Chuyển đổi sang dân chủ (5): Thêm các diễn viên tập thể vào các kết cục tập thể: Lao động và Dân chủ hóa mới đây ở Nam Mỹ và Nam Âu

VRNs (28.02.2015) – Hà Nội –  Nghiên cứu về những chuyển đổi dân chủ cuối thế kỷ thứ hai mươi đã trở thành một chủ đề chính trong chính trị học so sánh, và một khung khổ giải tích cá biệt, mà trao vị trí hàng đầu cho sự lựa chọn chiến lược của elite, đã trở nên hầu như bá chủ.1  Bất chấp một số phê phán, cách tiếp cận này tiếp tục định hình sự hiểu biết uyên thâm về quá trình dân chủ hóa gần đây. Thế nhưng một khung khổ duy nhất có lẽ không thể ôm toàn bộ sự trưng bày các vấn đề nêu ra bởi các chuyển đổi này. Một tuyến phân tích thay thế khả dĩ khác không dễ được thích nghi bên trong sự giải thích chiếm ưu thế là vai trò của các diễn viên tập thể. Ngược với paradigm (hệ thuyết) trội, nghiên cứu này khảo sát vai trò của một diễn viên tập thể cá biệt, phong trào lao động có tổ chức, trong những chuyển đổi dân chủ mới đây ở Nam Mỹ và Nam Âu.

Tập trung vào hoạt động tập thể được tiến hành bởi các nghiệp đoàn và các đảng liên kết với lao động, chúng tôi cho rằng phong trào lao động thường đã đóng một vai trò quan trọng trong những chuyển đổi mới đây. Lao động đã không hạn chế ở một vai trò “gián tiếp,” mà trong đó sự phản kháng xung quanh các đòi hỏi nơi làm việc đã được đáp ứng thông qua sự bao gồm kết nạp vào đấu trường bầu cử. Đúng hơn, phong trào lao động đã là một trong các diễn viên chính trong đối lập chính trị, đòi hỏi một chế độ dân chủ một cách rõ ràng. Trong một số trường hợp sự phản kháng đòi dân chủ do nghiệp đoàn lãnh đạo đã tạo ra một bầu không khí không thể cai trị nổi và sự làm mất tính chính đáng đã trực tiếp dẫn đến sự bất ổn định của các chế độ độc đoán. Hơn nữa, sự phản kháng được tiếp tục, thay cho việc tạo ra một sự phản ứng độc đoán dữ dội, đã giữ sự chuyển đổi tiến tới. Cuối cùng, trong khi sự phản kháng của các nhóm khác cũng đặt chế độ vào thế thủ, các tổ chức có cơ sở lao động đã đi xa hơn nữa theo hai cách: chúng thường đã có được một chỗ trong các cuộc thương lượng, và chúng đã mở rộng quy mô tranh luận trong chế độ kế vị.

Paradigm (hệ thuyết) trội đã được xây dựng trên tiểu luận đặt nền móng của O’Donnell và Schmitter, mà nhấn mạnh vai trò của bộ phận lãnh đạo và sự tương tác elite. Trong khi tiểu luận đó gợi ý rằng “thách thức lớn nhất đối với chế độ chuyển đổi chắc có lẽ đến từ … hành động tập thể của giai cấp lao động,” nó cũng nhấn mạnh bản chất chóng tàn của “đợt bột phát dân chúng” và “sự tàn dần của nhân dân” theo sau.2 Những phân tích so sánh và giải thích lý thuyết khác, tập trung riêng biệt hơn đến tương tác elite, đã không tiếp tục chủ đề này. Bài báo này cho rằng sự phản kháng do nghiệp đoàn lãnh đạo đã chính yếu hơn nhiều đối với quá trình định chế so với được ngụ ý bởi một viễn cảnh lấy elite làm trung tâm, mà xem vai trò của lao động chủ yếu như làm thay đổi môi trường chiến lược của các elite đàm phán và về mặt lý thuyết đánh giá thấp vai trò của đối lập số đông quần chúng, sự phản kháng lao động, và các diễn viên tập thể nói chung.

