Chuyển đổi sang dân chủ (6): Huyền thoại về điều độ: Đối đầu và xung đột trong lúc chuyển đổi Dân chủ

VRNs (01.03.2015) – Hà Nội – Trong một tiểu luận 1970 mà đã đánh dấu làn sóng mới của việc viết về dân chủ hóa, Dankwart A. Rustow đã bàn cãi một cách thuyết phục rằng dân chủ là thành quả của “sự lựa chọn” và “quyết định tỉnh táo” về phía các elite chính trị.1 Nhận thức này có vẻ được chia sẻ rộng rãi, vì văn liệu hiện tại của chúng ta đầy các sự sáng suốt chiến thuật về các elite có thể được xui khiến thế nào để chọn dân chủ hơn là các hệ thống chính trị thay thế khả dĩ khác. Tiểu luận này tập trung vào các chiến thuật của giai đoạn chuyển đổi, được xác định như thời gian giữa sự sụp đổ của chế độ độc tài và sự kết thúc của các cuộc bầu cử dân chủ toàn quốc đầu tiên. Nó khảo sát cái tôi gọi là “lý lẽ điều độ”: rằng các tổ chức cấp tiến dân chúng đe dọa sự chuyển đổi dân chủ nếu chúng không tiết chế các đòi hỏi và ứng xử của của chúng khi thời điểm elite lựa chọn đến gần. Các biến thể ngầm và rõ rệt của lý lẽ điều độ được phổ biến rộng rãi, và tiểu luận này đánh giá sự phải trái của chúng theo ánh sáng của bằng chứng từ Iberia, Mỹ Latin, và châu Á. Nó kết luận bằng sự giải thích khi nào lý lẽ điều độ có và không có hiệu lực.

Huy động Dân chúng trong Văn liệu

Văn liệu hiện thời về dân chủ hóa giành sự chú ý cho các tổ chức dân chúng ít hơn nhiều so với cho các elite chính trị. Như thế, vai trò của các tổ chức dân chúng trong quá trình chuyển đổi vẫn là một chủ đề hơi lẫn lộn. Nhiều công trình lý thuyết lớn về dân chủ hóa gợi ý rằng sự huy động dân chúng là quan trọng cho sự thay đổi chế độ, nhưng ngay cả lời xác nhận đơn giản này không được chia sẻ một cách phổ quát. Một số học giả cho rằng một “đợt bột phát dân chúng trong thời gian chuyển đổi tuyệt đối không là một hằng số,”2  trong khi những người khác cho rằng “sự huy động xã hội chắc chắn rất cần thiết.”3 Mặc dù hầu hết sự khái quát hóa về vai trò của quần chúng trong chuyển đổi sang dân chủ chẳng được chia sẻ rộng rãi cũng không được định rõ, tuy vậy nổi lên vài lời xác nhận.

Một lời xác nhận cho rằng sự huy động dân chúng quá nhiều và áp lực quá nhiều từ dưới có thể làm hỏng các cơ hội cho dân chủ, mà tôi đã gọi là lý lẽ điều độ. Mặc dù kết luận rằng sự tham gia dân chúng đôi khi làm hại hơn là tăng cường dân chủ hóa là khó chịu về mặt chính trị, tuy vậy nó được rút ra một cách rộng rãi. Thí dụ, Terry Karl viết rằng, “không nền dân chủ chính trị ổn định nào đã là kết quả từ các chuyển đổi chế độ mà trong đó các diễn viên quần chúng đã có được sự kiểm soát các giai cấp cai trị truyền thống ngay cả một cách tạm thời.”4 Myron Weiner viết rằng những áp lực từ cánh tả thường có tác động ít nhất cho dân chủ hóa bởi vì chúng thường xuyên kích động “chỉ . . . chủ nghĩa độc đoán được tăng thêm,”5  và Samuel Huntington cho rằng “các chế độ dân chủ lâu bền đã hiếm khi, nếu có bao giờ, được lập nên bởi hành động quần chúng.”6 Daniel Levine kết luận rằng bài học “hiển  nhiên” từ  kinh  nghiệm  là, “những chuyển đổi bảo thủ là lâu bền hơn.”7 Thậm chí Rueschemeyer, Stephens, và Stephens, những người mà cho rằng dân chủ là kết cục của sự huy động giai cấp lao động, khẳng định rằng các đảng quần chúng cấp tiến có nhiều khả năng hơn để “gợi lên các phản ứng phản dân chủ, phòng thủ mạnh.”8

Sự sợ các đám đông nằm tại gốc rễ của lý lẽ có tính cảnh báo này. Đối với một số người, sự sợ này nổi lên từ niềm tin chắc rằng toàn bộ công dân nói chung có thể không có các giá trị mà một nền dân chủ bền vững đòi hỏi. Thí dụ, Juan Linz và Larry Diamond cho rằng ở nhiều quốc gia Mỹ Latin “sự lựa chọn dân chủ bởi các elite chính trị đã rõ ràng đi trước . . . sự hiện diện của các giá trị dân chủ giữa công chúng.”9 Trong những trường hợp khác lý lẽ phát triển từ một sự nhận biết rằng các nhóm chính trị chủ chốt nuôi dưỡng một nỗi sợ chính các đám đông và thường hành động trên nó. Robert Kaufman cho rằng “sự đe dọa từ dưới . . . là mẫu số chung thấp nhất và mối ràng buộc cố kết quan trọng nhất bên trong các liên minh quan liêu-độc đoán.”10  Nhận xét của Kaufman, giống các nhận xét khác được trích ở trên, có những ngụ ý chiến thuật rõ ràng: nếu một sự chuyển đổi phải được tiến hành thành công, “sự đe dọa từ dưới” phải bị tiết chế bằng cách nào đó.

Tất nhiên, những gì tạo thành “sự đe dọa từ dưới” thay đổi từ một chế độ sang chế độ khác, hệt như “chủ nghĩa cực đoan” nằm trong con mắt của người ngắm. Trong một số trường hợp, những áp lực đe dọa nhất sẽ đến từ các sinh viên và các nhóm đô thị tương đối có học khác. Trong các trường hợp khác, sự đe dọa chủ yếu sẽ đến từ đối lập có vũ trang với một cơ sở nông thôn, các nhóm dưới-dân tộc chủ nghĩa, hay lao động có tổ chức. Tôi dùng thuật ngữ “các tổ chức dân chúng” để chỉ một tập hợp không elite lắm vẻ nhưng là các diễn viên có tổ chức một cách chính thức mà được các elite hiện hành cảm thấy như cực đoan. Các diễn viên này là những ai về mặt xã hội cần phải được xác định theo ngữ cảnh.

Những thảo luận tập trung vào các tổ chức lao động là đặc biệt tường minh về sự cần thiết cho sự điều độ. Adam Przeworski cho rằng “sự ngoan ngoãn và kiên nhẫn hoàn toàn về phía công nhân có tổ chức là cần thiết cho một sự biến đổi dân chủ thành công” và nhắc nhở chúng ta rằng “hệ thống dân chủ đã được củng cố ở Bỉ, Thụy Điển, Pháp, và Anh quốc chỉ sau khi công nhân có tổ chức đã bị thất bại trầm trọng trong các cuộc đình công đại chúng và đã trở nên ngoan ngoãn như một kết quả.”11  Samuel Valenzuela đưa ra một điểm tương tự. Ông viết rằng sự huy động lao động có thể “hoạt động như con dao hai lưỡi và cho phép một sự đảo ngược của quá trình tái dân chủ hóa” và cảnh cáo rằng những làn sóng “đình công và biểu tình có thể dẫn đến một khủng hoảng kéo dài [và] có thể dẫn các nhà sử dụng lao động đến xem xét lại cam kết của họ . . . để ủng hộ quá trình thay đổi dân chủ.”12

Valenzuela nói trực tiếp đến vấn đề chiến thuật. Ông cho rằng “hỗn hợp lý tưởng” cho dân chủ hóa là “sự huy động lao động cao tại các thời điểm cốt yếu của sự sụp đổ của các định chế độc đoán,” tiếp theo bởi “sự kiềm chế khi chương trình nghị sự chính trị chuyển sang ủng hộ sự tái dân chủ hóa.”13 Những cách hiểu này và khác về dân chủ hóa gợi ý rằng sự huy động công dân là có kết quả, thậm chí cốt yếu, nhưng điều đó cuối cùng nguy hiểm nếu nó tiếp tục quá lâu hoặc với cường độ quá nhiều.14

