủ, ngày nay việc hạn chế trách nhiệm giải trình của nhà nước và sự cắt xén các quyền dân sự là các công cụ ít dễ thấy hơn của sự lựa chọn.2

Cho dù toàn bộ bốn đòi hỏi được thỏa mãn, một nước vẫn còn xa mới bình đẳng trong quá trình ra các quyết định tập thể. Dân chủ hình thức không đòi hỏi một sự phân bố ngang nhau về quyền lực chính trị. Và – có lẽ có quan hệ mật thiết với những sự chênh lệch trong phân bố quyền lực chính trị thực tế – các nước dân chủ hình thức sẽ khác nhau đáng kể về các chính sách xã hội mà làm giảm sự bất bình đẳng xã hội và kinh tế. Vì thế chúng tôi đưa vào thêm hai chiều nữa: mức độ tham gia cao mà không có những sự khác biệt có tính hệ thống ngang các phạm trù xã hội (chẳng hạn, giai cấp, sắc tộc, giới) và sự bình đẳng tăng lên trong các kết cục xã hội và kinh tế. Chúng tôi gọi một hệ thống chính trị mà thỏa mãn bốn đòi hỏi đầu tiên cộng thêm chiều thứ năm là nền dân chủ tham gia.3 Dân chủ xã hội biểu thị một hệ thống chính trị mà thỏa mãn các đòi hỏi trong cả sáu chiều.4 Như thế dân chủ xã hội là giống với khái niệm của T. H. Marshall về “tư cách công dân xã hội.” Các chính sách mà thúc đẩy nó một cách hiệu quả sẽ được gọi là các chính sách “dân chủ xã hội.”5

150303001

Các nền dân chủ hình thức còn xa mới đạt các lý tưởng gắn với quan niệm này về dân chủ xã hội. Nhưng gạt bỏ chúng vì chỉ là hình thức sẽ là có vấn đề và thậm chí vô trách nhiệm về mặt chính trị và trí tuệ. Chắc chắn, sự bảo vệ các quyền con người và như thế sự loại trừ sự sợ hãi quân đội và sự tàn bạo cảnh sát là vô cùng quan trọng cho tất cả các công dân trong cuộc sống hàng ngày của họ. Ngay cả sự tham gia hình thức vào việc lấy quyết định chính trị được đại diện bởi việc bỏ phiếu trong các khoảng thời gian đều đặn thường đã mang lại lợi thế cho nhiều người. Và trách nhiệm giải trình của chính phủ đối với các đại diện được bầu hạn chế sự lạm dụng quyền lực mà rõ ràng có cho lợi ích của công dân nói chung. Tuy vậy, trên hết dân chủ hình thức mở ra khả năng về, và là một điều kiện cần thiết cho, những sự tiến bộ hướng tới dân chủ tham gia và dân chủ xã hội.

Dân chủ hình thức có thể ủng hộ những tiến bộ đến dân chủ xã hội nơi các mức cao hơn của sự huy động chính trị ủng hộ các phân tích chính trị cải cách và các chính sách dân chủ xã hội. Các chính sách xã hội bình quân đến lượt lại cho phép nhiều công dân hơn tham gia vào quá trình chính trị và như thế đóng góp cho sự củng cố và làm sâu sắc thêm nền dân chủ. Những diễn tiến lịch sử có thể chứng tỏ một vòng thiện (virtuous cycle) như vậy.

Thế nhưng vòng thiện này không phải là khả năng duy nhất. Dân chủ hình thức có thể vẫn là hình thức. Một sự tách rời giữa dân chủ hình thức và dân chủ xã hội đã không là một vấn đề đối với các nhà khai phóng (liberal) thế kỷ thứ mười chín. Quả thực, họ đã tiên đoán và mong muốn nó, và nhiều người tân-liberal ngày nay có cùng lập trường.

Cuối cùng, một khả năng tai hại hơn nhưng thực tế ngang vậy là một vòng luẩn quẩn (vicious cycle). Các chính sách không quân bình và sự nghèo do chúng tạo ra dẫn đến những vấn đề như sự bị gạt sang bên lề xã hội và tội phạm. Về chính trị, chúng có thể dẫn đến sự giải ngũ, sự xói mòn các quyền tư pháp và dân sự, và một “nền dân chủ ủy thác-delegative” mà làm giảm đột ngột trách nhiệm giải trình của chính phủ.6 Khả năng của một vòng luẩn quẩn là đặc biệt thích hợp với các nền dân chủ mới và quá độ, nơi chúng ta thường thấy sự biến động đáng kể về mức độ mà theo đó các tiêu chuẩn cho nền dân chủ hình thức được thỏa mãn và nơi các nền móng của dân chủ là đặc biệt dễ tổn thương.

Trong phần tiếp theo chúng tôi sẽ thảo luận các yếu tố quyết định của dân chủ hình thức, tham gia, và xã hội trong tình thế lịch sử hiện thời, dựa chủ yếu vào những diễn tiến ở các nước Mỹ Latin mà đã tiến hành chuyển đổi dân chủ từ cuối các năm 1970. Tuy vậy, trước khi quay sang diễn biến Mỹ Latin hiện thời đầu tiên chúng tôi sẽ nhắc lại ngắn gọn khung khổ lý thuyết chúng tôi đã phát triển và đưa ra kiểm thử trong sự phân tích lịch sử so sánh trước kia của chúng tôi về các điều kiện của dân chủ hình thức, sau đó trình bày những kỳ vọng lý thuyết về các điều kiện của dân chủ tham gia và xã hội dựa trên văn liệu xử lý các nền dân chủ công nghiệp chín muồi.7

Về các Điều kiện của Dân chủ Hình thức

Dân chủ, ngay cả dân chủ hình thức, là vấn đề của quyền lực và chia sẻ quyền lực. Tiền đề này đã dẫn chúng tôi để tập trung vào ba cụm quyền lực khi định hình các điều kiện cho dân chủ hóa cũng như cho việc duy trì dân chủ hình thức. Thứ nhất, cân bằng sức mạnh giai cấp là khía cạnh quan trọng nhất của cân bằng quyền lực trong xã hội dân sự. Thứ hai, cấu trúc của nhà nước và các mối quan hệ nhà nước-xã hội định hình sự cân bằng quyền lực giữa nhà nước và xã hội dân sự và cũng ảnh hưởng đến cân bằng quyền lực bên trong xã hội. Thứ ba, các cấu trúc quyền lực xuyên quốc gia dựa vào nền kinh tế quốc tế và hệ thống các quốc gia; chúng làm thay đổi cân bằng quyền lực bên trong xã hội, tác động đến các mối quan hệ nhà nước-xã hội, và kiềm chế việc ra quyết định chính trị.

Những sự thay đổi về cân bằng quyền lực trong xã hội và đặc biệt về cân bằng quyền lực giữa các giai cấp xã hội là sự giải thích chính cho mối quan hệ tổng thể giữa sự phát triển tư bản chủ nghĩa và dân chủ. Sự phát triển tư bản chủ nghĩa, chúng ta đã thấy, làm giảm quyền lực của các địa chủ và làm các giai cấp dưới mạnh lên. Giai cấp lao động và giai cấp trung lưu, không giống các giai cấp dưới khác trong lịch sử, có được một năng lực chưa từng thấy cho sự tự tổ chức nhờ những sự phát triển như đô thị hóa, sản xuất nhà máy và các hình thức mới về truyền thông và giao thông. Và việc tổ chức tập thể trong các hiệp hội, nghiệp đoàn, và đảng tạo thành nguồn sức mạnh chính của nhiều người, mà thiếu sức mạnh dựa trên tài sản, sự cưỡng bức, địa vị xã hội, hay sự bá quyền văn hóa. Những thay đổi này về cán cân quyền lực giai cấp kết nối dân chủ với phát triển, cho dù các kết cục cá biệt thay đổi ngang các nước do những sự khác biệt về hoạt động chính trị huy động và các liên minh giai cấp.

Sự khám phá này phủ nhận những giải thích khác về mối liên kết giữa sự phát triển tư bản chủ nghĩa và dân chủ. Mối liên kết này trước hết không do một sự mở rộng của giai cấp trung lưu. Nó cũng chẳng thể được giải thích bằng một sự tương ứng cấu trúc giữa chủ nghĩa tư bản và dân chủ, bởi luận đề rằng các xã hội phức tạp hơn đòi hỏi một hình thức khác biệt và linh hoạt của chính phủ. Cuối cùng, những khám phá của chúng tôi là bất hòa với yêu sách cổ điển của cả lý thuyết khai phóng lẫn Marxist rằng dân chủ là một sự tạo tác của giai cấp tư sản, giai cấp chi phối của các chủ tư bản.

Tuy vậy, cân bằng quyền lực không phải là nhân tố duy nhất hình thành các điều kiện cho dân chủ hình thức. Sự tương quan giữa sự phát triển tư bản chủ nghĩa và dân chủ là không hoàn hảo, và sự bất hoàn hảo này phần lớn là do tác động của hai cụm quyền lực khác, cấu trúc của nhà nước và các mối quan hệ nhà nước-xã hội và các cấu trúc quốc tế.

Cấu trúc nhà nước và các mối quan hệ nhà nước-xã hội là quan trọng cốt yếu đối với các cơ hội cho dân chủ. Nhà nước cần đủ mạnh và tự trị để đảm bảo pháp trị và để tránh bị các lợi ích của các nhóm chi phối giam cầm. Tuy vậy, sức mạnh của nhà nước cần được làm ngang bằng bởi sức mạnh tổ chức của xã hội dân sự để làm cho dân chủ có thể đứng vững được. Nhà nước phải không được mạnh và tự trị khỏi tất cả các lực lượng xã hội đến mức chế ngự xã hội dân sự và cai trị mà không có trách nhiệm giải trình. Các phần khác nhau của nhà nước, đặc biệt các lực lượng an ninh, phải nằm dưới sự kiểm soát tổng thống và/hoặc quốc hội đủ để đảm bảo trách nhiệm giải trình de facto (trên thực tế).