Có thể đưa ra ba điểm liên quan về viễn cảnh chung của “văn liệu chuyển đổi” này. Thứ nhất, nó đã nhấn mạnh bộ phận lãnh đạo và mưu mẹo, như thế báo hiệu tầm quan trọng của cá nhân hơn là các diễn viên tập thể. Thứ hai, nó có xu hướng xác định các diễn viên một cách chiến lược (thí dụ, những người cứng rắn và mềm dẻo) đối với vị trí của họ trong “trò chơi chuyển đổi,” như thế đặt ra ngoài lề các vấn đề về các diễn viên được xác định theo giai cấp. Thứ ba, bất chấp sự nhấn mạnh đến các cuộc đàm phán chính phủ-đối lập, nó đã có xu hướng coi nhà nước là trung tâm, như thế hạ tầm quan trọng của các diễn viên xã hội; các học giả đã có xu hướng phân loại các sự chuyển đổi hoặc như được khởi xướng và ở mức độ nào đó được kiểm soát bởi những người đương chức hoặc như từ sự sụp đổ chế độ được xem dưới dạng của một hình ảnh coi nhà nước là trung tâm về những sự bùng nổ.3 Vì thế, khung khổ chi phối là không rất hữu dụng cho các mục đích hiện thời bởi vì các giả định lý thuyết cơ bản và các khái niệm định hướng của nó hầu như loại trừ việc vấn đề hóa phong trào lao động và hoạt động tập thể trước tiên.

Khảo sát năm trong bảy sự chuyển đổi Nam Mỹ và Nam Âu gần đây, mà chúng đã trở thành các điểm tham chiếu quan trọng trong văn liệu, chúng tôi dựng lên hai hình mẫu về dân chủ hóa mà đi trệch khỏi sự giải thích chuẩn (xem bảng 5.1).

Cả hai hình mẫu gợi ý rằng phong trào lao động đã là chính yếu hơn đối với chính trị học dân chủ hóa so với đã được thừa nhận và rằng vai trò của nó thường đã bắt đầu sớm hơn và đã tiếp tục cho đến cuối. Hình mẫu đầu tiên là sự trệch lớn nhất về mặt các nước nó nhóm lại với nhau và sự mô tả đặc trưng của các sự chuyển đổi: theo hình mẫu về bất ổn định hóa/giải thoát, phản kháng tập thể, mà bên trong đó sự phản kháng lao động đã là nổi bật, đã làm mất tính chính đáng của và làm bất ổn định chế độ độc đoán. Các nhà đương chức độc đoán đã không chấp nhận dự án chuyển đổi nào trước sự bất ổn định hóa này, và, thay cho sự thương lượng elite, sự chuyển đổi được mô tả đặc trưng tốt hơn như sự rút lui bị ép buộc. Trong hình mẫu thứ hai, trò chơi chuyển đổi, các nhà đương chức đã chấp nhận một dự án hợp pháp hóa, nhưng dự án này bị làm trệch đường ray. Rồi sau đó, sự phản kháng tập thể, mà trong đó phong trào lao động đã có một vai trò nổi bật, đã giúp để định hình lại sự chuyển đổi và giữ cho nó tiến tới. Trong cả hai hình mẫu, hoạt động tập thể đã đạt được sự hợp pháp hóa của các đảng liên kết với lao động, mà khác đi thì đã có thể trở thành nạn nhân của sự thương lượng elite.