Nhưng bao nhiêu là quá nhiều? Guillermo O’Donnell và Philippe Schmitter đưa ra cho chúng ta một số chỉ dẫn trong nghiên cứu bây giờ trở thành kinh điển về những chuyển đổi không chắc chắn. Họ cho rằng hoạt động tăng lên là hữu ích cho đến một điểm nhưng nó sẽ kích một phản ứng độc tài “nếu bạo lực phổ biến trở lại” hoặc nếu nó đe dọa “cấu trúc chỉ huy dọc của các lực lượng vũ trang, tính toàn vẹn lãnh thổ của nhà nước-quốc gia, vị thế của đất nước trong các liên minh quốc tế, [hoặc] . . . các quyền sở hữu làm cơ sở cho nền kinh tế tư bản chủ nghĩa.” Nếu đạt một trong những cực độ này, họ viết, “thì ngay cả các diễn viên chế độ ôn tồn sẽ kết luận rằng các chi phí của sự chịu đựng là lớn hơn các chi phí của sự đàn áp” và phong trào ủng hộ dân chủ sẽ thất bại.15

Thông điệp mang tính cảnh cáo này tương ứng với lý lẽ của Robert Dahl trong Polyarchy, và hấp dẫn về bản chất.16 Có ý nghĩa để phân biệt giữa số lượng hoạt động đối lập và nội dung của nó. Cũng có ý nghĩa để cho rằng sự có khả năng xảy ra của dân chủ giảm đi khi các chi phí của sự chịu đựng tăng lên. Nhưng các chi phí của sự chịu đựng được tính thế nào? Để trả lời câu hỏi này chúng ta phải nghĩ một cách có hệ thống về sự huy động dân chúng và sự đáp lại elite trong các trường hợp chuyển đổi thành công cụ thể.

Những thực tế của Chiến thuật Chuyển đổi ở Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha

Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha cung cấp những chỗ tốt để bắt đầu câu hỏi của chúng ta. Chúng đã là giữa các chuyển đổi đầu tiên của “làn sóng thứ ba” và như thế đã có một tác động đặc biệt lên tư duy của chúng ta về chuyển đổi nói chung. Chúng cũng hữu ích bởi vì chúng được cho là đại diện của hai con đường khác nhau đến chuyển đổi dân chủ. Bất kỳ tính chất chung nào chúng ta thấy trong các trường hợp tương phản này chắc là được chia sẻ bởi một phổ rộng của các trường hợp khác.

Bồ Đào Nha

Chuyển đổi Bồ Đào Nha, bắt đầu trong tháng Tư 1974, đã vi phạm hầu hết các tham số cảnh cáo do văn liệu về dân chủ hóa đưa ra. Các giai cấp lao động còn xa mới đã ngoan ngoãn. Quyền sở hữu tư bản chủ nghĩa đã bị thách thức một cách thành công trên một quy mô rất rộng. Vị thế của đất nước trong các liên minh quốc tế đã là chủ đề của cuộc tranh luận căng thẳng, và sự phi thực dân hóa đã làm tan vỡ tính toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia. Cấu trúc chỉ huy dọc của các lực lượng vũ trang đã biến đổi hoàn toàn. Tuy nhiên, nền dân chủ đã dò dẫm. Các diễn viên riêng lẻ đã có thể kết luận rằng các chi phí của sự chịu đựng đã lớn hơn chi phí của sự đàn áp, nhưng chẳng ai đã thành công trong việc đảo ngược sự chuyển đổi.

Bởi vì chi tiết của chuyển đổi Bồ Đào Nha đã không được biết kỹ, cần bàn thêm chi tiết một chút các điểm này. Giai cấp lao động Bồ Đào Nha đã làm cho thế giới ngạc nhiên bằng hướng dẫn các sự chiếm đoạt tài sản ồ ạt nhất ở châu Âu kể từ Cách mạng Nga. Công nhân đã chiếm hơn 23 phần trăm đất trang trại của quốc gia trong ít hơn mười hai tháng và đã chiếm quyền kiểm soát của hơn 940 doanh nghiệp công nghiệp.17 Hai ngàn ngôi nhà bị chiếm đoạt trong hai tuần lễ tiếp sau sự sụp đổ của chế độ độc tài, và 2.500 căn hộ bị chiếm chỉ riêng ở Lisbon trong tháng Hai 1975.18

Các chính phủ lâm thời đã hợp pháp hóa sự chiếm đoạt tài sản thông qua những sự ủng hộ pháp lý đa dạng và cuối cùng đã quốc hữu hóa các ngân hàng, các hãng bảo hiểm, và các ngành công nghiệp cơ bản.19 Hiến pháp, được thông qua bởi quốc hội lập hiến được bầu một cách tự do tháng Tư 1975, đã hứa hẹn một “xã hội phi giai cấp” và “sự biến đổi các quan hệ sản xuất và tích tụ tư bản chủ nghĩa.”20

Hệt như các quan hệ tài sản đã được tái cơ cấu một cách triệt để, các biên giới lãnh thổ của nhà nước Bồ Đào Nha cũng thế. Chế độ độc tài Salazar-Caetano đã làm hết sức để thuyết phục những người Bồ Đào Nha đại lục rằng các thuộc địa Bồ Đào Nha là một phần không thể tách rời của quốc gia Bồ Đào Nha. (Các thuộc địa này chính thức được gọi là  “các tỉnh hải ngoại.”) Thế nhưng những người kiểm soát các chính phủ lâm thời sau tháng Tư 1974 đã trao độc lập cho Guinea, Mozambique, Cape Verde, và Saˆo Tome´ -Prı´ncipe trong vòng một năm lên nắm quyền và đã rút khỏi Angola trong tháng Mười Một 1975. Hàng triệu dollar tài sản đã bị mất, và 800.000 người tị nạn đã tràn vào Bồ Đào Nha đại lục [khoảng 10% dân số khi đó!].21

Cấu trúc chỉ huy dọc của các lực lượng vũ trang đã biến đổi triệt để như phần của quá trình chấm dứt các cuộc chiến tranh thực dân. Các sĩ quan trung cấp mà đã lật đổ chế độ độc tài đã bày ra những sự thanh trừng rộng nhất của bất cứ nhà nước dân chủ nào trong làn sóng thứ ba, kể cả của đông Âu. Đợt thứ nhất của các cuộc thanh trừng đã ảnh hưởng đến những người cực đoan, ủng hộ chế độ cũ, đợt hai đã bao gồm các nhà trung dung (centrist) cấp cao nhất.22 Ngay cả Tướng Anto´nio de Spinola, người đứng đầu chính phủ lâm thời đầu tiên, đã bị buộc từ chức trong tháng Chín 1974. Một sự tan vỡ đột ngột về kỷ luật đã xảy ra trong đội ngũ cấp thấp khi những lính được tuyển mộ cấp tiến đã tổ chức một phong trào cho dân chủ hóa các lực lượng vũ trang trong tháng Chín 1975.23 Sự chính trị hóa mạnh của quân đội đã gây ra sự thăng trầm của sáu chính phủ lâm thời.24

Mặc dù các tuyên bố chính thức đã nhấn mạnh rằng Bồ Đào Nha không thay đổi địa vị của nó như một thành viên trung thành của NATO, các cường quốc phương tây đã vô cùng lo lắng về lòng trung thành của Bồ Đào Nha với các đồng minh cũ của nó.25 Những sự rối loạn bên trong quân đội Bồ Đào Nha, sự hiện diện Cộng sản mạnh mẽ trong các nội các của các chính phủ Bồ Đào Nha lâm thời, và các cuộc biểu tình dân chúng thi thoảng chống lại NATO đã khiến Henry Kissinger ủng hộ hành động che đậy chống lại Phong trào các Lực lượng Vũ trang. Hành động che đậy được tiến hành đến đâu là vẫn chưa rõ, nhưng chúng ta có biết rằng các cường quốc tây phương khác cũng đã sợ lòng trung thành của Bồ Đào Nha và rằng quốc gia này đã bị tống ra khỏi nhóm lập kế hoạch hạt nhân của NATO.26

Sự duyệt lại ngắn gọn này về trường hợp Bồ Đào Nha minh họa rằng sự chuyển đổi dân chủ có thể, quả thực, sống qua được các áp lực cấp tiến từ dưới và rằng chúng thậm chí sống qua được các chính phủ lâm thời cấp tiến. Nhưng có phải Bồ Đào Nha đơn giản là một ngoại lệ của quy luật? Một cái nhìn kỹ hơn vào các chuyển đổi thành công khác gợi ý rằng các yếu tố cấp tiến của xã hội dân sự có một sự hiện diện dữ dội và kéo dài hơn nhiều trong vở kịch dân chủ hóa so với chúng ta đã tin lúc ban đầu.