Các mối quan hệ quyền lực quốc tế là quan trọng ngang thế đối với các cơ hội cho dân chủ. Ngoài tác động của chiến tranh (một cách điển hình tạo ra một sự cần thiết cho sự ủng hộ quần chúng và làm mất tín nhiệm nhóm cai trị trong trường hợp thua trận) ra, các mối quan hệ quyền lực dựa vào những hình trạng thay đổi của chính trị thế giới và nền kinh tế thế giới có thể tác động rất mạnh đến cấu trúc và năng lực của nhà nước, các ràng buộc đối mặt với các nhà hoạch định chính sách nhà nước, các mối quan hệ nhà nước-xã hội, và thậm chí đến sự cân bằng của quyền lực giai cấp bên trong xã hội.

Giả thuyết của chúng tôi đã, và vẫn là, ba cụm quyền lực là không chỉ quan trọng trong việc thiết lập và duy trì nền dân chủ hình thức mà cũng là cốt yếu trong việc làm sâu sắc dân chủ hình thức theo hướng nền dân chủ tham gia đầy đủ và sự thúc đẩy sự bình đẳng xã hội và kinh tế.

Về các Điều kiện của Dân chủ Tham gia và Xã hội: Nghiên cứu vừa qua và những kỳ vọng lý thuyết

Nhiều khối văn liệu là xác đáng cho việc phát triển các giả thuyết của chúng tôi về các yếu tố quyết định của dân chủ tham gia và dân chủ xã hội. Khối thứ nhất quan tâm đến các yếu tố quyết định của sự tham gia chính trị ngang qua các nước. Chúng tôi không hạn chế sự tham gia chính trị ở việc bỏ phiếu mà bao gồm tất cả các hình thức của sự huy động chính trị liên quan cũng như việc truyền đạt hữu hiệu các đòi hỏi của công dân vào quá trình chính trị qua các kênh định chế như các đảng chính trị. Văn liệu về chính sách xã hội so sánh và văn liệu có quan hệ qua lại mật thiết về dân chủ xã hội, kể cả mặc cả lương, tổ chức nghiệp đoàn, sự tham gia và cùng quyết định của các công nhân, là cũng xác đáng đối với lý lẽ của chúng tôi. Chúng tôi có thể dựa chỉ một cách chọn lọc vào các khối to lớn này của văn liệu ở đây, nhưng tổng quan của chúng tôi phản ánh trung thành điểm chính của nghiên cứu vừa qua.

Cân bằng  Quyền lực  Giai cấp và các Liên minh Giai cấp

Sự cài vào nhau giữa lý thuyết của chúng tôi về các nguồn gốc xã hội của dân chủ hình thức và những khám phá kinh nghiệm của các khối văn liệu liên quan đến các yếu tố quyết định của dân chủ tham gia và xã hội là rất chặt trong trường hợp của các mối quan hệ quyền lực giai cấp. Quả thực, những lý lẽ của chúng tôi về những tác động của quyền lực giai cấp và các liên minh giai cấp về dân chủ hình thức có thể xem như bản đối chính xác của cách tiếp cận “các nguồn lực quyền lực giai cấp” để giải thích những sự khác biệt ngang quốc gia trong sự phát triển nhà nước phúc lợi và những biến thể rộng hơn trong chương trình nghị sự chính sách dân chủ xã hội như đã được mô tả đặc trưng ở trên.8 Các giáo lý trung tâm của cách tiếp cận này đã nhận được sự ủng hộ đáng kể trong cả nghiên cứu lịch sử so sánh lẫn nghiên cứu định lượng ngang quốc gia. Về tác động tái phân phối của các khoản dự phòng phúc lợi, về tác động “phi hàng hóa hóa” của chúng, về dự phòng của các dịch vụ xã hội công, và về tác động của chúng lên bình đẳng giới, sự cai trị bởi các đảng dân chủ xã hội hay sức mạnh nghiệp đoàn có vẻ là biến số giải thích quan trọng nhất duy nhất.9

Hình mẫu chính sách dân chủ xã hội không hạn chế ở chính sách xã hội. Quả thực, nó không hạn chế ở chính sách chính phủ mà bao gồm cả, quan trọng nhất, các kết cục của sự mặc cả giữa các nhà sử dụng lao động và các nghiệp đoàn. Những nghiên cứu khác nhau đã cho thấy một mối quan hệ mật thiết giữa sự cai quản dân chủ xã hội và/hoặc sức mạnh nghiệp đoàn và các quyền của công nhân, sự cùng quyết định, chính sách lương bình quân chủ nghĩa, và thất nghiệp.10 Những nghiên cứu khác đã cho thấy rằng hình mẫu chính sách bình quân chủ nghĩa được thúc đẩy bởi dân chủ xã hội đã không đến với cái giá của sự tăng trưởng kinh tế.11 Căn cứ vào các chi phí lương cao và các khoản dự phòng xã hội hào phóng, mô hình tăng trưởng dân chủ xã hội (và, tình cờ, mô hình Dân chủ Thiên chúa giáo Đức) của thành công kinh tế đã đi “con đường cái” đến cạnh tranh quốc tế, dựa trên nền sản xuất xuất khẩu thâm dụng vốn, chất lượng lao động cao.

Mặc dù dựa vào một cách tiếp cận lý thuyết rất khác, một số khám phá chính của văn liệu về những sự khác biệt ngang quốc gia về sự tham gia khớp nhau khéo với cách nhìn huy động giai cấp này về nhà nước phúc lợi.12 Nghiên cứu này cho thấy rằng những sự khác biệt ngang quốc gia về tham gia là kết quả chủ yếu từ những sự khác biệt về tham gia của các nhóm địa vị xã hội kinh tế. Những khác biệt này, đến lượt, là sản phẩm của môi trường định chế: các nước với các nghiệp đoàn mạnh và các đảng mạnh, đặc biệt các đảng giai cấp lao động, được đặc trưng bởi không có những sự khác biệt xã hội kinh tế về số người tham gia bỏ phiếu và những khác biệt tương đối nhỏ về các loại tham gia khác.

Nhà nước và Xã hội Dân sự

Công trình mang tính kinh nghiệm liên quan đến sự tham gia và dân chủ xã hội không đề cập đến mối quan hệ giữa nhà nước và xã hội dân sự theo cùng cách như chúng tôi, cùng với các học giả khác đã làm trong phân tích các nguồn gốc xã hội và lịch sử của dân chủ hình thức. Tuy nhiên, một khối lớn công trình đề cập đến tác động của cấu trúc nhà nước và các diễn viên nhà nước lên nhà nước phúc lợi và có thể được tạo dáng lại để khớp với cách của chúng tôi về định khung câu hỏi.

Trước khi phác họa các giả thuyết được văn liệu này gợi ý, cần bình luận các khái niệm về “mật độ của xã hội dân sự,” “sự huy động và tham gia của công dân,” và “sức mạnh của các giai cấp dưới..” Các khái niệm này là khác biệt nhưng nhắc đến các hiện tượng liên quan mật thiết với nhau. Căn cứ vào các mối liên kết mật thiết giữa sự tổ chức và sự tham gia trong quá trình chính trị được chứng tỏ trong văn liệu kinh nghiệm, mật độ của xã hội dân sự và mức độ tham gia và huy động công dân phải cùng biến đổi ngang các xã hội. Sức mạnh giai cấp dưới chủ yếu là một hệ quả của sự tổ chức giai cấp, cho nên nó cũng phải cùng biến đổi với mật độ của xã hội dân sự. Nhưng chúng không phải là cùng thứ. Các liên đoàn Bowling và các hội ca hát củng cố xã hội dân sự mà không làm nhiều cho sự tham gia chính trị hay sự tổ chức giai cấp. Liên đoàn các Nữ Cử tri và Câu lạc bộ Sierra củng cố xã hội dân sự và sự tham gia chính trị mà không tăng cường nhiều sự tổ chức giai cấp. Các nghiệp đoàn và các liên đoàn nông dân tăng cường tất cả ba thứ.

Là sai lầm căn bản để xem quan hệ giữa hoạt động nhà nước và sự tự tổ chức của xã hội như một “sự đánh đổi” – một thứ càng nhiều thì thứ kia càng ít. Ngược lại, các hiệp hội trong xã hội dân sự đã có khuynh hướng tăng lên, cả ở Hoa Kỳ lẫn ở châu Âu, khi nhà nước tiến hành các nhiệm vụ mới trong xã hội. Sự tự tổ chức của các gia cấp dưới, cũng thế, ở mọi nơi có một mối quan hệ tăng cường lẫn nhau với các chính sách xã hội nhà nước.

Tính tự trị cũng như năng lực công cụ của nhà nước là quan trọng cốt yếu cho sự tiến bộ tới dân chủ xã hội. Người ta đã có thể bị cám dỗ trên cơ sở logic để cho rằng trong một chính thể dân chủ xã hội, nhà nước càng tự trị, thì sự huy động công dân càng ít và sự tham gia vào quá trình chính trị sẽ chuyển thành ảnh hưởng lên các kết cục chính sách, khi các thứ khác là ngang nhau (ceteris paribus). Trong trường hợp giới hạn, một nhà nước cực kỳ tự trị có thể bỏ qua các đòi hỏi của các công dân bất luận họ được tổ chức tốt đến thế nào. Tuy vậy, một sự phân biệt giữa sự tự trị của nhà nước khỏi các lợi ích xã hội-kinh tế chi phối và sự tự trị toàn bộ làm phức tạp bức tranh một cách hữu ích: mức độ độc lập với các lợi ích chi phối càng cao và sự phản ứng nhanh nhạy với những áp lực có cơ sở rộng càng lớn, thì các cơ hội cho những tiến bộ tới dân chủ xã hội càng lớn. Bất cứ sự tiến bộ dựa trên chính sách nào tới dân chủ xã hội đòi hỏi năng lực công cụ đáng kể của nhà nước: năng lực của nhà nước càng lớn để thực hiện các chính sách một cách hiệu quả, thì mức độ càng lớn mà theo đó sự huy động và tham gia của các công dân sẽ chuyển thành những ảnh hưởng đến các kết cục xã hội, ceteris paribus.