150225004

Phân tích hiện thời chấp nhận một sự quan niệm hóa thời gian khác với khung khổ đang thịnh hành, mà bắt đầu với những sự chia rẽ trong nhà nước và những thay đổi quy tắc kế tiếp sau đó. Quan niệm hóa đó củng cố sự nhấn mạnh đến nhà nước và các diễn viên elite và trên thực tế biến các câu hỏi về các nguyên nhân của những sự chia rẽ nhà nước thành goại sinh. Ngược lại, bài báo này thăm dò các nguồn gốc của những sự chia rẽ này. Hơn nữa, những phân tích bên trong khung khổ chi phối tập trung vào giai đoạn cuối của sự chuyển đổi. Chúng tôi xem giai đoạn này như một trò chơi kết thúc khép lại, nhất thiết bị chi phối bởi các elite thiết lập các quy tắc cho sự chuyển giao quyền lực thật sự và thiết kế các định chế của các nền dân chủ mới. Sự nhấn mạnh của chúng tôi lần nữa đến một giai đoạn sớm hơn, đến quyết định của các diễn viên độc đoán để ra đi và đến sự nhường lại sự kiểm soát thật sự cho đối lập hay các nhà chức trách được bầu, dù là những người đương chức sắp ra đi vẫn thử, và đôi khi thành công, để gây ảnh hưởng.

Bất ổn định hóa/Giải thoát

Ở Peru, Argentina, và Tây Ban Nha, các cuộc phản kháng do công đoàn lãnh đạo đã là cốt yếu trong việc làm bất ổn định chế độ độc đoán và mở đường cho dân chủ hóa. Các nhà đương chức độc đoán đã không lập một dự án cải cách khi lao động đã tấn công trong các cuộc đình công và biểu tình chống lại chế độ. Các nhà đương chức đã không có khả năng để bỏ qua sự đối lập như vậy hay để trình bày một sự phản ứng lại các thách thức này. Trong mỗi trường, chế độ đã bị làm mất ổn định, và những người đương chức đã có quyết định để từ bỏ quyền lực, rõ ràng theo đuổi một sự giải thoát phòng thủ mà trong đó mục tiêu cuối cùng đã là từ chức và lấy bất kể điều kiện nào họ đã có thể. Những điều khoản này đã biến đổi. Các nhà đương chức quân sự Peru và đặc biệt Argentine đã ra đi với ít hơn nhiều so với các quan chức dân sự Tây Ban Nha, những người đã có khả năng biến đổi mình thành các diễn viên dân chủ. Ở Peru, sự phán kháng lao động đã đẩy chế độ vào khủng hoảng, và tiếp sau một cuộc tổng đình công thắng lợi năm 1977 chính phủ đã nhanh chóng công bố các cuộc bầu cử cho một quốc hội lập hiến mà đã lấy phương hướng chuyển đổi. Ở Argentina, các phong trào quyền con người đã giúp kích động sự đối lập với chủ nghĩa độc đoán. Nhưng vấn đề về sức mạnh nghiệp đoàn đã chia rẽ quân đội ngay từ đầu, và sự phản kháng lao động đã là quan trọng để ngăn chặn sự củng cố của chế độ quân sự. Với sự thất bại của cuộc xâm lấn Malvinas, dự định để chặn trước cuộc khủng hoảng chế độ, chính phủ đã nhanh chóng kêu gọi các cuộc bầu cử mà đã đánh dấu sự chuyển đổi chế độ. Ở Tây Ban Nha, sự phản kháng lao động đã tạo ra thách thức gay gắt đối với chế độ ngay cả trước cái chết của Franco và đã làm xói mòn các phản ứng Francoist ban đầu và sau-Franco. Rồi Sua´ rez đã lên nắm quyền và đã ngay lập tức xây dựng một sự đồng thuận cho một cuộc bầu cử chuyển đổi. Trong tất cả các trường hợp này, các cuộc thương thuyết giữa chính phủ độc đoán và đối lập ủng hộ dân chủ đã tiếp tục sau sự quyết định giải thoát, và những thảo luận này đã bao gồm các đảng phái tả và liên kết với lao động.