Tây Ban Nha

Tây Ban Nha là đặc biệt đáng làm bài học trong việc hiểu các giới hạn của lý lẽ điều độ bởi vì nó thường được xem như mô hình của sự chuyển đổi hòa bình và “được hiệp ước.” Các hiệp ước elite đã chắc chắn là chìa khóa cho định chế Tây Ban Nha, nhưng các hiệp ước này đã được rèn đúc trong một tình huống mà trong đó chủ nghĩa cực đoan và sự điều độ đã tồn tại cùng lúc. Luật đảm bảo các cuộc bầu cử tự do đã được thông qua bởi Cortes Francoist trong tháng Mười Một 1976 và đã được chuẩn y bởi một cuộc trưng cầu dân ý trong tháng Mười Hai cùng năm. Tuy vậy, năm 1976 cũng đã là một năm của bạo lực lan rộng và sự huy động không ngừng. Các học giả đã đặt sự nhấn mạnh nhiều về tính chất tương đối hòa bình của chuyển đổi Tây Ban Nha đến mức dễ quên các yếu tố dữ dội của nó.

Thực ra, bạo lực đã tràn lan ở Tây Ban Nha hơn ở Bồ Đào Nha “cách mạng” hơn nhiều. ETA (Euskadi Ta Askatasuna), cánh vũ trang của phong trào ly khai xứ Basque, đã cung cấp một nguồn của “bạo lực lan rộng” suốt thời kỳ chuyển đổi và đã đe dọa “tính toàn vẹ lãnh thổ của nhà nước quốc gia.” Thế mà Cortes vẫn thông qua Luật về Cải cách Chính trị chỉ mười tám tháng sau sự tuyên bố tình trạng khẩn cấp ở xứ Basque và chỉ mười ba tháng sau năm kẻ ly khai bị hành hình công khai tiếp sau một mùa hoạt động khủng bố và đánh bom. Đa số người Basques đã không ủng hộ bạo lực ETA nhưng đã phản đối hoàn toàn cách chính quyền trung ương xử lý các nhà ly khai. Khi năm dân chủ hóa bắt đầu, khoảng hai phần ba dân cư xứ Basque đã đình công phản đối chống lại sự đàn áp cảnh sát, và ngày 3 tháng Ba năm công nhân đã bị giết khi cảnh sát bắn vào một đám đông của các nhà dân tộc chủ nghĩa Basque biểu tình ở Vitoria.27 Vào đầu tháng Mười, chỉ một tháng trước việc thông qua Luật Cải cách Chính trị, ETA đã sát hại người đứng đầu hội đồng tỉnh. Vào ngày 11-12-1976, GRAPO, một tổ chức cách mạng khác, đã bắt cóc chủ tịch hội đồng nhà nước và thống sứ của hội đồng tối cao của tòa án quân sự.2

Bạo lực đã không giảm với trưng cầu dân ý thành công về cải cách chính trị trong tháng Mười Hai 1976. Trong cái đã được biết đến như Tuần Lễ Đen, vào tháng Một 1977, hai sinh viên, năm luật sư, và năm ảnh sát đã bị bắn gục trong các sự cố tách biệt trên đường phố thủ đô.29 Giữa sự thông qua các luật cải cách và các cuộc bầu cử tự do đầu tiên của quốc gia, Tây Ban Nha đã trải qua “một mưu toan làm bất ổn có quy mô toàn bộ từ những kẻ khủng bố” thuộc cả cánh tả và cánh hữu.30 Mặc dù mưu mô đã không thành công, nó đã được tháo trong toàn bộ sức mạnh và có tầm quan trọng lớn cho các kết luận của chúng ta về sự cần thiết của sự điều độ. Các số liệu thống kê cho thấy rằng bạo lực đã không giảm khi sự chuyển đổi tiến triển. Việc bắt cóc đã tăng đều đặn suốt 1979, như số người dân bị thương trong bạo lực chính trị. Các vụ giết chóc chính trị đã tăng đều đặn suốt năm 1980.31

Giai cấp lao động Tây Ban Nha đã chẳng bao giờ thách thức các quan hệ sở hữu như các giai cấp lao động đã làm ở Bồ Đào Nha, nhưng họ đã vượt quá láng giềng Bồ Đào Nha trong mức huy động đình công của họ. Chỉ riêng trong năm 1976, hơn 3,6 triệu công nhân Tây Ban Nha đã tham gia trong các cuộc đình công tác động đến tất cả các trung tâm công nghiệp lớn và các dịch vụ công cộng ở Madrid và Barcelona. Sự huy động công nhân đã tiếp tục sâu vào năm tiếp theo.32

Sự tồn tại của các lực lượng phản động nào có thể bị cho là cực đoan đã không giới hạn ở công đoàn và các giới ly khai. Đảng xã hội Tây Ban Nha (PSOE) đã nổi lên từ chế độ độc tài với một phái cấp tiến lớn tiếng. Mặc dù đảng đã nuôi dưỡng một hình ảnh ôn hòa trong một số khung cảnh để thu hút sự ủng hộ của giai cấp trung lưu, nó cũng đã phát đi những tín hiệu mạnh mẽ mà những kẻ phản động có thể hiểu như đe dọa cả “các liên minh” lẫn “các quyền tài sản.” Lập trường của đảng về các liên minh quốc tế đã là lập trường “trung lập tích cực.” Nó đã tìm cách để tách Tây Ban Nha ra khỏi các mối ràng buộc song phương với Hoa Kỳ và khỏi vai trò trước đây của nó trong liên minh Đại Tây Dương.33 Các dvf chính trị mà sợ rằng dân chủ hóa sẽ đe dọa các mối quan hệ tài sản tư bản chủ nghĩa đã có thể dễ dàng tìm thấy sự biện minh trong các văn kiện đảng. Theo các nguyên lý chính thức của đảng, được trình bày rõ ràng trong tháng Mười Hai 1976, các đảng viên xã hội đã khát khao “chiếm quyền lực chính trị cho giai cấp lao động [và] sự biến đổi sở hữu cá nhân hay công ty về các tư liệu lao động thành sở hữu tập thể, xã hội hay chung.”34 Khi thời gian trôi đi, các yếu tố cấp tiến trong PSOE đã hoặc biến đổi hay bị khuất phục, nhưng tại lúc chế độ tan rã, đã không có đảm bảo nào rằng sự thay đổi này sẽ xảy ra. Như thế, ngay cả ở Tây Ban Nha, mô hình về chuyển đổi được kiểm soát, các lực lượng “cực đoan” đã còn xa mới thiếu vắng.

Hai chuyển đổi rất khác nhau này đã xảy ra trong bối cảnh của sự huy động dân chúng cấp tiến và chủ nghĩa cực đoan được cảm nhận, nhưng sẽ là sai lầm để gạt bỏ hoàn toàn giả thuyết điều độ. Có những trường hợp rõ ràng mà trong đó chủ nghĩa cực đoan và sự huy động quần chúng đã kích việc sắp đặt một elite độc tài cưỡng bức hơn. Những sự đảo ngược của tự do hóa ở Chile trong năm 1983 và của tự do hóa nhẹ hơn ở Argentina trong năm 1981 minh họa rằng các phản ứng cánh hữu là không phải hoang đường.35 Thế nhưng các trường hợp phủ định này bản thân chúng không tạo ra một lý lẽ ủng hộ sự điều độ. Một lý lẽ như vậy có thể được ủng hộ chỉ bằng sự thu thập một số lớn các trường hợp mà trong đó các chế độ dân chủ đã thực sự thay thế chế độ độc tài và sau đó chỉ ra rằng trong mỗi trường hợp sự huy động dân chúng đã tăng lên, lên đỉnh, và trở nên điều độ trước khi chuyển đổi thành công đã hoàn tất. Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha rõ ràng đã không theo hình mẫu này. Giả thuyết điều độ có được duy trì tốt hơn bởi các trường hợp đến muộn hơn trong làn sóng thứ ba?

Các Viễn cảnh So sánh

Chuỗi dữ liệu thời gian ngang quốc gia cho một hiện tượng thay đổi như “sự huy động dân chúng” là không sẵn có, nhưng chúng ta có thể học được gì đó từ sự phân tích dữ liệu đình công, bởi vì lao động có tổ chức thường được cho là một nguồn chủ yếu của các đòi hỏi “thái quá” và sự gây bất ổn.

Bảng 6.1 cung cấp bằng chứng gợi ý nào đó về số các cuộc đình công trong sáu quốc gia mà ở đó chế độ độc tài đã chịu thua các nền dân chủ hình thức giữa 1977 và 1989.36 Các quốc gia này khác nhau về mức phát triển, tuổi thọ của chế độ, và văn hóa chính trị. Thế nhưng sự huy động công nhân đã giảm đáng kể trước dân chủ hóa trong chỉ một trường hợp. Trừ Ecuador ra, nơi một chế độ quân sự cánh tả bị hất cẳng, sự huy động công nhân hoặc đã tăng lên hoặc đã cực kỳ cao khi các cuộc bầu cử dân chủ đầu tiên được tổ chức. Nếu chúng ta xem xét số công nhân tham gia vào các cuộc đình công này, hình mẫu vẫn như thế (xem bảng 6.2).