Một số học giả đã cho rằng sự tự trị nhà nước, hoạt động hoạch định chính sách của các quan chức hay “các elite chính trị,” và sự cách ly các elite khỏi các áp lực dân chúng (tất cả đều liên quan nhưng tách biệt về mặt quan niệm) dẫn đến sự đổi mới chính sách xã hội.13 Hơn nữa, trong khi các động cơ họ quy cho các elite đổi mới thay đổi từ lòng nhân từ đến sự chỉ định Bismarckian, chúng hầu như luôn luôn xem sự đổi mới như việc đẩy chính sách theo một hướng rộng lượng hơn. Nhưng mối quan hệ giữa tính tự trị và sự phát triển chính sách và tính rộng lượng là một sự khái quát hóa kinh nghiệm post hoc (hậu nghiệm). Về mặt logic, một nhà nước tự trị hoặc elite chính trị tự trị đã có thể đẩy lùi chính sách một cách dễ dàng hệt như mở rộng nó. Cái chúng ta kỳ vọng có tính quyết định là mức độ tự trị khỏi các lợi ích xã hội-kinh tế chi phối và sự phản ứng nhanh nhạy với các áp lực có cơ sở rộng hơn. Cái sau có thể bao gồm, như pháp luật an sinh xã hội của Bismarck, một sự phản ứng nhanh nhạy với những áp lực căng thẳng được lường trước trong xã hội.

Các Cấu trúc Xuyên quốc gia về Quyền lực

Trong các trường hợp của các quan hệ của quyền lực giai cấp và, ở mức độ ít hơn, của quyền lực nhà nước đối với xã hội dân sự, khung khổ lý thuyết của chúng tôi dẫn chúng tôi đến tiên đoán rằng cùng hình trạng của các lực sẽ thúc đẩy dân chủ hình thức cũng như dân chủ tham gia và dân chủ xã hội. Trong trường hợp của các cấu trúc xuyên quốc gia về quyền lực, tuy vậy, các tác động lên dân chủ hình thức và dân chủ xã hội là khá khác nhau, và tình thế hiện thời, tuy khá thuận lợi cho dân chủ hình thức, đặc biệt cho các cuộc bầu cử đều đặn, quyền tự do tranh luận, và quyền bầu cử phổ quát, lại rất không thuận lợi cho dân chủ tham gia và dân chủ xã hội. Chúng ta có thể phân biệt hai nét đặc điểm của các cấu trúc quyền lực xuyên quốc gia, một mặt là thị trường quốc tế, và mặt khác là các định chế đa biên bị chi phối bởi các nước cốt lõi và các mối quan hệ song phương.

Trong văn liệu mới đây về nhà nước phúc lợi và dân chủ xã hội ở các nền dân chủ công nghiệp tiên tiến, tác động của hệ thống quốc tế lên chính sách dân chủ xã hội đã là một mối quan tâm chủ yếu, có lẽ là mối quan tâm chính. Điểm xuất phát chính của nghiên cứu gần đây đã là luận điểm rằng sự đảo ngược mới đây của chính sách dân chủ xã hội ở khu trung tâm của nó ở bắc Âu có thể được quy cho sự quốc tế hóa tăng lên của các nền kinh tế của các xã hội tư bản chủ nghĩa tiên tiến nói chung và quá trình hội nhập Âu châu nói riêng, mà đã siết lại – quả thực, theo một số nhà quan sát, đã hầu như loại bỏ – các lựa chọn chính sách của các chính phủ của các xã hội này.

Có các lý do để rút ra cái sâu xa nhất từ các khẳng định này với một chút hoài nghi. Như Katzenstein đã chỉ ra, các nền dân chủ nhỏ ở châu Âu, mà hầu hết đã được cai quản thường xuyên bởi dân chủ xã hội, đã có các nền kinh tế rất mở trước xa thời đại hậu Bretton Woods của sự quốc tế hóa gia tăng, và các nhà nước phúc lợi lớn của chúng có thể được xem như “sự bồi thường trong nước” cho việc lao động có tổ chức chấp nhận sự kiềm chế lương và các chính sách khác để thúc đẩy tính cạnh tranh quốc tế.14 Ở nơi khác chúng tôi đã cho rằng những sự tăng lên khiêm tốn về cởi mở thương mại của hai thập niên vừa qua đã có ít tác động lên mô hình kinh tế dân chủ xã hội, và nhà nước phúc lợi dân chủ xã hội hào phóng đã không làm xói mòn tính cạnh tranh của các hàng xuất khẩu của các nước này. Tuy vậy, sự quốc tế hóa đầy kịch tính của các thị trường tài chính đã loại bỏ một số công cụ bên cung mà đã là trung tâm đối với mô hình kinh tế của nền dân chủ xã hội trong thời hoàng kim của chủ nghĩa tư bản sau chiến tranh.15

Một phần của huyền thoại neoliberal (khai phóng mới) cho rằng xu hướng toàn cầu đến tự do hóa, phi điều tiết hóa, và tư nhân hóa có thể được giải thích hoàn toàn bởi sự thực rằng sự cạnh tranh quốc tế tăng lên đã buộc các quốc gia phải tiến hành các biện pháp này như các bước tới hiệu quả lớn hơn. Vai trò của chính phủ Hoa Kỷ, IMF, Ngân hàng Thế giới, Bundesbank, và các định chế quốc tế khác và định chế của các nước cốt lõi trong việc thúc đẩy, đôi khi ta phải nói thực thi, các chính sách neoliberal là không thể phủ nhận được. Như thế, phía chính trị của các cấu trúc quyền lực xuyên quốc gia hiện thời, trong khi ủng hộ sự mở rộng của dân chủ hình thức, lại đã hoạt động chống lại sự đẩy mạnh dân chủ tham gia và xã hội bởi vì nó đã chấm dứt việc xem xét chính sách dân chủ xã hội thay thế và, bằng ngăn cản các lựa chọn thay thế khả dĩ, đã làm cho sự huy động và tham gia dân chúng  ít có ý nghĩa hơn.

Các Yếu tố Quyết định của Dân chủ Hình thức ở Mỹ Latin Đương thời

Việc thảo luận quỹ đạo của dân chủ ở Mỹ Latin từ cuối các năm 1970 phải bắt đầu với sự phân biệt giữa pha chuyển đổi và pha sau các cuộc bầu cử dân chủ đầu tiên, thường được gọi là pha củng cố.16 Các điều kiện thịnh hành trong pha đầu tiên không nhất thiết vẫn còn trong pha thứ hai. Hơn nữa, các điều kiện thuận lợi cho chuyển đổi không nhất thiết cũng thuận lợi ngang thế cho sự củng cố.

Trong sự quan niệm hóa chi phối về củng cố, tất cả các diễn viên liên quan đều chấp nhận các quy tắc của trò chơi dân chủ và như thế từ bỏ việc tìm kiếm các con đường khác tới quyền lực chính trị. Do đó, các diễn viên này và một công chúng lớn hơn tin rằng dân chủ sẽ vẫn tồn tại cho tương lai có thể thấy trước được.17  Một số tác giả đưa thêm việc loại bỏ các tàn tích của sự cai trị độc đoán, như các đặc quyền quân đội và những hạn chế khác lên quyền của các quan chức được bầu, như một tiêu chuẩn, mà là cách nói khác rằng một nền dân chủ hình thức được củng cố phải thỏa mãn đầy đủ các đòi hỏi trong tất cả các chiều, kể cả trách nhiệm giải trình.18

Trong thực tiễn, nhiều nền dân chủ đã sống sót mà không đạt sự củng cố đầy đủ theo nghĩa loại bỏ các tàn tích này và đảm bảo sự chấp nhận và sự hoạt động đúng đắn của một loạt quy tắc và định chế dân chủ.19 Cộng đồng quốc tế nói chung coi các nước như các nền dân chủ khi chúng thỏa mãn test về các cuộc bầu cử đều đặn, tự do, và có vẻ công bằng phải chăng với quyền bỏ phiếu phổ quát. Tuy vậy, nhiều trong các nước này thiếu các tiêu chuẩn khác mà xác định nền dân chủ hình thức. Nổi bật nhất, trách nhiệm giải trình thường là yếu bởi vì các tổng thống được trao quyền quá đáng và các cơ quan lập pháp và tư pháp yếu. Thứ hai, các quyền dân sự và, ở mức độ ít hơn, các quyền chính trị được bảo vệ rất không đều ngang các giai cấp, giới, và các đơn vị lãnh thổ.20  Thứ ba, các tập quán gia trưởng chủ nghĩa làm mờ các ranh giới giữa các lĩnh vực công và tư.21 Trong một phân tích tỉ mỉ, nhiều trong số các nền dân chủ mới ở Mỹ Latin phù hợp chỉ một phần với khái niệm hóa của chúng tôi về dân chủ hình thức.

Về mặt ba cụm quyền lực của chúng tôi khi được áp dụng cho các nền dân chủ mới ở Mỹ Latin, sau một đợt bột phát huy động trong thời gian chuyển đổi sự cân bằng quyền lực giai cấp đã chuyển sang chống lại các giai cấp dưới, và sự yếu kém của các giai cấp dưới chịu trách nhiệm về những thiếu sót trong dân chủ hình thức cũng như dân chủ tham gia và dân chủ xã hội. Trong chừng mực liên quan đến nhà nước, các chiều khác nhau của sự yếu kém đã tạo thuận lợi cho chuyển đổi nhưng đã trở thành những cản trở cho cả sự thực hiện đầy đủ nền dân chủ hình thức lẫn bất cứ sự di chuyển nào tới dân chủ xã hội. Cuối cùng, hệ thống quốc tế đã có những tác động trái ngược lên dân chủ hình thức và dân chủ xã hội.