Peru 

Không giống hầu hết các trường hợp, chế độ độc đoán ở Peru ban đầu đã không tham gia vào việc đàn áp có hệ thống lao động.4 Đúng hơn, trong thời gian chính phủ của Tướng Velasco (1968 – 1975) chủ nghĩa độc đoán Peru đã có một đặc trưng “dân túy” rõ rệt mà trong đó sự tổ chức lao động đã được cổ vũ mạnh mẽ. Tuy nhiên, vào năm 1973 lao động có tổ chức đã ngày càng chuyển sang đối lập cùng với vài nhân tố – bắt đầu của một suy thoái kinh tế gay gắt, các cố gắng tăng lên để thay thế liên đoàn nghiệp đoàn do Cộng sản lãnh đạo (CGTP) bằng một liên đoàn do nhà nước kiểm soát (CERP), và tình trạng ốm yếu nghiêm trọng của Tướng Velasco. Trong năm đó các cuộc đình công đã tăng đáng kể (khoảng gấp đôi mức trung bình của năm năm trước), gây ra một bầu không khí bất ổn định và đã tạo thuận lợi cho sự sụp đổ của chính phủ Velasco tháng Tám 1975.5

Dưới chính phủ tiếp theo của Morales Bermúdez, các mối quan hệ nhà nước-lao động nhanh chóng trở nên đối kháng, và lao động có tổ chức đã nổi lên như diễn viên chống độc đoán chính. Chính quyền mới đã đột ngột rời xa khỏi chủ nghĩa dân túy của Velasco, đi theo các chính sách chống lao động và tiến hành đàn áp đặc trưng hơn của các chế độ độc đoán khác. Trong nửa sau của năm 1976 phong trào lao động đã đáp lại với một loạt các cuộc đình công, mà đã tượng trưng một tư thế mới của sự đối lập trực tiếp và đối đầu chống lại chế độ độc đoán.

Sự kiện đơn nhất quan trọng nhất trong việc kích sự chuyển đổi của năm 1980 đã là cuộc tổng đình công ngày 19 tháng Bảy năm 1977 (cuộc đầu tiên kể từ 1919 và là cuộc đình công lớn nhất trong lịch sử Peru). Cuộc đình công này đã thống nhất gần như tất cả các tổ chức nghiệp đoàn và đã làm tê liệt hoạt động công nghiệp ở Lima. Ngoài các lo ngại nơi làm việc, cuộc đình công đã đòi các quyền tự do dân chủ cơ bản. “Cuộc đình công năm 1977 đã mang thông điệp rõ ràng rằng các nỗ lực của quân đội để làm chậm hay để tránh một sự chuyển giao quyền lực cho các quan chức dân sự sẽ chỉ dẫn đến sự rối loạn lớn hơn mà sẽ làm xói mòn thêm tín nhiệm đã kém rồi của quân đội.”6  Cuộc tổng đình công đã phản ánh vai trò lãnh đạo của lao động trong đối lập chống độc đoán; các nhóm đối lập khác nói chung đã được huy động muộn hơn khi chúng tham gia với các nghiệp đoàn để hình thành một liên minh cứng đầu được biết đến như “phong trào bình dân.”

Trong hậu quả của cuộc đình công, các đảng viên của các đảng chính trị truyền thống và elite kinh tế đã cho rằng một sự trở lại nền dân chủ đã là cần thiết để khôi phục trật tự chính trị và tăng trưởng kinh tế. Quả thực, như một kết quả của đình công  “Morales Bermúdez đã buộc phải công bố một thời gian biểu cho việc quay lại sự cai trị dân sự.”7  Trong tháng Tám 1977 chính phủ đã dỡ bỏ tình trạng khẩn cấp và công bố các cuộc bầu cử quốc hội lập hiến vào tháng Sáu 1978. Như thế, quân đội đã quyết định giải thoát mình và tiếp tục với một chuyển đổi. Cho đến các cuộc bầu cử quốc hội tháng Sáu 1978, các cuộc đình công và huy động dân chúng đã tiếp tục, kể cả các cuộc tổng đình công trong các tháng Hai, Tư, và Năm 1978.