Bằng chứng này không cho thấy rằng các công nhân đã trở nên ôn hòa hơn khi các chuyển đổi thành công được thương lượng. Thay vào đó, nó gợi ý rằng một sự chuyển đổi thành công sang dân chủ không đòi hỏi sự điều độ về phía giai cấp lao động. Nếu chúng ta ngó kỹ vào chi tiết của các trường hợp, chúng ta thấy rằng có nhiều khả năng xoay xở cho các áp lực “cực đoan” hơn văn liệu về dân chủ hóa khiến chúng ta tin vậy.

Peru

Sự chuyển đổi từ chế độ độc tài ở Peru trong 1977-78 cung cấp bằng chứng thuyết phục rằng các nền dân chủ có thể được xây dựng giữa bạo lực và các mức cao của sự huy động dân chúng. Nền dân chủ Peru đã bị phá hủy bởi một cuộc đảo chính tổng thống năm 1992 và như thế đã không được củng cố, nhưng chuyển đổi mà bắt đầu trong cuối các năm 1970 đã tạo ra một chế độ kéo dài gần mười bốn năm. Sự chuyển đổi Peru sang dân chủ đã bắt đầu vào ngày 28 tháng Bảy 1977, khi Francisco Morales Bermúdez tuyên bố rằng các lực lượng vũ trang sẽ tổ chức các cuộc bầu cử tự do cho một quốc hội dân sự lập hiến vào năm tiếp theo. Tuyên bố đã đến ít hơn mười ngày sau khi “toàn bộ quốc gia bị đóng cửa bởi… [cuộc tổng đình công] đồ sộ nhất trong lịch sử nước này”37

 150225005

Lời hứa về các cuộc bầu cử tự do đã không cắt bớt làn sóng tăng lên của sự huy động dân chúng. Ngược lại, trong tháng Năm 1978, ít hơn một tháng trước các cuộc bầu cử được dự kiến, chính phủ quân sự đã tuyên bố tình trạng khẩn cấp sau các làn sóng đình công và đánh bom để lại hai mươi người chết và năm mươi người bị thương trong một tuần lễ duy nhất.

Tuy nhiên các cuộc bầu cử đã xảy ra ngày 18 tháng Sáu 1978, và đã cho thấy một sự chuyển đột ngột sang phái tả Marxist. Các đảng Marxist đã thu được 29 phần trăm số phiếu, vượt xa mức 5 phần trăm mà họ đã đạt được trong quá khứ (và bất chấp sự thực rằng chính phủ đã bắt giữ và lưu đày nhiều lãnh tụ phái tả, đã đóng cửa nhiều xuất bản phẩm có định hướng chính trị, và đã ra sắc lệnh rằng những người không biết đọc biết viết sẽ không được phép bỏ phiếu.)

150225006

Việc triệu tập quốc hội lập hiến cũng đã không cắt bớt làn sóng tăng lên của sự huy động dân chúng. Các cuộc đình công của các giáo viên, nhân viên y tế, và các thợ mỏ bị yếu sức đã được định thời gian một cách chủ ý để trùng với các cuộc tranh luận quốc hội. Mười tỉnh đã được đặt dưới tình trạng khẩn cấp trong tháng Tám 1978 khi quốc hội vừa mới bắt đầu. Trong  tháng Mười các thành phố của quốc gia đã bị rung chuyển bởi sự nổi loạn nhiều hơn, nhưng quốc hội đã tiếp tục họp.

Mặc dù Sendero Luminoso đã có không hơn ba trăm thành viên khi quân đội bắt đầu rút lui khỏi quyền lực, nó đã bắt đầu rồi để bắn các quan chức mà đã thử bước vào cái được (ngay cả khi đó) biết đến như “lãnh thổ Senderista.”38 Trong năm 1980, năm bầu cử tổng thống hậu độc tài đầu tiên của quốc gia, Sendero đã tung ra 505 cuộc tấn công khủng bố.39 Sendero Luminoso rõ ràng đã không đóng một vai trò trung tâm trong các tính toán elite lúc đó,40  nhưng sự thực rằng nhóm này đã không được xem là nghiêm trọng ủng hộ lý lẽ rằng chỉ sự tồn tại của các lực lượng cấp tiến không đe dọa chuyển đổi từ chế độ độc tài sang dân chủ.

Philippin

Sự chuyển đổi từ chế độ độc tài tại Philippin cho thấy một nền dân chủ   bầu cử có thể được xây dựng ra sao trong một nhà nước với ngay cả sự hiện diện du kích lớn hơn. Phong trào “Quyền lực của Nhân dân” mà đã lật đổ chế độ độc tài Marcos đã là một liên minh của các lực lượng ôn hòa được rút ra từ tất cả các giai cấp của xã hội Philippin. Nhưng liên minh đã được tôi luyện tại một dịp khi một nhóm dứt khoát không ôn hòa, Quân đội Nhân dân Mới (NPA), đã mở rộng nhanh chóng. NPA đã được thành lập trong năm 1968 như cánh vũ trang của Đảng Cộng sản Philippines. Từ khởi đầu của nó, mục tiêu cuối cùng của nó đã là lật đổ nhà nước tư bản chủ nghĩa Philippine. Phương pháp của nó, giống phương pháp của Sendero Luminoso, là sự huy động có vũ trang của những người nghèo nông thôn.

NPA đã không nao núng trong cam kết của nó đối với đấu tranh vũ trang khi khả năng của một sự hất cẳng Marcos một cách hòa bình đã xuất hiện. Đảng Cộng sản Philippine đã tẩy chay các cuộc bầu cử tổng thống tháng Hai 1986, tuyên bố rằng các nhà độc tài không thể bị hất cẳng thông qua việc bỏ phiếu và trong bất cứ tình huống nào Corazon Aquino không khác Marcos mấy.41 NPA đã chứng tỏ thành công đặc biệt bên ngoài bất cứ liên minh nào của các nhóm ôn hòa và đã có vài sáng kiến tổ chức để thay đổi tiến trình. Nó đã tăng lên mười lần sau khi tuyên bố thiết quân luật năm 1972 và đã có được sự trung thành của 23.000 phiến quân vào 1986.42  Trên năm mươi đơn vị du kích của nó đã thâm nhập vào 32 phần trăm barangay* của quốc gia.43 Trong năm 1985, đúng khi phong trào ôn hòa cho dân chủ đang thành hình, NPA đã tung ra 5.000 cuộc tấn công dữ dội.44

NPA rõ ràng đã là một lực lượng “cực đoan” khi chế độ Marcos bước vào cuộc khủng hoảng cuối cùng của nó. Nó cũng đã là một lực lượng tương đối mạnh: các chuyên gia tình báo Hoa Kỳ đã tin rằng nó đã có thể thực sự nắm quyền kiểm soát bằng vũ lực nhà nước Philippine vào năm 1990.45 Thế mà các diễn viên chính trị ôn hòa, ủng hộ dân chủ đã thành công trong việc tôi rèn một nền dân chủ bầu cử. Sự tồn tại của các lực lượng không thỏa hiệp trong sự đối lập đã không dẫn đến thắng lợi của sự phản công.

Hàn Quốc

Sự thiết lập nền dân chủ bầu cử ở Hàn Quốc cho một sự minh họa cuối cùng về dân chủ hóa thành công bất chấp các mức cao của sự huy động dân chúng và bạo lực lan rộng.

Việc xây dựng nền dân chủ bầu cử của Hàn Quốc đã bắt đầu vào ngày 29 tháng Sáu 1987, khi Roh Tae Woo, người kế vị được chỉ định của Chun Doo Hwan, tuyên bố rằng ông chấp nhận các đòi hỏi của đối lập chính trị và cho phép các cuộc bầu cử phổ thông trực tiếp cho chức tổng thống. Hành động của Roh đã không phải là kết quả của sự thỏa hiệp và sự mặc cả giữa các elite chính trị. Ngược lại, nó đã đến như một sự ngạc nhiên hoàn toàn đối với đối lập và đã tiếp theo ba tuần lễ náo loạn nghiêm trọng mà trong đó hàng chục ngàn sinh viên và tầng lớp trung lưu “trên thực tế đã phá vỡ sự kiểm soát chính phủ” tại những khu vực thương mại quan trọng.46

Đối lập với chế độ độc tài Hàn Quốc đã là một nhóm hết sức hỗn tạp với các yếu tố ôn hòa quan trọng, nhưng những người đối lập cực đoan đã vẫn không bị kiềm chế suốt các tháng giữa tuyên bố của Roh và việc tổ chức các cuộc bầu cử. Bên trong các đại học, các nhóm chống Mỹ tìm cách làm thay đổi “vị thế” của quốc gia “trong các liên minh quốc tế” đã chi phối phong trào sinh viên. Các nhóm nghiên cứu bí mật được gọi là chiha đã được dùng như cơ sở cho các cuộc biểu tình tiên phong của 200 đến 300 sinh viên mà thường dính líu đến việc ném bom xăng.