Cân bằng Quyền lực Giai cấp

Có sự thống nhất nói chung rằng các sự chuyển đổi từ sự cai trị độc đoán đã bắt đầu với những căng thẳng bên trong các chính phủ quân sự và giữa chúng và các liên minh tư sản của chúng, một cách điển hình bị làm sâu sắc thêm bởi các vấn đề kinh tế. 22  Cái đã đẩy sự tự do hóa ban đầu theo hướng dân chủ hóa, tuy nhiên, đã là áp lực từ xã hội dân sự đang nổi lên lại một cách nhanh chóng. Áp lực như vậy đến từ cả loạt các hiệp hội, từ các hội báo chí và luật sư ở trên đỉnh của thang xã hội đến các nhóm quyền con người ở giữa và các nghiệp đoàn và các tổ chức hàng xóm trong các cộng đồng nghèo đô thị ở dưới cùng. Để cho những sự chia rẽ ở trên đỉnh và các áp lực từ dưới dẫn đến các cuộc bầu cử dân chủ, thì các đảng chính trị cũng đã phải tập hợp lại và cung cấp bộ phận lãnh đạo để thương lượng các điều kiện ra đi với các nhà cai trị độc đoán.23

Đợt bột phát huy động của các phong trào xã hội cũ và mới trong thời gian chuyển đổi đã tiếp theo bởi một sự sụt giảm sau các cuộc bầu cử dân chủ đầu tiên. Một phần, sự sụt giảm này đã là do sự biến mất của mục tiêu chung của sự phản kháng, một phần do sự tan ảo mộng với sự thất bại của sự cai trị dân chủ để dẫn đến những cải thiện đáng kể về tình hình vật chất của hầu hết công dân, và một phần do những khó khăn mà các phong trào xã hội đã gặp phải trong cố gắng để làm việc với và thông qua các đảng chính trị.24 Ngoài ra, trong các nước nơi mà sự ổn định hóa kinh tế và các chính sách điều chỉnh cấu trúc đã tiếp tục và được tăng cường sau chuyển đổi (chẳng hạn, Argentina, Brazil, và Peru), xã hội dân sự, đặc biệt [tổ chức] lao động, đã bị yếu đi một cách đáng kể.

Bất chấp sự sụt giảm về huy động và sự yếu đi của các tổ chức của các giai cấp dưới, các nền dân chủ hình thức đã vẫn tồn tại, mặc dù dưới một dạng thỏa mãn phần lớn tiêu chuẩn về các cuộc bầu cử dân chủ và thiếu tính trách nhiệm giải trình và sự bảo vệ các quyền dân sự. Những thiếu sót trong nền dân chủ hình thức có thể dễ được giải thích trong khung khổ lý thuyết của chúng tôi bởi sự thiếu của các tổ chức mạnh của các giai cấp dưới. Để giải thích sự sống sót của (thường là phiên bản bị cắt xén của) nền dân chủ hình thức, chúng tôi cần nhắc nhở bạn đọc rằng chúng tôi đã nhấn mạnh sự cân bằng tế nhị giữa các áp lực từ dưới và sự cảm nhận đe dọa ở trên đỉnh cần thiết cho việc sắp đặt và sống sót của nền dân chủ.25  Cân bằng này đã vẫn thuận lợi cho sự sống sót dân chủ, khi các áp lực từ dưới đã yếu đi nhưng cảm nhận đe dọa đã giảm triệt để hơn.26 Sự giảm sút về cảm nhận đe dọa một phần là do chính sự yếu đi của lao động, do sự lộn xộn và thiếu một dự án mạch lạc từ phía tả, và do các áp lực bên ngoài tăng cường một trật tự neoliberal thuận lợi cho các nhóm kinh doanh hùng mạnh mới, một chủ đề mà chúng tôi sẽ quay lại.

Cấu trúc của Nhà nước

Sự phân mảnh của bộ máy nhà nước và sự không thống nhất giữa các nhóm kiểm soát nó đã có lợi cho sự chuyển đổi. Các sự chia rẽ đã mở ra không gian cho đợt bột phát của xã hội dân sự và cho sự hình thành các liên minh giữa những người theo đường lối mềm dẻo bên trong bộ máy nhà nước và các thành viên của đối lập dân chủ.27  Sau chuyển đổi, tuy vậy, sự phân mảnh tiếp tục và sự yếu kém của các định chế nhà nước, đặc biệt các định chế mà đã bị treo hoặc bị thao túng dưới sự cai trị độc đoán, như cơ quan lập pháp và tư pháp, đã trở thành một trở ngại. Chúng đã làm cho khó khăn để thiết lập trách nhiệm giải trình của các quan chức được bầu cũng như sự thực thi phổ quát các quyền dân sự và chính trị.

Trong một số trường hợp và trong một số khía cạnh những sự phát triển trong bộ máy nhà nước đã có ích cho sự sống sót của dân chủ hình thức. Ở Argentina quy mô của bộ máy cưỡng bức của nhà nước đã giảm đi, và sự kiểm soát dân sự đối với các lực lượng an ninh đã được tăng cường. Trong các nước như vậy như Argentina, Brazil, Peru, và Bolivia, sự co lại của nhà nước như một kết quả của các chính sách điều chỉnh cơ cấu đã làm giảm các cơ hội tham nhũng, tức là giảm sự làm mờ giữa lĩnh vực công và tư.

Hệ thống Quốc tế

Tác động rõ rệt nhất và quan trọng của hệ thống quốc tế lên sự sống sót (tuy là các dạng có thiếu sót) của dân chủ hình thức đã chắc chắn bao gồm các áp lực ngoại giao để tôn trọng các cuộc bầu cử dân chủ.28 Trong khi những áp lực như vậy từ các nước Bắc Mỹ và Tây Âu đã là cốt yếu trong nhiều trường hợp của những chuyển đổi sớm, những áp lực này đã ngày càng bắt nguồn từ bản thân các nước Mỹ Latin. Các chính phủ được bầu một cách dân chủ đã bày tỏ một quyền lợi bản thân mạnh trong việc tẩy chay các hàng xóm đi trệch các thủ tục bầu cử dân chủ hình thức.

Những diễn biến trong tình hình địa chính trị, đặc biệt sự kết thúc của Chiến tranh Lạnh, đã có lợi cho sự sống sót của dân chủ một cách cả trực tiếp lẫn gián tiếp. Trực tiếp, chúng đã làm giảm xu hướng của hai siêu cường ủng hộ các chế độ phi dân chủ nhưng trung thành. Gián tiếp, chúng đã loại bỏ cảm nhận về mối đe dọa Cộng sản giữa các elite kinh tế và như thế sự sợ hãi về sự yếu kém tiềm tàng của các chế độ dân chủ đối mặt với một mối đe dọa như vậy hoặc, thậm chí còn tồi hơn từ cách nhìn của họ, về sự đồng lõa tiềm năng của các chính phủ dân chủ với các lực lượng Cộng sản.

Những diễn biến trong nền kinh tế thế giới đã có một tác động nước đôi hơn lên dân chủ hình thức. Một mặt, khủng hoảng nợ đã giúp các chuyển đổi tiến lên bằng việc làm sâu sắc các căng thẳng nội bộ trong các chế độ độc đoán và giữa chúng và các liên minh trong xã hội dân sự. Ngoài ra, sự khăng khăng của các định chế tài chính quốc tế về các cải cách neoliberal đã làm giảm mối đe dọa được cảm nhận đối với tài sản tư giữa các elite kinh tế và như thế đã làm tăng sự chịu đựng của họ đối với dân chủ hình thức. Mặt khác, áp lực nợ tiếp tục và sự áp đặt các biện pháp điều chỉnh cơ cấu đã tăng cường một xu hướng để tập trung quyền lực vào hành pháp, cách ly các nhà hoạch định chính sách kinh tế, và cai trị bằng sắc lệnh. Nói cách khác, chúng đã cản trở việc thể chế hóa sự hỏi ý kiến dân chủ và trách nhiệm giải trình. Ngoài ra, chúng đã tác động đến một sự thay đổi trong cân bằng quyền lực chống lại các giai cấp dưới và như thế đã làm giảm tiềm năng cho một sự sửa các thiếu sót này.

Các Yếu tố Quyết định của Dân chủ Tham gia ở Mỹ Latin Đương thời Cân bằng Quyền lực Giai cấp

Như chúng tôi đã chỉ ra ở trên, nghiên cứu so sánh đã cho thấy rằng một mức độ cao của sự tổ chức giữa các giai cấp thấp hơn (hay các nhóm địa vị xã hội kinh tế) làm giảm những sự chênh lệch giai cấp (hay những sự chênh lệch bởi địa vị xã hội kinh tế) trong sự tham gia chính trị. 29 Ngoài ra, văn liệu về nhà nước phúc lợi đã chứng tỏ rằng giữa các tổ chức này các đảng chính trị đóng một vai trò cốt yếu trong việc trình bày rõ ràng các đòi hỏi [của] giai cấp thấp hơn cho các chính sách tái phân phối và chuyển chúng thành chính sách.

Các nền dân chủ mới ở Mỹ Latin đã trải qua những vấn đề trong cả hai lĩnh vực. Trong tình thế đặc biệt của chuyển đổi, các đòi hỏi bị dồn nén đối với thông tin về các nạn nhân của sự chà đạp các quyền con người, đối với những thay đổi chính sách kinh tế và các dịch vụ xã hội tối thiểu, đối với các quyền lao động, và đối với các cuộc bầu cử dân chủ đã là đủ mạnh để huy động các công dân hành động ngay cả khi thiếu các mối ràng buộc tổ chức. Thế nhưng khi mục tiêu chung của sự huy động, chế độ độc đoán, bị xóa bỏ, thì sự huy động đã lắng đi. Bởi vì cấu trúc tổ chức chóng tàn của chúng, hầu hết các phong trào này đã không có khả năng duy trì sự dính líu chính trị mạnh của các giai cấp dưới.