Trong pha cuối cùng của chuyển đổi, sự huy động đã giảm đi “bởi vì quốc hội đã đánh dấu một bước quan trọng trong con đường đưa quân đội quay lại các trại lính – một mục đích mà đã thống nhất liên minh mỏng manh của các nhóm tạo thành “phong trào bình dân.”8 Tuy nhiên, các nghiệp đoàn và các đảng liên kết lao động đã tiếp tục đóng một vai trò. APRA, đảng với các mối liên hệ lịch sử với phong trào lao động, đã được 35 phần trăm phiếu bầu cho quốc hội lập hiến. Quan trọng hơn, với sự dịch chuyển trong sự liên kết đảng của phong trào lao động mà đã xảy ra trong thời gian chế độ quân sự, phái tả đã được 33 phần trăm. Thêm nữa, quốc hội lập hiến đã thu hút lời khuyên từ nhiều nhóm xã hội, kể cả các lãnh tụ công đoàn, và trong thời kỳ này chính phủ quân sự đã giữ mối liên lạc với các lãnh tụ đảng, đặc biệt các lãnh đạo của APRA nhưng cũng bao gồm phái tả. Trong tháng Bảy 1979 tất cả các công dân qua mười tám tuổi đã có quyền đi bầu, và các cuộc bầu cử tháng Năm 1980 đã hoàn tất sự chuyển đổi.

Argentina

Trong khi là đúng rằng chuyển đổi dân chủ ở Argentina trong năm 1983 đã tiếp theo sự sụp đổ của chế độ sau thất bại quân sự trong cuộc chiến tranh Falkland Islands/Malvinas, sự mô tả đặc trưng chuẩn bỏ qua các nhân tố mà đã dẫn đến cuộc viễn chinh quân sự trước hết. Nghiên cứu vẫn còn hạn chế về đề tài này tiết lộ hai điểm mà tại đó lao động có thể được diễn giải như đóng một vai trò then chốt. Thứ nhất, sự phản kháng lao động đã góp phần vào sự chia rẽ trong quân đội giữa những người cứng rắn và mềm dẻo mà cuộc xâm chiếm Malvinas đã có ý định để khắc phục. Thứ hai, một số phân tích xác nhận rằng sự phản kháng lao động đã trực tiếp thúc giục các tướng để thực hiện việc xâm chiếm Malvinas. Cả hai cách, chứng cớ gợi ý rằng chế độ quân sự này, giống chế độ quân sự một thập niên trước (1966 – 1973), đã bị phản kháng lao động làm bất ổn định.9

Vấn đề lao động đã từ lâu ở tại lõi của hoạt động chính trị Argentine, và nó đã vẫn cốt yếu suốt giai đoạn của sự cai trị quân sự từ 1976 đến 1983. Bản thân cuộc đảo chính 1976 đã một phần là một sự đáp lại với chủ nghĩa tích cực công nhân, và trong vòng một tháng lên nắm quyền chính phủ quân sự đã xem xét một luật lao động mới để khử hoạt động của phong trào lao động. Chủ nghĩa bè phái quân sự ban đầu đã liên kết mật thiết với những sự chia rẽ về giải quyết vấn đề lao động thế nào. Một phái đã thích một sự tấn công trực tiếp các nghiệp đoàn, trong khi phái khác đã thích một hình mẫu cũ hơn của các mối quan hệ nhà nước-lao động mà trong đó sự điều độ lao động đã được mua với những nhượng bộ ban một vai trò vẫn hạn chế nhưng tích cực hơn cho các nghiệp đoàn. Dưới sự lãnh đạo của Tướng Videla, phái cứng rắn đã nổi lên áp đảo bên trong chính phủ và đã thực hiện các chính sách đàn áp chính trị ác nghiệt gắn với “chiến tranh bẩn thỉu,” một chính sách về tự do hóa kinh tế mà đã tạo thành một sự tấn công chống lại các nhóm lao động, và một luật lao động mà đã được mô tả như hoàn thành sự tấn công dữ dội chưa từng thấy chống lại lao động.10