Bạo lực đã không giảm với sự đến gần của các cuộc bầu cử. Khi dự thảo hiến pháp quốc gia mới được tranh luận trong tháng Tám 1987, chế độ độc tài đã đối mặt với các cuộc đình công nghiêm trọng nhất trong lịch sử của nó, cùng với sự náo loạn ồ ạt gắn với việc giết một công nhân bởi một hộp hơi cay làm chảy nước mắt.47 Các cuộc vận động tranh cử tổng thống cũng đã bị đánh dấu bởi bạo lực. Ở Kunsan, hàng trăm kẻ gây rối đã tấn công đoàn xe hộ tống vận động của Roh bằng gạch, chai lọ và bom tự tạo. Cuộc thăm dự kiến của ông đến Chonju đã bị hủy bỏ bởi vì sự náo loạn thêm và lo sợ cho mạng sống của tổng thống. Có lẽ, quan trọng nhất là những kẻ cực đoan đã không giới hạn sự tấn công của họ đối với bản thân nhà độc tài.48  Các ứng viên đối lập ôn hòa đã cũng bị tấn công thân thể trong nhiều dịp bởi các nhóm phái tả, thế nhưng chuyển đổi sang nền dân chủ bầu cử đã tiếp tục.49

Tư duy lại sự Điều độ

Các thí dụ được xét lại ở trên cung cấp bằng chứng thuyết phục rằng các mức cao của huy động dân chúng không chắc đánh lạc hướng sự chuyển đổi từ chế độ độc tài sang dân chủ. Sự chuyển đổi gần đây ở Nam Phi gợi ý rằng chúng ta có thể tìm thấy bằng chứng ủng hộ ở các khu vực khác nữa.50 Sự điều độ không phải là một điều kiện tiên quyết cho việc xây dựng nền dân chủ; các tham số huy động có thể chịu được là rộng hơn mức chúng ta đã dự tính ban đầu. Trong nhiều trường hợp, dân chủ hóa có vẻ đã tiến triển kế bên những thách thức dân chúng nặng nề và thậm chí đẫm máu.

Vì sao các thành viên của liên minh độc tài cũ chịu thua các đòi hỏi dân chủ khi các lực lượng không ôn hòa nâng cao các rủi ro của nó? Trong trường hợp Bồ Đào Nha, chúng ta đã có thể cho rằng liên minh độc tài cũ đã không có lựa chọn nào. Nhưng lý lẽ này không áp dụng được cho các chuyển đổi không cách mạng, và ở Bồ Đào Nha, như ở nơi khác, một liên minh độc tài mới đã có thể nổi lên trong thời kỳ chuyển đổi. Vì sao các diễn viên mà đã có thể bị tổn hại bởi chủ nghĩa cực đoan lại đánh liều một sự mở rộng các quyền tự do mà có thể gây bất lợi cho họ? Chìa khóa cho câu đố nằm ở việc các rủi ro được tính thế nào. Các diễn viên này đã không tính các rủi ro của họ theo cách chúng ta ban đầu đã phỏng đoán.

Công trình để đời của Robert Dahl, Polyarchy, đã cổ vũ chúng ta nghĩ rằng sự có khả năng xảy ra của dân chủ hóa tăng lên khi chi phí đàn áp tăng lên và chi phí chịu đựng giảm xuống. Chẳng tài liệu kinh nghiệm nào được trình bày ở đây trái với các giả thiết chung này. Thế nhưng nghiên cứu so sánh về các chuyển đổi khác nhau gợi ý rằng chúng ta phải nghĩ có hệ thống hơn về các elite tính các chi phí này thế nào.

Tiên đề liên quan đến các chi phí đàn áp giúp giải thích vì sao chúng ta thấy nhiều chế độ đến vậy đã dân chủ hóa bất chấp chủ nghĩa cực đoan. Chi phí đàn áp tăng lên khi mức huy động dân chúng tăng lên và số các cuộc tấn công lên chế độ độc tài tăng lên. Rustow đã cho rằng dân chủ hóa đòi hỏi “một mối hận thù gia đình gay gắt” và “cuộc đấu tranh chính trị kéo dài và không mang lại kết quả cuối cùng”51  Nếu các lực lượng chống chế độ thuộc bất cứ loại nào thành công trong việc nâng cao ý nghĩa của cuộc đấu tranh và làm tăng các chi phí đàn áp, họ tác động đến một nửa tính toán quyết định và chiến thắng một nửa cuộc đấu tranh.

Thế nhưng cuộc đấu tranh dễ bị thua nếu các chi phí chịu đựng vẫn quá cao. Để cho các chi phí chịu đựng có vẻ chịu đựng được, các elite chủ chốt phải tin rằng họ sẽ không bị cải cách làm cho tan nát. Các chế độ độc tài sẽ trả các chi phí đàn áp cực kỳ cao nếu các chi phí chịu đựng để họ không có lựa chọn nào khác. Logic của lý lẽ này giải thích vì sao những lời kêu gọi cho sự điều độ nổi lên thường xuyên đến vậy trong văn liệu dân chủ hóa.

Tuy vậy, chúng ta sai để nghĩ rằng các chi phí chịu đựng là hàm đơn giản của sự hiện diện hay sự thiếu vắng chủ nghĩa cực đoan. Sự hiện diện không phải và quy mô của các hoạt động cực đoan cũng chẳng là một yếu tố quan trọng trong các tính toán elite bằng các ước lượng của họ về các tác động của chủ nghĩa cực đoan sẽ là gì. Chúng ta có thể giải quyết những sự bất đồng có vẻ kịch tính giữa các lý lẽ cảnh cáo trong văn liệu và nhiều trường hợp được xem xét lại ở đây nếu chúng ta nhận ra rằng những dự tính elite về các tác động của chủ nghĩa cực đoan có thể ít nhất có ba dạng.

Trong dạng thứ nhất, các elite chủ chốt, được xác định như những người có năng lực để đảo ngược sự chuyển đổi, dự tính rằng chủ nghĩa cực đoan sẽ có các tác động mạnh mẽ và hoàn toàn độc hại. Họ dự đoán rằng dân chủ hóa sẽ dẫn đến chiến thắng lớn của những nhóm cực đoan và dẫn đến sự kết thúc thảm khốc của bản thân các elite chủ chốt. Nếu sự tin tưởng này được chia sẻ rộng rãi, thì khả năng có thể xảy ra một phản ứng chống dân chủ là cực kỳ cao. Vì thế dân chủ được xem như không thể chịu đựng được và bị bác bỏ. Lý lẽ điều độ cảnh cáo chúng ta chống lại kịch bản này. Như sự huy động 1989 ở Trung Quốc minh họa, nó còn xa mới là huyền thoại.

Nhưng chúng ta hãy giả sử rằng các elite chủ chốt dự đoán rằng chủ nghĩa cực đoan sẽ không thắng trò chơi dân chủ. Dưới các điều kiện này, dân chủ có thể chứng tỏ là có thể chấp nhận được, và nổi lên hai kịch bản đáng mong mỏi hơn.

Trong kịch bản thứ nhất, các elite chủ chốt chọn dân chủ hóa bởi vì bản thân họ đã không có khả năng kiểm soát chủ nghĩa cực đoan và không còn muốn trả các chi phí định chế cao của sự thất bại để cung cấp trật tự chính trị. Họ dự đoán rằng những người không cực đoan sẽ thắng các cuộc bầu cử dân chủ và rằng nhường lại sự kiểm soát cho các diễn viên ôn hòa trong một nền dân chủ bầu cử là ít rủi ro hơn việc tiếp tục với hiện trạng. Sự chuyển đổi của Peru từ chủ nghĩa độc tài trong năm 1977 – 78 cung cấp một thí dụ về kịch bản này. Trong đó, dân chủ đã được xem như một công cụ trốn thoát.