Các đảng chính trị nhìn chung đã thất bại để thiết lập các mối quan hệ với các giai cấp dưới và trình bày rõ các đòi hỏi của họ một cách hữu hiệu. Trường hợp rõ ràng nhất của một đảng lên cầm quyền trên cơ sở của sự đồng nhất truyền thống với các lợi ích giai cấp dưới và đưa ra các cố gắng mạnh mẽ để bảo vệ các lợi ích đó một khi đương chức đã là đảng APRA ở Peru năm 1985. Tuy vậy, sự thất bại của nó trong lĩnh vực quản lý kinh tế trong trung và dài hạn đã dẫn đến sự bất bình dân chúng và sự phá hủy phần lớn sức mạnh bầu cử của nó. Các Peronist dưới Menem ở Argentina và Đảng Dân tộc Nhân dân dưới Manley ở Jamaica đã vận động trên những lời kêu gọi truyền thống của họ đến các lợi ích giai cấp dưới nhưng một khi lên nắm quyền đã thay đổi tiến trình và đã thực hiện các cải cách neoliberal.30 Ở Chile các đảng theo truyền thống được đồng nhất với các lợi ích giai cấp dưới đã cam kết mình trong thời gian chuyển đổi đối với sự liên tục trong các chính sách kinh tế và đã lưu lại trên tiến trình một khi ở trong chính phủ. Do đó, họ đã không đặc biệt cố gắng để làm sống lại các mối quan hệ mật thiết với các tổ chức của các giai cấp dưới mà đã bị vỡ dưới sự cai trị quân sự. Các kết quả trong những trường hợp này đã là sự vô liêm sỉ lớn hơn giữa dân cư đối với quá trình chính trị, sự trung thành đảng thấp hơn, và sự tham gia bỏ phiếu thấp hơn nơi việc đi bầu không được giữ cao bởi sự bỏ phiếu bắt buộc.

Số người tham gia bỏ phiếu giữa các giai cấp dưới đã được giữ ở mức cao trong nhiều trường hợp theo cách mà làm chẳng bao nhiêu để chuyển một cách hiệu quả các lợi ích giai cấp dưới thành chính sách. Không gian chính trị bị bỏ trống bởi các tổ chức dân chúng yếu và sự thất bại của các đảng chính trị để thiết lập các mối quan hệ tổ chức với các giai cấp dưới đã được lấp đầy bởi các mạng lưới clientelistic*. Các mạng lưới này kết nối các cá nhân thuộc giai cấp dưới và các nhóm xã hội phi chính thức với riêng các chính trị gia; chúng được dùng may mắn nhất như những vật truyền những sự thiên vị, đặc thù chủ nghĩa, tạm thời, chứ không như các kênh để huy động công dân vào việc tác động đến sự hình thành chính sách. Hình mẫu này là đặc biệt mạnh nơi các đảng là yếu, như ở Brazil, Peru, Bolivia, và Ecuador.

Nhà nước và các Mối quan hệ Nhà nước-Xã hội

Trong chừng mực mà quyền lực đã trở nên tập trung vào hành pháp và các tổng thống có khuynh hướng coi cơ quan lập pháp và tư pháp như các trở ngại hơn là các đối tác hợp pháp trong chính phủ, thì có ít cơ hội cho sự tham gia chính trị của dân chúng vượt xa hơn hành động bỏ phiếu, đặc biệt ở những nơi các tổng thống lên nắm quyền qua các liên minh bầu cử lỏng lẻo và tránh xa các đảng liên minh khi đương chức. Gây áp lực một cơ quan lập pháp bất lực và làm việc thông qua một đảng tổng thống mà có ít ảnh hưởng lên chính sách chính phủ không phải là các hình thức hứa hẹn của sự tham gia công dân. Những thất bại lặp đi lặp lại làm nản lòng sự huy động chính trị giữa tất cả trừ những người tận tụy nhất về ý thức hệ.

Sự phân quyền chính trị đã là cao trên chương trình nghị sự của các định chế tài chính quốc tế, đặc biệt Ngân hàng Thế giới, và nhiều chính phủ trong những nền dân chủ mới. Tuy vậy, sự phân quyền trong nhiều trường hợp đã vẫn hạn chế ở việc quản lý địa phương của các chính sách đã dược quyết định ở trung ương và các nguồn lực được phân bổ ở trung ương. Trong một số trường hợp nó đã tăng cường địa vị của các elite địa phương và các mạng clientelistic của họ. Nơi sự kiểm soát cả các nguồn lực và trách nhiệm chính sách đã được phân quyền, sự tham gia công dân ở mức địa phương được tạo thành hình bởi những kinh nghiệm trước với sự huy động và bởi các tổ chức mà được dùng như các cơ quan huy động.31

Các Cấu trúc Quyền lực Xuyên Quốc gia

Ngược với tác động tích cực của nó lên sự sống sót của dân chủ hình thức, hệ thống quốc tế đã có một tác động gây nản lòng lên sự tham gia công dân. Các áp lực bên ngoài để chấp nhận các chính sách neoliberal đã làm giảm không gian cho các tranh luận chính sách và đã hết sức chế ngự sự tham gia công dân.

Hệ thống quốc tế cũng đã góp phần mạnh mẽ theo cách gián tiếp cho sự giảm tham gia công dân. Khi các chính sách ủng hộ hoạt động không bị kiềm chế của thị trường được áp đặt và được chấp nhận bởi ngày càng nhiều nước, những người thua thiệt trong trật tự kinh tế mới mất không chỉ thu nhập, sự an toàn việc làm, và các trợ giúp chính phủ, mà thường cũng mất nhiều “tiếng nói” chính trị của họ nữa. Do đó, sự tổ chức giai cấp dưới bị yếu đi, làm giảm thêm các cơ hội cho các chính sách dân chủ xã hội để sửa chữa những bất bình đẳng xã hội kinh tế tăng lên.

Các vấn đề kinh tế bén rễ trong hệ thống quốc tế, nổi bật nhất là các áp lực nợ kéo dài nhưng cả sự quốc tế hóa vốn tăng lên nữa, cũng đã làm yếu một phần cốt yếu của cơ sở hạ tầng của sự tham gia, các đảng chính trị, và hệ thống đảng. Những người đương chức dân chủ đầu tiên đã đối mặt với những kỳ vọng bị thổi phồng, và sự bất lực của họ để thỏa mãn ngay cả những nhu cầu kinh tế cơ bản nhất của các giai cấp dưới và trung lưu đã làm cho các đảng của họ bị tan đàn xẻ nghé tại các cuộc bầu cử lần thứ hai. Chile là ngoại lệ mà xác nhận quy tắc. Chính phủ của Concertacio´n [Liên minh các đảng vì Dân chủ] dưới thời Aylwin đã thừa kế một nền kinh tế với sự ổn định vĩ mô, và một tỷ lệ tăng trưởng lành mạnh, mà đã cho phép nó đạt được tiến bộ nào đó trong lĩnh vực chi tiêu xã hội và lương thực tế và để lại thắng bầu cử dưới thời Frei. Tại Argentina, Peru, và Brazil, ngược lại, sự tiêu hao nhiều của các đảng đương chức đã làm yếu thêm năng lực của hệ thống đảng đã bị phân mảnh rồi để huy động và xử lý sự tham gia công dân.

Các Yếu tố Quyết định của Dân chủ Xã hội ở Mỹ Latin Đương thời Cân bằng Quyền lực Giai cấp

Sự tổ chức mạnh của lao động và sức mạnh bầu cử của các đảng ủng hộ lao động là các yếu tố quyết định cốt yếu của sự thực hiện hữu hiệu các chính sách tái phân phối trong các nền dân chủ công nghiệp tiên tiến. Sự thay đổi không thuận lợi trong cân bằng quyền lực giai cấp ra xa khỏi lao động và hướng tới tư bản do kết quả của sự kết hợp của sự đàn áp lao động dưới sự cai trị quân sự và các cải cách neoliberal dưới cả sự cai trị quân sự và dân chủ và sự yếu kém của các đảng chính trị trong các nền dân chủ mới đã phần nhiều chịu trách nhiệm về sự thất bại của chính sách nhà nước để giải quyết vấn đề tái phân phối theo một cách có ý nghĩa.32 Các chính sách điều chỉnh neoliberal được thực hiện ở những mức độ khác nhau trong hầu như tất cả các nền dân chủ đã làm cho vấn đề này hết sức nổi bật bởi vì chúng đã làm nghiêm trọng thêm một cách đáng kể sự bất bình đẳng xã hội kinh tế cao trước đây. Sự kết hợp của tự do hóa tài chính và tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước đã dẫn đến một sự tập trung cao các tài sản kinh tế. Sự kết hợp của tự do hóa thương mại và sự nhấn mạnh đến sự phân bổ thị trường của các nguồn lực đã đẩy mạnh một phương thức mới của sự hội nhập vào nền kinh tế thế giới dựa trên sản xuất với lao động có kỹ năng thấp/lương thấp. Cuối cùng, những khoản cắt xén trong chi tiêu chính phủ cho các khoản bao cấp và dịch vụ xã hội đã đánh đặc biệt mạnh các nhóm thu nhập thấp nhất.

Sự tập trung kinh tế, tất nhiên, có nghĩa không chỉ là sự tập trung của cải mà cả quyền lực nữa. Quyền lực của tư bản (sức mạnh của vốn) đối lại cả lao động và các chính phủ đã được tăng cường hơn nữa bởi sự tự do hóa tài chính và sự quốc tế của các chuỗi sản xuất. Những diễn biến này đã làm cho tư bản dễ di động hơn nhiều, và như thế sự đe dọa của việc (vốn) ra đi là đáng tin hơn, điều đó kiềm chế các chính phủ trong các lựa chọn chính sách của họ và xui khiến lao động đưa ra những nhượng bộ. Sự thay đổi sức mạnh này đã được cảm thấy ngay cả trong các nền dân chủ công nghiệp tiên tiến, và càng rõ rệt hơn trong các nền dân chủ mới.