Bất chấp sự đàn áp của chính phủ, “các cuộc đình công phòng thủ” đã tăng lên sau cuộc đảo chính. Trong khi các công đoàn muốn hợp tác với quân đội đã hợp lại xung quanh CNT, vào đầu năm 1977 một số nghiệp đoàn đã thành lập Ủy ban 25 để phản đối chính phủ và dự án của nó về một luật lao động mới. Trong năm 1979 sự phản đối nghiệp đoàn đã tăng tốc, bắt đầu với cuộc tổng đình công đầu tiên dưới chế độ độc tài quân sự. Tập trung chủ yếu vào chính sách tiền lương, cuộc đình công đã vẫn chưa tạo thành một phong trào ủng hộ dân chủ. Không lâu sau, tuy vậy, trong phản ứng lại với luật lao động mới, phong trào lao động đã liên hiệp trong CUTA, mà đã tiến hành các hoạt động phản đối công khai trên nhiều mặt trận. Nó đã công bố một kế hoạch để đấu tranh với luật mới thông qua “các cuộc trưng cầu dân ý quốc gia” ở nơi làm việc; nó đã bắt đầu tiếp xúc với các đảng chính trị, các luật sư lao động, và ILO; và nó đã phát triển tổ chức của mình trong các tổ lao động thường xuyên. Các nghiệp đoàn riêng lẻ cũng đã đẩy mạnh hoạt động của mình. Mặc dù CUTA mau chóng chia rẽ, CGT đối lập “đã biểu lộ tính táo bạo tăng lên, đã làm việc để phát triển các mạng lưới tổ chức dày đặc hơn thông qua sự tiếp xúc với các diễn viên khác nhau bên trong xã hội, và đã đưa ra các lời kêu gọi trực tiếp đòi thay đổi chính sách lao động và bản thân chế độ.”11 Như thế, các nghiệp đoàn đã đi đầu trong việc huy động đối lập và thử điều phối các khu vực xã hội khác, cùng lúc các đảng chính trị đã bác bỏ sáng kiến và các nhóm kinh doanh đã bị chia rẽ.

Những sự chia rẽ công khai bên trong chế độ cai trị độc đoán đã nổi lên trong bối cảnh phản kháng lao động này, đã đi cùng với sự sa sút kinh tế. Với sự bất ổn xã hội tăng lên, sự kế vị của Tướng Viola theo đường lối mềm dẻo vào chức tổng thống tháng Ba 1981 đã trở thành tiêu điểm cho sự đối kháng dựa trên ý thức hệ giữa các sĩ quan chóp bu. Sự bất mãn của hải quân đã đặc biệt rõ rệt vì, ngoài việc đã bị hất cẳng khỏi “lượt của nó” trong sự kế vị, nó đã được đồng nhất với một cách tiếp cận cứng rắn và đã phản đối Viola, người đã ủng hộ một chính sách kinh tế thực dụng và các mối quan hệ được bình thường hóa hơn với các nghiệp đoàn dàn hòa.

Phe đối lập lao động đã góp phần vào sự bất lực của Viola để củng cố quyền lực. Ban đầu bị chia rẽ về sự hợp tác với Viola, phong trào công đoàn đã thống nhất lại theo một lập trường chống đối công khai và ủng hộ dân chủ khi đã trở nên rõ ràng rằng sự dàn hòa được hứa của Viola sẽ không sắp đến. Trong tháng Bảy 1981, CGT cất lên một cuộc tổng đình công khác, và dưới sự lãnh đạo của nó phe đối lập đã nuôi dưỡng một bầu không khí bất ổn và một ý thức “rằng xã hội dân sự đang vượt ra ngoài tầm kiểm soát” đến mức sự chống đối Viola đã tăng lên ngay cả bên trong ngành riêng của ông ta trong quân đội.12 Ngày 7 tháng Mười một, 1981, CGT đã kêu gọi một sự huy động quần chúng khác, và hai ngày sau Viola đã buộc phải từ chức.