Trong kịch bản thứ hai, các elite chủ chốt chọn dân chủ bất chấp chủ nghĩa cực đoan bởi vì họ tiên đoán rằng bản thân họ sẽ thắng các cuộc bầu cử chuyển đổi. Trong trường hợp này, họ xem dân chủ như một công thức cho sự hợp thức hóa của chính họ. Kịch bản này có hai biến thể. Trong biến thể đổi mới, các elite chủ chốt gắn với chế độ độc tài cũ. Họ tán thành dân chủ bầu cử bởi vì họ tin nó sẽ cung cấp cho họ một công thức mới cho việc hợp pháp hóa sự cai trị của họ. Trong biến thể cách mạng, dân chủ trở thành công thức hợp pháp hóa cho một elite mới. Cách mạng đã buộc đội gác cũ vào tình trạng không hoạt động chính trị, và các elite chủ chốt là các sĩ quan quân đội và các chính trị gia dân sự những người chống đối cả những người cực đoan đang đe dọa lẫn chế độ độc tài trước kia. Bồ Đào Nha cung cấp một thí dụ kinh điển về kịch bản cách mạng này. Tây Ban Nha cung cấp một thí dụ về biến thể đổi mới.52

Sự tồn tại của các nhóm cực đoan không phải là một cản trở không thể vượt qua cho các lực lượng dân chủ trong các kịch bản hoặc trốn thoát hay hợp pháp hóa. Chủ nghĩa cực đoan luôn luôn làm tăng các chi phí cai quản. Khi các chi phí được biết của sự cai quản tăng lên, chi phí dự phóng của nền dân chủ sẽ có vẻ là tương đối thấp nếu các elite chủ chốt tiên đoán rằng các lực lượng không cực đoan sẽ nắm quyền kiểm soát chế độ dân chủ mới. Nếu các elite chủ chốt có thể loại trừ các nhóm nhất định khỏi sự cạnh tranh bầu cử, nếu họ có thể định hình các luật bầu cử cho các mục tiêu của riêng họ, và nếu các lực lượng cấp tiến đôi khi vì các lý do riêng của họ từ chối tham gia bầu cử, những tiên đoán này có thể chẳng hề vô lý. Bảng 6.3 cho một sự tổng kết về các tác động được dự phóng của chủ nghĩa cực đoan và các kịch bản khác nhau mà các dự phóng này rất có thể tạo ra.

150225007

Như đã xảy ra ở . . .

Các trường hợp thực tế trên đời có thể không khớp dứt khoát với một kịch bản duy nhất bởi vì các elite chủ chốt trong nhiều chuyển đổi là không đồng nhất. Có thể có những bất đồng về các khu vực elite chủ chốt thấy các tác động của chủ nghĩa cực đoan thế nào và như thế họ tính toán các rủi ro cá biệt của riêng họ ra sao. Tuy nhiên, nếu chúng ta sử dụng các phạm trù này như một hướng dẫn trong tư duy về các tính toán elite, chúng ta có thể hiểu kỹ hơn vì sao các sự chuyển đổi cá biệt lại diễn ra như chúng đã xảy ra.

Bồ Đào Nha rõ ràng là một trường hợp mà trong đó một elite chính trị mới đã sử dụng dân chủ như một công thức hợp pháp hóa cho một chế độ mới. Các elite chủ chốt ở Bồ Đào Nha đã là các sĩ quan quân đội ôn hòa, những người đã chiếm đa số trong tổ chức quân đội, và các chính trị gia dân chủ nhưng không cấp tiến những người đã đứng đầu các đảng chính trị và đã chiếm các vị trí nội các khác nhau trong các chính phủ lâm thời. Sau một giai đoạn mất định hướng gây ra bởi sự ngạc nhiên của bản thân cách mạng, cả hai nhóm đã trở nên được thuyết phục rằng các quá trình dân chủ sẽ chống lại các lực lượng cực đoan của PCP và phái tả cực đoan. Lãnh tụ Đảng Xã hội Mario Soares đã chắc chắn rằng những kẻ cực đoan đã “không thậm chí gần đến việc có được sự ủng hộ dân chúng” mà họ đã cần để nắm lấy sự kiểm soát chuyển đổi. Ông cũng đã tin chắc rằng “các lực lượng vũ trang – ngay cả các lực lượng vũ trang cực đoan ở Lisbon – sẽ chẳng bao giờ đồng ý với một hành động tự sát như vậy.”53  Ông đã tuyên bố công khai rằng đã có “rất ít xác suất” về một cuộc đảo chính Cộng sản nếu không vì lý do khác với lý do mà những người Cộng sản đã biết rằng nó sẽ bị đảo ngược ngay lập tức.54 Bất chấp các mức cao nhất của sự huy động cấp tiến trong lịch sử Bồ Đào Nha, một phổ rộng các elite không cấp tiến đã nhất quán chủ trương sự dân chủ hóa tiếp tục. Các cuộc bầu cử đã được coi một cách nhất quán như một giải pháp cho sự hỗn loạn bởi vì các elite chủ chốt đã tin chắc rằng họ sẽ có được sự kiểm soát được hợp pháp hóa của nhà nước nếu dân chủ tiến triển.55

Tây Ban Nha cung cấp cho chúng ta một thí dụ về kịch bản hợp pháp hóa trong biến thể đổi mới hơn là cách mạng của nó. Các elite chủ chốt rõ rệt nhất trong chuyển đổi Tây Ban Nha đã là nhà vua Juan Carlos và Adolfo  Suárez. Họ đã gắn trực tiếp với chế độ cũ và rõ ràng cần một công thức mới cho sự hợp pháp hóa một elite được đổi mới. Suárez đã nhắc rõ rệt đến chức năng hợp pháp hóa này khi ông trình bày Luật Cải cách Chính trị trong tháng Chín 1976: các cuộc bầu cử tự do đã là công cụ mà qua đó “các nhóm chính trị khả kính mà đã không có sự ủy nhiệm dân chúng nào có thể trở thành đại diện của công chúng.”56

Suárez và Juan Carlos đã có khả năng chịu rủi ro dân chủ hóa bất chấp chủ nghĩa cực đoan bởi vì họ tiên đoán rằng dân chủ hóa tiếp tục sẽ không dẫn đến thắng lợi của các lực lượng cấp tiến. Sự đàm luận elite về bản chất của nhân dân Tây Ban Nha đã thay đổi đột ngột bởi cái chết của Franco.57 Vào thời gian trước các cải cách của Suárez, ABC, một trong những tờ báo bảo thủ Tây Ban Nha quan trọng nhất, đã đầy sự nhắc đến bản chất ôn hòa và trung dung của nhân dân Tây Ban Nha. Nếu nhân dân Tây Ban Nha đã quả thực “được chẩn bị cho dân chủ” và “sẵn sàng sử dụng quyền tự do một cách có trách nhiệm,”như các nguồn này đã cho là thế, thì dân chủ bất chấp chủ nghĩa cực đoan đã không đe dọa đến vậy.58

Cả ở Tây Ban Nha lẫn Bồ Đào Nha, các elite chủ chốt đã có khả năng trình bày chính xác phỏng chiếu của họ về các tác động của chủ nghĩa cực đoan với thông tin rất đáng tin cậy về các sở thích dân chúng. Ở Bồ Đào Nha thông tin này đã đến từ các cuộc bầu cử quốc hội lập hiến trong tháng Tư 1975. Với 91,7 phần trăm tham gia, các cuộc bầu cử tự do này đã là một chỉ báo them chốt về nhân dân Bồ Đào Nha đã tụ họp thế nào trên phổ ý thức hệ. Đảng Cộng sản và phái tả cực đoan đã thu hút được khoảng một trong năm phiếu nhưng bị áp đảo về mặt bầu cử bởi các nhà Xã hội và các nhà Dân chủ Nhân dân trung dung, những người cùng nhau đã được 64 phần trăm phiếu bàu.59 Các lãnh tụ dân sự và quân sự ôn hòa đã nhận ra rằng, nếu họ có thể đảm bảo một chuỗi các cuộc bầu cử công bằng, họ sẽ nắm được quyền, và chủ nghĩa cực đoan sẽ được chặn đứng. Tiên đoán này đã được cho là đúng.