Những người hưởng lợi của các cải cách neoliberal, như thế, đã trở thành các cử tri rất hùng mạnh và các trở ngại cho việc theo đuổi các chính sách dân chủ xã hội. Với rất ít ngoại lệ, các nền dân chủ mới đã làm chẳng bao nhiêu để đảo ngược xu hướng tăng nghèo và bất bình đẳng. Ngay cả trong các trường hợp thành công về kinh tế, như Chile và (đến cuối 1993) Mexico,33 lương tối thiểu thực tế đã rất tụt hậu sau sự tăng năng suất và đã vẫn thấp hơn nhiều mức của thời kỳ trước điều chỉnh.34 Giữa các nền dân chủ mới tại Mỹ Latin, có thể cho rằng Chile là nước nơi các nỗ lực lớn nhất đã được tiến hành để chống nghèo thông qua chính sách xã hội. Nó đã làm giảm tỷ lệ nghèo từ 40 phần trăm trong năm 1990 xuống khoảng 30 phần trăm trong năm 1994.35 Tuy vậy, rất ít đã được làm để củng cố lao động có tổ chức và các tổ chức dân chúng khác mà đã có thể hoạt động như các nhà huy động hữu hiệu của các áp lực tái phân phối.

Nhà nước và các Mối quan hệ Nhà nước-Xã hội

Các chính sách dân chủ xã hội được đặt thành tiền đề trên sự thực rằng thị trường có các hệ quả phi bình quân chủ nghĩa mà có thể được sửa chữa chỉ bằng sự can thiệp nhà nước. Ngoài ý chí chính trị và cơ sở quyền lực để đảm nhận sự can thiệp nhà nước tái phân phối ra, một bộ máy nhà nước phải có khả năng thực hiện các chính sách như vậy theo một cách nhất quán, mạch lạc, và hiệu quả. Việc thiếu một nhà nước như vậy là một vấn đề lớn trong các nền dân chủ của Mỹ Latin. Hầu hết các nền dân chủ mới này đã thừa kế một bộ máy nhà nước được đặc trưng bởi sự vỡ ra từng mảnh, các trách nhiệm chồng lấn nhau, sự tuyển người không theo chế độ nhân tài, và thường tham nhũng. Vì thế, sự can thiệp nhà nước, đặc biệt sự can thiệp tái phân phối mà đi ngược lại các lợi ích đặc lợi, là khó để thực hiện. Ý thức hệ neoliberal và thực hành của nhà nước co lại đã làm ít hoặc chẳng làm gì để sửa chữa các vấn đề này. Thực ra, trong chừng mực mà chúng đã dẫn đến một thái độ chống nhà nước và những sự cắt giảm mạnh lương của các công chức, chúng đã gây ra sự nản lòng và sự ra đi giữa những người đương chức có trình độ nhất trong bộ máy quan liêu.

Ngược với những lời xác nhận rằng sự tự trị của các quan chức nhà nước đã là nguồn của chính sách xã hội hào phóng trong các nền dân chủ công nghiệp tiên tiến, kinh nghiệm của các nền dân chủ mới gợi ý rằng sự tự trị hành pháp khỏi các áp lực chính trị trong nước có cơ sở rộng đã được dùng chủ yếu theo chiều ngược lại, để cắt các khoản chi tiêu xã hội. Tất nhiên, có một sự khác biệt quan trọng giữa các xã hội đã phát triển và đang phát triển: mức độ tự trị khỏi các áp lực bên ngoài. Trong các nền dân chủ mới, các định chế tài chính quốc tế và những người ủng hộ khác của “đồng thuận Washington” đã tích cực nâng cao sự tự trị hành pháp khỏi các áp lực chính trị rộng trong nước, chính xác nhằm đặt các nhà hành pháp vào một vị trí tốt hơn để thực thi các chính sách “đồng thuận” này. Một khi các chính sách neoliberal đã có hiệu lực và đã tạo ra sự ủng hộ của riêng nó giữa những kẻ thắng, các hãng tài chính và xuất khẩu lớn, các cử tri này đã trở nên quyết đoán hơn về mặt chính trị. Có lý để giả thuyết rằng sức mạnh tăng lên của chúng sẽ hạn chế sự tự trị hành pháp. Nhưng nó cũng sẽ củng cố hình mẫu của các quan hệ nhà nước-xã hội mà ít có khả năng làm thay đổi chính sách theo hướng tái phân phối và giảm sự bất bình đẳng: sự phụ thuộc ngày càng tăng của các elite nhà nước vào các nhóm hùng mạnh về kinh tế và một mức độ tự trị cao đối với các giai cấp dưới.

Các Cấu trúc Quyền lực Xuyên Quốc gia

Sự quốc tế hóa ngày càng tăng của các hoạt động tài chính và các chuỗi sản xuất đã làm giảm cơ hội của chính phủ để điều động thậm chí nhiều hơn ở các nước đang phát triển so với ở các nước công nghiệp tiên tiến. Hơn nữa, các nền dân chủ mới ở Mỹ Latin đã cũng phải tăng sự mở cửa thương mại rất nhiều, gây ra những trục trặc vượt xa mức gây ra bởi các điều kiện thay đổi của cạnh tranh quốc tế trong các nền kinh tế mở hơn nhiều của các nhà nước phúc lợi tái phân phối Âu châu. Chìa khóa ở đây đã là áp lực nợ kéo dài trong nhiều nền dân chủ mới và như thế sự phơi ra của chúng đối với các áp lực để tự do hóa thương mại nhanh và khá bừa bãi. Tốc độ và phạm vi của những cải cách này đã làm cho là quá khó khăn đối với nhiều hãng để thích nghi với các điều kiện mới, dẫn đến không phải việc trang bị lại cho sản xuất xuất khẩu mà đúng hơn đến những sự phá sản, sự làm tăng thất nghiệp, và tăng trưởng kinh tế thấp.

Sự quốc tế hóa tài chính làm giảm, đặc biệt, năng lực của chính phủ để tác động đến lãi suất nhằm kích thích đầu tư. Cạnh tranh trong nền kinh tế thế giới trên cơ sở lao động rẻ làm giảm năng lực của các chính phủ để tăng thuế doanh nghiệp, kể cả thuế lương cho việc đóng góp an sinh xã hội. Cuối cùng, sự dựa thái quá vào thị trường và việc từ bỏ sự can thiệp nhà nước để đẩy mạnh sự tiến tới cạnh tranh trong thị trường thế giới trên cơ sở sản xuất có kỹ năng cao hơn, lương cao hơn lại giữ lương thực tế rất thấp ngay cả ở các nền kinh tế mà đã thành công từ quan điểm của ổn định kinh tế vĩ mô và tăng trưởng. Nói cách khác, phương thức chi phối của sự hội nhập của các nền dân chủ mới Mỹ Latin vào nền kinh tế thế giới tước mất một số công cụ chính sách truyền thống cốt yếu của các chính phủ để tăng công ăn việc làm, tăng lương thực tế, và tài trợ các chính sách xã hội tái phân phối.

Kết luận

Những kỳ vọng lý thuyết mà chúng tôi đã nhận được từ phân tích lịch sử so sánh trước đây của chúng tôi về mối quan hệ giữa sự phát triển tư bản chủ nghĩa và dân chủ và từ kinh nghiệm lịch sử của các nhà nước phúc lợi Âu châu đã tỏ ra có tác động mạnh trong việc giải thích những diễn biến hiện thời ở Mỹ Latin. Sự trái ngược hiển nhiên giữa những tiến bộ trong (các hình thức khiêm tốn của) dân chủ hình thức và các trở ngại tăng lên trong việc làm sâu sắc nền dân chủ tới sự tham gia nhiều hơn và việc giải quyết bất bình đẳng xã hội kinh tế tìm thấy một sự lý giải nhất quán nếu chúng ta nhìn vào tác động của ba cụm quyền lực – sự cân bằng quyền lực giai cấp, cấu trúc của nhà nước và các mối quan hệ nhà nước-xã hội, và các cấu trúc quyền lực xuyên quốc gia – và sự tương tác của chúng.

Chúng tôi đã cho rằng trong tình thế hiện thời cân bằng quyền lực giai cấp là không thuận lợi cho việc tiến tới dân chủ tham gia và theo đuổi chính sách dân chủ xã hội nhưng thuận lợi vừa phải cho sự sống sót của dân chủ hình thức, cho dù của một biến thể thiếu sót. Các cải cách neoliberal đã làm tăng sự tập trung kinh tế và như thế đã hết sức tăng cường một số khu vực tư bản, đồng thời chúng đã làm xói mòn cơ sở kinh tế và sức mạnh tổ chức của các giai cấp dưới, đặc biệt của giai cấp lao động. Sự sụt giảm này về sức mạnh tổ chức của các giai cấp dưới đã xóa bỏ một cơ sở cốt yếu cho sự huy động vào việc tham gia chính trị. Một cơ sở quyền lực yếu hơn và sự tham gia thấp hơn về phần những người mà giữ vững lợi ích từ các cải cách tái phân phối, đến lượt, đã để cho những kẻ thắng của chủ nghĩa tân tự do (neoliberalism) không có các đối thủ chính trị hữu hiệu có khả năng tiến hành đến cùng các chính sách dân chủ xã hội.

Cân bằng quyền lực giai cấp tạo thuận lợi cho sự sống sót của dân chủ hình thức, chí ít trong bối cảnh chính trị thuận lợi hiện thời cho dân chủ hình thức, bởi vì cảm nhận đe dọa của các elite là thấp, một phần chính xác bởi vì sức mạnh tổ chức cơ sở của các giai cấp dưới là yếu, và một phần bởi vì các diễn viên kinh tế bên ngoài hùng mạnh kiên quyết ủng hộ mô hình kinh tế mà đã củng cố các thành viên hùng mạnh nhất của elite kinh tế. Tuy vậy, chúng tôi cũng đã cho rằng sự yếu kém của các đảng chính trị đại diện các lợi ích của các giai cấp dưới đã dẫn đến trách nhiệm giải trình yếu, tức là, đến những thiếu sót ngay cả trong dân chủ hình thức.