Ở Tây Ban Nha các elite chủ chốt đã trình bày các dự phóng của họ về các tác động của chủ nghĩa cực đoan với hai loại thông tin. Một loại đến từ các thăm dò dư luận được tiến hành trước khi và sau khi chuyển đổi sang dân chủ bắt đầu. Các thăm dò này đã cho thấy rằng xã hội Tây Ban Nha ôn hòa về ý thức hệ, trên thực tế ôn hòa đến mức PSOE đã phải chuyển theo hướng trung dung ý thức hệ nếu có bao giờ muốn được bầu. Chủ nghĩa cộng sản, ngay cả trong biến thể Cộng sản Âu châu của nó, đã thu hút ít sự nhiệt tình một cách đáng ngạc nhiên, và sự ủng hộ dân chúng cho bạo lực như một công cụ giải quyết các vấn đề dân tộc chủ nghĩa bên trong nước đã bị bác bỏ một cách át hẳn, ngay cả ở các vùng mà trong đó tình cảm dân tộc chủ nghĩa đã mạnh nhất. Ở Tây Ban Nha, nơi cơ quan lập pháp của chế độ độc tài theo nghĩa đen đã tự bỏ phiếu loại mình khỏi chức vụ, thông tin này về các sở thích dân chúng đã hết sức cần thiết trong tính toán các rủi ro.60

Các kết quả bầu cử đã cung cấp một nguồn thông tin thứ hai cho các elite chủ chốt Tây Ban Nha. Cuộc trưng cầu dân ý tháng Mười Hai 1976 về cải cách chính trị đã cho thấy rằng 94 phần trăm cử tri đã chuẩn y chuyển đổi sang dân chủ và như thế các chi phí của việc đảo ngược chuyển đổi đã có thể là rất cao. Các cuộc tổng tuyển cử tháng Sáu 1977 đã xác nhận những khám phá của các cuộc thăm dò dư luận. Phái cự hữu đã không và phái cực tả cũng đã chẳng được ghế quốc hội nào. PCE đã chỉ thu hút được 9 phần trăm số phiếu, và các đảng theo đường lối vùng đã không thu hút được sự ủng hộ nhiều hơn 7 phần trăm phiếu bầu.61 Các nhà trung dung đã chi phối áp đảo cử tri Tây Ban Nha, và sự biết sự thực này đã làm giảm các rủi ro của dân chủ hóa được tiếp tục.

Câu đố vì sao hai chuyển đổi rất khác nhau đã có thể tiến triển bất chấp sự huy động cực đoan như thế đã được giải quyết nếu chúng ta xem xét các elite chủ chốt cảm thấy các tác động của chủ nghĩa cực đoan thế nào. Cả ở Bồ Đào Nha lẫn Tây Ban Nha các elite chủ chốt đã thấy dân chủ như một giải pháp cho vấn đề của chủ nghĩa cực đoan hơn là một vấn đề tự nó.

Các học giả mà đã xem chủ nghĩa cực đoan như một rào cản cho dân chủ hóa đã không hiểu sai vở kịch chuyển đổi chế độ. Họ đơn giản đã tập trung chỉ vào một trong vài kịch bản. Một dãy rộng hơn của các trường hợp chứng tỏ rằng nền dân chủ có thể được tạo ra bất chấp cái gọi là các đòi hỏi “cực đoan chủ nghĩa” và bất chấp các mức huy động cao trong xã hội dân sự. Trong nhiều trường hợp, một “mối hận thù gia đình gay gắt” có thể, quả thực, cung cấp môi trường thích đáng cho tôi rèn một nền dân chủ mới.

Nancy Bermeo

—-

GHI CHÚ

  1. Dankwart A. Rustow, ‘‘Transitions to Democracy,’’ Comparative Politics 2 (April 1970), pp. 337 – 63.
  2. Guillermo O’Donnell and Philippe Schmitter, ‘‘Tentative Conclusions about Uncertain Democracies,’’ trong Guillermo O’Donnell, Philippe Schmitter, and Laurence Whitehead, eds., Transitions from Authoritarian Rule (Baltimore: The Johns Hopkins University Press, 1986), p. 56.
  3. Manuel Antonio Garreton, ‘‘Popular Mobilization and the Military Regime in Chile: The Complexities of the Invisible Transition,’’ trong Susan Eckstein, ed., Power and Popular Protest: Latin American Social Movements (Berkeley: University of California Press, 1989), p. 275.
  4. Terry Lynn Karl, ‘‘Dilemmas of Democratization in Latin America,’’ Comparative Politics 23 (October 1990), p. 8.
  5. Myron Weiner, ‘‘Empirical Democratic Theory,’’ trong Myron Weiner and Ergun Özbudun, eds., Competitive Elections in Developing Countries (Durham: Duke University Press, 1987), p. 26.
  6. Samuel Huntington, ‘‘Will More Countries Become Democratic?,’’ Political Science Quarterly 99 (Summer 1984), p. 212.
  7. Daniel Levine, ‘‘Paradigm Lost: Dependence to Democracy,’’ World Politics 40 (April 1988), p. 392.
  8. Dietrich Rueschemeyer, Evelyne Huber Stephens, and John D. Stephens,

Capitalist Dcvelopment and Democracy (Chicago: University of Chicago Press,

1992), pp. 271, 223. Sự so sánh của họ là với các đảng cánh hẩu chủ nghĩa (clientelistic) ôn hòa.

  1. Larry Diamond and Juan Linz, ‘‘Introduction,’’ trong Larry Diamond, Juan Linz, and Seymour M. Lipset, eds., Democracy in Developing Countries, Volume 4: Latin America (Boulder: Lynne Rienner, 1989), p. 12.
  2. Robert Kaufman, ‘‘Liberalization and Democratization in South America: Perspectives from the 1970s,’’ trong O’Donnell, Schmitter, and Whitehead, eds., Transitions from Authoritarian Rule, p. 88.
  3. Adam Przeworski, ‘‘Some Problems in the Study of the Transition to Democracy,’’ trong ibid., p. 63.
  4. J. Samuel Valenzuela, ‘‘Labor Movements in Transitions to Democracy,’’ Comparative Politics 21 (July 1989), p. 449.
  5. Ibid., p. 450.
  6. Cùng những suy nghĩ về sự cần thiết cho sự điều độ đã tác động đến đối lập Brazil. Margaret E. Keck, The Workers’ Party and Democratization in Brazil (New Haven: Yale University Press, 1992), p. 34.
  7. O’Donnell and Schmitter, Transitions from Authoritarian Rule, p. 27.
  8. Robert Dahl, Polyarchy: Participation and Opposition (New Haven: Yale University Press, 1971), p. 15.
  9. Nancy Bermeo, The Revolution within the Revolution (Princeton: Princeton University Press, 1986), p. 5, và ‘‘Worker Management in Industry: Reconciling Representative Government and Industrial Democracy in a Polarized Society,’’ trong Lawrence S. Graham and Douglas L. Wheeler, eds., In Search of Modern Portugal (Madison: University of Wisconsin Press, 1983), pp. 183 – 84.
  10. Charles Downs, ‘‘Residents’ Commissions and Urban Struggles in Revolutionary Portugal,’’ trong ibid., pp. 151 – 63.
  11. Vì các ngân hàng đã sở hữu hầu hết báo của quốc gia, chúng cũng đã bị quốc hữu hóa. Maria Belmira Martins et al., O Groupo Estado (Lisbon: Ediçôes Journal Expresso, 1979).
  12. Reinaldo Caldeira and Maria do Ceu Silva, Constituic¸ aˆ o Pol´ıtica da Repu´ blica Portuguesa (Lisbon: Livraria Bertrand, 1976).
  13. Bởi vì dân số Bồ Đào Nha đại lục đã chỉ hơn 8 triệu, dòng người vào này đã đặc biệt gây hỗn loạn.
  14. Lawrence S. Graham, ‘‘The Military in Politics: The Politicization of the Portuguese Armed Forces,’’ trong Lawrence S. Graham and Harry M. Makler, eds., Contemporary Portugal: The Revolution and Its Antecedents (Austin: University of Texas Press, 1979), p. 237.
  15. John L. Hammond, Building Popular Power (New York: Monthly Review Press, 1988), pp. 233 – 35.
  16. Các chính phủ lâm thời thứ nhất, thứ hai, thứ ba, và thứ sáu đã được coi là ôn hòa về chính trị. Chính phủ thứ tư và thứ năm đã cấp tiến.
  17. Nancy Bermeo, ‘‘Regime Change and Its Impact on Foreign Policy: The Portuguese Case,’’ Journal of Modern Greek Studies 6 (May 1988), p. 13.
  18. Ålvaro de Vasconc¸ elos, ‘‘Conclusion,’’ trong Kenneth Maxwell, ed., Portuguese Defense and Foreign Policy since Democratization (New York: Camoˆes Center Special Report No. 3, Columbia University, 1991), p. 83.
  19. Donald Share, The Making of Spanish Democracy (New York: Praeger, 1986), p. 77.
  20. Về Grupos de Resistencia Antifascista Primero de Octubre, xem Paul Preston,

The Triumph of Democracy in Spain (London: Methuen, 1986), pp. 106 – 7.

  1. José Maria Maravall, La Pol´ıtica de la Transicio´n (Madrid: Taurus, 1981), pp. 24 – 25.
  2. Share, p. 121.
  3. José Maria Maravall and Julian Santamaria, ‘‘Crisis del Franquismo, Transicio´n Pol´ıtica y Consolidacio´ n de la Democracia en Espan˜a,’’ Sistema 68 – 69 (No- vember 1985), p. 105.
  4. Nancy Bermeo, ‘‘Sacrifice, Sequence, and Strength in Successful Dual Transitions: Lessons from Spain,’’ Journal of Politics, 56 (August 1994).
  5. Euse´ bio Mujal-Leo´ n, ‘‘Foreign Policy of the Socialist Government,’’ trong Stanley Payne, ed., The Politics of Democratic Spain (Chicago: Council on Foreign Relations, 1986), p. 197. Xem cả Fernando Mora´n, Espan˜a en Su Sı´tio (Barcelona: Plaza and Janes, 1990).
  6. Felipe Gonzalez and Alfonso Guerra, PSOE (Bilbao: Ediciones Alba, 1977), pp. 23 – 24.
  7. Ở Chile năm 1983 các công nhân ngành đồng đã lãnh đạo một liên minh ngang-giai cấp trong các cuộc bãi khóa và bãi thị và caceroleos (biểu tình gõ nồi niêu mạnh) chống lại chế độ Pinochet. Các cuộc biểu tình đã tiếp tục hàng tháng cho đến khi Pinochet tuyên bố tình trạng vây hãm trong tháng Mười Một năm 1984. Ở Argentina một sự tự do hóa nhẹ đã được Tướng Viola đỡ đầu, rồi bị đảo ngược bởi Tướng Galtieri.
  8. “Mang tính gợi ý” bởi vì các phương pháp khác nhau trong việc ghi lại các cuộc đình công ngang quốc gia làm cho tính chính xác và sự tương thích của dữ liệu đình công có vấn đề. Lý thú ở đây là chiều hướng tương tự của các xu hướng lịch sử.
  9. Cynthia McClintock, ‘‘Peru: Precarious Regimes, Authoritarian and Democratic,’’ trong Diamond, Linz, and Lipset, eds., Democracy in Developing Countries, p. 351.
  10. Cynthia McClintock, ‘‘Why Peasants Rebel: The Case of Sendero Luminoso,’’ World Politics 37 (October 1984), pp. 52, 81.
  11. Ibid., p. 51.
  12. Tôi mang ơn Catherine Conaghan ở Đại học Queens về sự nhìn thấu này.
  13. Carolina Herna´ndez, ‘‘Reconstituting the Political Order,’’ trong John Bresnan, ed., Crisis in the Philippines: The Marcos Era and Beyond (Princeton: Princeton University Press, 1986), p. 184.
  14. Robert Manning, ‘‘The Philippines in Crisis,’’ Foreign Affairs 63 (Winter 1984 –1985), p. 392.
  15. B. M. Villegas, ‘‘The Philippines in 1986: Democratic Reconstruction in the Post-Marcos Era,’’ Asian Survey 27 (Fall 1987), p. 198.
  16. David Rosenberg, ‘‘The Changing Structure of the Philippine Government from Marcos to Aquino,’’ trong Carl Lande, ed., Rebuilding a Nation: Philippine Challenges and American Policy (Washington, D.C.: Washington Institute Press, 1987), p. 304.
  17. Manning, p. 404.
  18. ‘‘DJP’s No Tae-U Advocates Direct Election,’’ Seoul Hanguk Ilbo, June 29, 1987, p. 1, in FBIS Daily Report-East Asia, 124, June 29, 1987.
  19. ‘‘Daewoo Shipyard Worker Dies from Injuries’’ Seoul YONHAP, Aug. 22, 1981, trong FBIS Daily Report-East Asia, 163, Aug. 24, 1987.
  20. ‘‘No Tae-U’s Election Rally in Chonju Aborted,’’ Seoul Domestic Service (in Korean) Dec. 10, 1987, trong FBIS Daily Report-East Asia, 237, Dec. 10, 1987.
  21. Kim Young Sam đã bị tấn công bằng chai và đá khi phát biểu vận động ở Kwangju. John McBeth, ‘‘South Korea to Curb Campaign Violence,’’ Far Eastern Economic Review, Nov. 26, 1987, p. 10. Kim Dae Jung đã bị tấn công ngày 6-12-1987. Hàn Quốc thực sự đã trải nghiệm hoạt động nhóm cấp tiến nhiều hơn khi dân chủ đến gần. Lo Shiu Hing, ‘‘Political Participation in Hong Kong, South Korea, and Taiwan,’’ Journal of Contemporary Asia, 20 (1990), 245.
  22. Xem Glenn Adler and Eddie Webster, ‘‘Challenging Transition Theory: The Labor Movement, Radical Reform and Transition to Democracy in South Af- rica,’’ Politics and Society, 23 (March 1995), 75 – 106. Ở đông Âu, Ba Lan có thể là trường hợp duy nhất mà trong đó tranh luận về đòi hỏi điều độ là xác đáng. Sự sụp đổ của chế độ độc tài đã nhanh ở các trường hợp Đông Âu đến mức bản chất của các cuộc thảo luận chiến thuật đã rất khác.
  23. Rustow, p. 352.
  24. Chuyển đổi từ chế độ độc tài ở Philippines đã bắt đầu như một phiên bản đổi mới của kịch bản hợp pháp hóa. Đối mặt với áp lực từ NPLA nhưng vẫn tự tin rằng mình có thể thắng các cuộc bầu cử quốc gia, Marcos đã sử dụng phỏng vấn của một đài TV Hoa Kỳ để công bố các cuộc bầu cử bất ngờ. Ông đã bị bất ngờ bởi sự thất bại áp đảo của mình, nhưng ý định của ông đã là để dùng một sự ủy thác nhân dân để đổi mới chế độ gặp rắc rối nghiêm trọng.
  25. Mario Soares, Entre Militantes: PS, Frontiera da Liberdade (Lisbon: Portugal Socialista, 1979), p. 18; và ‘‘Aviso aos interessados,’’ trong PS, Fronteira da Liberdade (Lisbon: Portugal Socialista, 1979), p. 69.
  26. Mario Soares, Democratizac¸ aˆ o e Descolonizac¸ aˆo (Lisbon: Dom Quixote,

1975), p. 194, xem cả 17, 156, 179, 190, 215, và 275.

  1. Francisco Sa Carneiro, lãnh tụ của đảng PPD trung hữu, đã chia sẻ niềm tin của Soares vào kết cục của một cuộc bầu cử tự do. Xem các phỏng vấn và bài phát biểu của ông trong Por uma Social- Democracia Portuguesa (Lisbon: Dom Quixote, 1975), pp. 154, 176.
  2. Adolfo Sua´rez Gonzalez, Un Nuevo Horizonte para Espan˜a: Discursos del Presidents del Gobierno 1976 – 1978 (Madrid: Coleccio´ n Informe, 1978), p. 20.
  3. Về nhiều bằng chứng hơn xem Victor Pe´ rez-D´ıaz, The Return of Civil Society (Cambridge, Mass.: Harvard University Press, 1993).
  4. ABC, May 1975, p. 51; ABC, June 10, 1975. J. M. Areilza đã tuyên bố; ‘‘Giữa hầm Bunker và sự lật đổ có một mảng khổng lồ của dân cư Tây Ban Nha mà không có chiều hướng thiên về cả hai công thức này.” ABC, Aug. 1, 1975, p. 109. Một bài xã luận khác đã tuyên bố rằng “có một khu vực to lớn của xã hội giữa socialismo và integrismo.” ABC, Feb. 1976, p. 53. Không phải tất cả các elite chính trị Tây Ban Nha chia sẻ viễn cảnh này. Bên trong quân đội Tây Ban Nha, rõ ràng đã có các diễn viên mà đã ít chắc chắn hơn nhiều rằng chủ nghĩa cực đoan có thể được kiềm chế. Họ đã chịu đựng dân chủ bởi sự bỏ cuộc bởi vì các mối liên kết định chế với nhà vua và từ một ý thức về tính không thể tránh được. Điểm này cho thấy sự chuyển đổi Tây Ban Nha cũng đã có các yếu tố của các kịch bản khác như thế nào.
  5. Thomas C. Bruneau, ‘‘Popular Support for Democracy in Postrevolutionary Portugal: Results from a Survey,’’ trong Graham and Wheeler, eds., In Search of Modern Portugal, pp. 21 – 42.
  6. Paul Preston báo cáo rằng các cuộc thăm dò dư luận “được tiến hành bởi chính phủ [trước luật cải cách chính trị] đã thuyết phục họ rằng một đảng trung hữu không quá bị nhơ bởi Franco và được ủng hộ bởi Sua´ rez sẽ có một tương lai bầu cử lành mạnh.” Mỉa mai thay, các cuộc thăm dò được tiến hành bởi các nhà Xã hội và Cộng sản đã kết luận rằng đảng AP bảo thủ đã được lòng dân hơn nó thực sự đã chứng tỏ. Preston, The Triumph of Democracy in Spain, p. 108.
  7. Maravall and Santamaria, ‘‘Crisis del Franquismo,’’ p. 96.

Biên tập: Lisa Anderson

Dịch: Nguyễn Quang A

Thuộc tủ sách SOS2)

VRNs đăng với phép của dịch giả

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s