Cấu trúc nhà nước và các mối quan hệ nhà nước-xã hội đã không phát triển theo hướng thuận lợi cả cho dân chủ hình thức đầy đủ lẫn cho dân chủ tham gia và dân chủ xã hội. Với ít ngoại lệ, đáng chú ý nhất là Chile, các bộ máy quan liêu vẫn còn xa thực hành Weberian, và sự kết hợp của khủng hoảng kinh tế và nhà nước co lại đã làm yếu tư pháp và các cơ quan khác chịu trách nhiệm giám sát nhánh hành pháp. Sự thay đổi trong các mối quan hệ quyền lực trong xã hội dân sự đã làm yếu sự tự trị nhà nước với các lợi ích giai cấp chi phối và đã làm tăng sự tự trị nhà nước với các áp lực giai cấp dưới. Những diễn biến nảy đã có các tác động tiêu cực tương tự lên trách nhiệm giải trình, các khuyến khích cho sự tham gia công dân, và cải cách dân chủ xã hội.

Cuối cùng, trong tình cảnh hiện tại các cấu trúc quyền lực quốc tế có các tác động ngược nhau lên dân chủ hình thức và dân chủ tham gia và xã hội. Chúng cổ vũ dân chủ hình thức, trong khi lại hầu như cản trở sự làm sâu sắc sự ra quyết định dân chủ và hoạch định chính sách nhằm giảm bất bình đẳng xã hội và kinh tế. Hơn nữa, chúng tôi cũng đã nhận diện các hình thức phôi thai của một vòng luẩn quẩn. Các chính sách kinh tế định hướng thị trường được ủng hộ bởi các áp lực quốc tế và bởi các nhóm cử tri trong nước được lợi từ chúng có khuynh hướng không chỉ cắt bớt các chính sách cải cách dân chủ xã hội, mà cũng đe dọa nền tảng của ngay cả dân chủ hình thức.

Chúng ta có thể khái quát hóa từ Mỹ Latin sang thế giới kém phát triển như một tổng thể? Rõ ràng không, trong chừng mực liên quan đến các điều kiện cụ thể. Thế nhưng các lực cơ bản là giống nhau ngang địa cầu. Các nền kinh tế chính trị Phi châu, toàn thể, có vẻ dễ tổn thương hơn nhiều với các áp lực quốc tế, có những sự ủng hộ trong nước yếu hơn cho sự cai quản dân chủ, và có các nhà nước ít hiệu quả hơn Mỹ Latin. Các nước trong khối Soviet trước kia đương đầu với những sự biến đổi kinh tế cấp tiến hơn Mỹ Latin nhiều, trong khi các nhà nước của họ, đặc biệt ở Liên Xô trước kia, còn phải đạt được sự cố kết và sự hiệu quả cần thiết để định hình sự phát triển xã hội và kinh tế, hoàn toàn ngoài các ràng buộc được áp đặt bởi hệ thống quốc tế. Các cơ hội cho dân chủ hình thức có vẻ tốt hơn ở Trung Đông Âu và trong dài hạn thậm chí ở Nam và Đông Á. Nhưng các triển vọng của một sự làm sâu sắc sự tham gia chính sách dân chủ xã hội cả ở đó nữa cũng lệ thuộc vào cùng các nhân tố như ở nơi khác: cân bằng quyền lực trong xã hội dân sự, cấu trúc của nhà nước và các quan hệ nhà nước-xã hội, và tác động của chính trị thế giới và của nền kinh tế thế giới lên sự cân bằng quyền lực bên trong các nước.

Có chăng các lựa chọn chính sách thay thế mà cho phép đồng thời sự tăng trưởng kinh tế và sự phát triển của dân chủ hình thức thành các hình thức dân chủ tham gia hơn và dân chủ xã hội? Và những lựa chọn chính sách thay thế như vậy có một cơ hội để được thực hiện trong bối cảnh của hệ thống kinh tế và chính trị quốc tế? Trong bài báo này chúng tôi hầu như không thể đưa ra các câu trả lời dứt khoát cho các câu hỏi này. Tuy vậy, chúng tôi có thể đưa ra vài nhận xét dựa vào nghiên cứu đang diễn ra của chúng tôi về các cơ hội cho các lựa chọn chính sách dân chủ xã hội thay thế ở châu Âu và Mỹ Latin.36 Những thành công đã qua, những khó khăn hiện tại, và các triển vọng tương lai của cải cách dân chủ xã hội ở châu Âu có một số bài học cho Mỹ Latin. Thứ nhất, cải cách dân chủ xã hội có thể được hoàn thành trong bối cảnh của các rào cản thuế quan thấp, sự phụ thuộc cao vào thương mại, và chủ nghĩa bảo thủ tài khóa. Các nền dân chủ xã hội Âu châu đã thực sự phát đạt trên những điều kiện như vậy, tạo ra cả sự tăng trưởng lẫn sự bình đẳng trong thời gian ba thập kỷ của những thành tựu lớn nhất của họ tiếp sau Chiến tranh Thế giới II. Phái tả và lao động ở Mỹ Latin đã thành công trong việc theo đuổi các chính sách của họ về làm ngang bằng và bảo vệ các lợi ích của công nhân chỉ trong các nền kinh tế được bảo hộ, với thâm hụt tài khóa như một công cụ thường xuyên và, có lẽ, với cái giá của sự tăng trưởng.37 Thứ hai, trong nhiều nước Mỹ Latin thất nghiệp và việc làm bấp bênh trong khu vực phi chính thức góp phần nhiều hơn nhiều vào tính khắc nghiệt của vấn đề bất bình đẳng so với lương thấp trong khu vực chính thức. Thứ ba, các nước Mỹ Latin ở vị thế tốt hơn để cạnh tranh trên cơ sở chi phí lương thấp trong nền kinh tế quốc tế hiện thời so với các nước Âu châu, nhiều nước trong nền kinh tế thế giới, trước hết ở hâu Á và châu Phi, sẽ luôn luôn có khả năng đưa ra lương thấp hơn Mỹ Latin. Vả lại, mục tiêu của phát triển kinh tế cuối cùng là để tăng mức sống của nhân dân. Dựa vào một mô hình kinh tế trên lương thấp là hoàn toàn đối lập với mục tiêu này. Các nước Mỹ Latin phải tìm cách để xây dựng lại năng lực nhà nước nhằm để đầu tư vào các nguồn lực con người và như thế thúc đẩy công ăn việc làm và sự sản xuất có kỹ năng cao hơn, với lương cao hơn. Các mức cao hơn của việc làm và kỹ năng, đến lượt, lại tạo thuận lợi cho việc tổ chức các giai cấp dưới và có thể khởi động một vòng thiện (virtuous cycle) của sự huy động chính trị để ủng hộ các phong trào chính trị cải cách, củng cố nền dân chủ hình thức, và các chính sách dân chủ xã hội mà có thể cho phép các khu vực ngày càng lớn hơn của dân cư để tận dụng hiệu quả các quyền chính trị, dân sự, và xã hội của họ.

Evelyne Huber, Dietrich Rueschemeyer, và John D. Stephens

—–

CHÚ THÍCH

  1. Dietrich Rueschemeyer, Evelyne Huber Stephens. and John D. Stephens,

Capitalist Development and Democracy (Chicago: University of Chicago Press,

1992), p. 10. Sự thay đổi thứ tự mà trong đó tên của chúng tôi xuất hiện là hoàn toàn do sự thay đổi tên của một đồng tác giả của chúng tôi; thứ tự vẫn theo abc và không bày tỏ bất kể tuyên bố nào về những sự đóng góp tương đối của chúng tôi.

  1. Sự tồn tại của hệ thống chính trị mà không đạt được mức dân chủ hình thức đầy đủ đã dẫn đến sự gia tăng nhanh của cái Collier và Mahon gọi là các phạm trù xuyên tâm thứ yếu của dân chủ. Thí dụ, O’Donnell đã tạo ra khái niệm về dân chủ ủy thác (delegative democracy, lưu ý khác representative democracy, dân chủ đại diện) cho các hệ thống mà đặc biệt yếu trong chiều thứ ba nhưng cũng thiếu sót trong chiều thứ tư. David Collier and James E. Mahon, ‘‘Conceptual ‘Stretching’ Revisited,’’ American Political Science Review 87 (December 1993), pp. 845 – 55; Guillermo O’Donnell, ‘‘Delegative Democracy,’’ Journal of Democracy 5 (January 1994), pp. 55 – 69.
  2. Quan điểm của chúng tôi về dân chủ tham gia là quan điểm thuyết công cụ hay quá trình. Chúng tôi cho rằng nó có giá trị, không bởi vì tác động tâm lý học của nó lên các công dân tham gia (tuy nó có thể), mà đúng hơn bởi vì nó ngăn ngừa sự cai trị bởi các thiểu số có đặc quyền và khuyến khích sự đại diện ngang nhau của các lợi ích và các chính sách tái phân phối kinh tế và xã hội. Còn mức tham gia và những sự khác nhau về tỷ lệ tham gia ngang các tầng lớp xã hội là khác biệt về mặt giải tích, chúng có quan hệ theo lối kinh nghiệm; nơi các tỷ lệ tham gia là thấp, những sự khác nhau giữa các tầng lớp xã hội có khuynh hướng cao, với các nhóm xã hội kinh tế thấp hơn ít tham gia hơn.
  3. Theo thuật ngữ của Collier và Mahon, chúng ta đối xử với dân chủ tham gia và dân chủ xã hội như các phạm trù cổ điển thứ yếu mà trong đó chúng ta thêm các yếu tố xác định vào phạm trù chủ yếu của dân chủ hình thức.
  4. “Dân chủ xã hội” sẽ được dùng ở đây theo nghĩa này, như sự chỉ rõ các chính sách thúc đẩy hữu hiệu sự bình đẳng xã hội và kinh tế; từ này không ám chỉ cụ thể đến sự dàn xếp chính trị (Âu châu) mang cùng tên. Về một sự sử dụng tương tự, xem Luiz Carlos Bresser Pereira, Jose´ Maria Maravall, and Adam Przeworski, Economic Reforms in New Democracies (New York: Cambridge University Press, 1993).
  5. O’Donnell, ‘‘Delegative Democracy.’’
  6. Rueschemeyer, Stephens, and Stephens; về một tóm tắt, xem Evelyne Huber, Dietrich Rueschemeyer, and John D. Stephens, ‘‘The Impact of Economic Development on Democracy,’’ Journal of Economic Perspectives, 7 (1993), pp. 71 – 85.
  7. John D. Stephens, The Transition from Capitalism to Socialism (Urbana: Uni- versity of Illinois Press, 1979); Evelyne Huber Stephens and John D. Stephens, The Labor Movement, Political Power, and Workers’ Participation in Western Europe,’’ Political Power and Social Theory, 3 (1982); Walter Korpi, The Democratic Class Struggle (London: Routledge and Kegan Paul, 1983); Gøsta Esping-Andersen, Politics against Markets (Princeton: Princeton University Press, 1985). Korpi nhắc đến cách tiếp cận “các nguồn lực quyền lực.” Chúng tôi thêm chữ “giai cấp” để biểu thị cơ sở giải tích giai cấp của lý thuyết.
  8. Walter Korpi, ‘‘Power, Politics, and State Autonomy in the Development of Social Citizenship,’’ American Sociological Review 54 (1989), pp. 309 – 29; Gøsta Esping-Andersen, The Three Worlds of Welfare Capitalism (Princeton: Princeton University Press, 1990); Evelyne Huber, Charles Ragin, and John D. Stephens, ‘‘Social Democracy, Christian Democracy, Constitutional Struc- ture and the Welfare State,’’ American Journal of Sociology, 99 (1993), pp. 711 –49; Evelyne Huber and John D. Stephens, ‘‘Political Power and Gender in the Making of the Social Democratic Service State,’’ bài báo được chuẩn bị để trình bày tại các cuộc họp của American Political Science Association, San Francisco, September 1996; Evelyne Huber and John D. Stephens, ‘‘Political Parties and Public Pensions,’’ Acta Sociologica, 36 (1993), pp. 309 – 25.
  9. Thí dụ, xem David Cameron, ‘‘Social Democracy, Corporatism, Labour Quiescence, and Representation of Economic Interest in Advanced Capitalist Society,’’ trong John Goldthorpe, ed., Order and Conflict in Contemporary Capitalism (Oxford: Clarendon Press, 1984), pp. 143 – 78; Stephens and Stephens. ‘‘The Labor Movement’’; Douglas A. Hibbs, ‘‘Political Parties and Macro-economic Policy,’’ American Political Science Review 71 (1978).
  10. Peter Lange and Geoffrey Garrett, ‘‘The Politics of Growth,’’ Journal of Politics 47 (1985), pp. 792 – 827; Geoffrey Garrett and Peter Lange, ‘‘Political Responses to Interdependence,’’ International Organization 45 (1991), pp. 539 – 64.
  11. Thí dụ, xem Harry Eckstein, A Theory of Stable Democracy (Princeton: Center of International Studies, Princeton University, 1961); Sidney Verba, Norman Nie, and Jae-on Kim, Participation and Political Equality (New York: Cambridge University Press, 1978); Russell J. Dalton, Citizen Politics (Chatham: Chatham House, 1996).
  12. Hugh Heclo, Modern Social Politics in Britain and Sweden (New Haven: Yale University Press, 1974); Ann Orloff, The Politics of Pensions (Madison: University of Wisconsin Press, 1993); Theda Skocpol, Protecting Soldiers and Mothers (Cambridge: Harvard University Press, 1992); Harold Wilensky, The ‘‘New Corporatism,’’ Centralization. and the Welfare State (Beverly Hills: Sage, 1976).
  13. Peter Katzenstein, Small States in World Markets (Ithaca: Cornell University Press, 1985); Dani Rodrik, ‘‘International Trade and Big Government,’’ bài báo để được bao gồm trong Festschrift vinh danh Peter B. Kenen, được chủ biên bởi Benjamin J. Cohen, cho thấy rằng mối quan hệ dương giữa mở cửa thương mại và chi tiêu chính phủ cho giáo dục, bao cấp, an sinh xã hội và phúc lợi, và đầu tư công là đúng cho một mẫu lớn hơn các nước OECD.
  14. Evelyne Huber and John D. Stephens, ‘‘Intemationalization and the Social Democratic Model,’’ Comparative Political Studies (forthcoming).
  15. Xem, thí dụ, tiểu luận trong Scott Mainwaring, Guillermo O’Donnell, and J. Samuel Valenzuela, eds., Issues in Democratic Consolidation (Notre Dame: University of Notre Dame Press, 1992).
  16. Thí dụ, Philippe Schmitter, ‘‘Consolidation and Interest Systems,’’ trong Larry Diamond and Gary Marks, eds., Comparative Perspectives on Democracy 35 (March – June 1992).
  17. Thí dụ, J. Samuel Valenzuela, ‘‘Democratic Consolidation in Post-Tran- sitional Settings,’’ in Mainwaring, O’Donnell, and Valenzuela, eds.
  18. Guillermo O’Donnell, ‘‘Illusions about Consolidation,’’ Journal of Democracy 7 (April 1996), pp. 34 – 51.
  19. O’Donnell, ‘‘Delegative Democracy.’’
  20. O’Donnell, ‘‘Illusions.’’
  21. Guillermo O’Donnell and Philippe Schmitter, Transitions from Authoritarian Rule: Tentative Conclusions about Uncertain Democracies (Baltimore: The Johns Hopkins University Press, 1986); Alfred C. Stepan, Rethinking Military Politics (Princeton: Princeton University Press, 1988); Scott Mainwaring, ‘‘Transitions to Democracy and Democratic Consolidation,’’ trong Mainwaring, O’Donnell, and Valenzuela, eds.; Stephan Haggard and Robert Kaufman, The Political Economy of Democratic Transitions (Princeton: Princeton University Press, 1995).
  22. Các cuộc phản kháng Chile năm 1983 chứng tỏ rằng, nơi sự thống nhất thắng thế bên trong chế độ độc đoán và sự hoảng loạn chính trị không cung cấp một sự lãnh đạo chặt chẽ cho sự thay đổi chế độ, thì ngay cả các cuộc phản kháng dân chúng rất mạnh đã vẫn không thành công. Manuel Antonio Garreton, “Popular Mobilization and the Military Regime in Chile,” trong Susan Eckstein, ed., Power and Popular Protest (Berkeley: University of California Press, 1989). Giữa những chuyển đổi thành công, mức độ mà các nhà cai trị độc đoán PR (quảng bá cho) ảnh hưởng sâu sắc của họ lên hệ thống chính trị đang nổi lên đã thay đổi một cách đáng kể. Xem Terry Karl, ‘‘Dilemmas of Democratization in Latin America.’’ Comparative Politics 23 (October 1990), pp. 1 – 22; và Terry Karl and Philippe C. Schmitter, ‘‘Modes of Transition in Latin America, Southern and Eastern Europe,’’ International Social Science Journal 128 (May 1991), pp. 269 – 84.
  23. Xem, thí dụ, Jane Jaquette, The Women’s Movement in Latin America, 2nd ed. (Boulder: Westview Press, 1994).
  24. Rueschemeyer, Stephens, and Stephens, Capitalist Development and Democ- racy, pp. 62 – 63, 282 – 83.
  25. Ở đây sự khác nhau giữa các pha chuyển đổi và củng cố (sống sót) là rõ ràng. Sự cân bằng của áp lực thấp và cảm nhận đe dọa cực thấp sẽ thuận lợi, không phải cho sự thay đổi chế độ, mà cho sự sống sót dân chủ.
  26. O’Donnell and Schmitter, Transitions; Adam Przeworski. ‘‘The Games of Transition,’’ trong Mainwaring, O’Donnell, and Valenzuela, eds.
  27. Về một nghiên cứu toàn diện về các ảnh hưởng quốc tế lên dân chủ hóa, kể cả các nhân tố kinh tế, đế quốc, ý thức hệ, và domino, xem Paul W. Drake, ‘‘The International Causes of Democratization, 1947 – 1990,’’ trong Paul W. Drake and Matthew McCubbins, eds., The Origins of Liberty (forthcoming).
  28. Verba, Nye, and Kim, Participation.
  29. Tất nhiên, Jamaica không phải là một nền dân chủ mới, nhưng nó đã trải qua cùng động học và cùng hậu quả trong chừng mực liên quan đến điểm này.
  30. Jonathan Fox, ‘‘The Difficult Transition from Clientelism to Citizenship,’’ World Politics 46 (January 1994), pp. 151 – 84.
  31. Các cải cách neoliberal đã làm yếu các nghiệp đoàn chủ yếu bằng công ăn việc làm bị co lại trong các khu vực được tổ chức tốt về mặt truyền thống, chủ yếu là khu vực chế tác và khu vực công.
  32. Mexico (vẫn) không phải là một nền dân chủ mới, nhưng các bài học từ các chính sách kinh tế của nó là đáng học.
  33. Alvaro Diaz, ‘‘Restructuring and the New Working Classes in Chile,’’ Discussion Paper 47 (Geneva: United Nations Research Institute for Social Development, 1993); John Sheahan, Conflict and Change in Mexican Economic Strategy (La Jolla: University of California, San Diego, Center for U.S.-Mexican Studies, 1991).
  34. Diaz, ‘‘Restructuring’’; ECLAC, Social Panorama of Latin America 1994 (Santiago: United Nations Economic Commission for Latin America and the Caribbean, 1994).
  35. Evelyne Huber, ‘‘Options for Social Policy in Latin America,’’ trong Gosta Esping-Andersen, ed., Welfare States in Transition (London: Sage, 1996); Huber and Stephens, ‘‘Internationalization.’’
  36. Cf. Bresser Pereira, Maravall, and Przeworski, Economic Reforms.

Biên tập: Lisa Anderson

Dịch: Nguyễn Quang A

Thuộc tủ sách SOS2

VRNs đăng với phép của dịch giả

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s