Sự ra đi của Tướng Viola đã phơi bày các chia rẽ sâu sắc mà đã làm tổn thương sự kiểm soát chế định của quân đội đối với chính phủ. Với sự thất bại của những người mềm dẻo, tổng thống mới, Tướng Galtieri, đã quay lại lập trường độc đoán cứng rắn và đã lao vào cuộc xâm lấn Malvinas để xoa dịu hải quân thích phiêu lưu.

Theo lý lẽ thứ nhất, thì “các quan điểm khác nhau về làm thế nào để đối phó với xã hội đã tạo ra những sự chia rẽ nội bộ bên trong các Lực lượng Vũ trang.”13 Phe đối lập ủng hộ dân chủ của lao động đã ngăn chặn chế độ quân sự khỏi việc củng cố quyền lực và đã dẫn đến sự bất ổn định của nó bằng cách tăng cường và làm gia tăng những sự chia rẽ bên trong nó, mà sự phiêu lưu quân sự tai hại đã có ý định để sửa chữa.

Theo lý lẽ thứ hai, sự phản kháng lao động đã trực tiếp xúi giục quyết định của các tướng lĩnh để xâm lấn Malvinas. Như Ronaldo Munck diễn đạt, “sự phiêu lưu quân sự của các tướng lĩnh không thể được giải thích dưới dạng ‘quân sự’ thuần túy. . . . Chính đã là mức độ kiên định của sự phản kháng của giai cấp lao động từ 1976, mà đã chuyển từ pha phòng thủ sang pha tấn công vào 1982, mà riêng nó giải thích cuộc đánh bạc chính trị kỳ dị của các lực lượng vũ trang.”14

Sự chống đối và phản kháng đã tăng lên sau sự hất cẳng Viola. CGT đã tiến hành các bước để điều phối hoạt động chung với các đảng, bây giờ được tổ chức trong Multipartidaria, và vào ngày 30 tháng Ba, 1982, cùng với các nhóm quyền con người và các đảng chính trị, nó đã tổ chức cuộc biểu tình lớn nhất kể từ cuộc đảo chính 1976. Vào lúc này, “các cuộc biểu tình đông người của CGT đã đe dọa sự ổn định của chính phủ và đã có vẻ đẩy các nhà cai trị quân sự đến chỗ tiến hành một bước liều lĩnh. . . .”15 Ba ngày sau, Argentina đã xâm lấn quần đảo Malvinas. Trong sự giải thích này, nhằm để chống đỡ sự ủng hộ đối mặt với sự tấn công của đối lập, Galtieri đã kích hoạt các kế hoạch xâm lấn. Bằng việc khơi lại một sự nghiệp dân tộc chủ nghĩa có từ lâu đời ông đã hy vọng để tập hợp đất nước đứng sau chế độ.16

Trong cả hai diễn giải, cuộc xâm lấn đã là một nước đi liều lĩnh để duy trì chế độ ở trong tình trạng rối loạn sâu sắc rồi, và áp lực từ CGT, một cách trực tiếp hay gián tiếp, đã là một nguồn chủ yếu của vấn đề. Cuộc xâm lấn đã được tung ra hoặc để giải quyết các sự chia rẽ bên trong quân đội bị trầm trọng thêm bởi sự phản kháng lao động hoặc để đối phó với thách thức của sự huy động dân chúng đang tăng trong sự phản đối chế độ độc đoán mà trong đó CGT đã đóng một vai trò khởi xướng và điều phối trung tâm.

Canh bạc quân sự đã thất bại. Không chỉ Argentina đã thua cuộc chiến tranh xảy ra ngay sau đó chống lại Anh, mà cuộc xâm lấn đã thất bại để tháo ngòi phản kháng lao động. Mặc dù phong trào lao động đã ủng hộ chiến dịch quân sự, nó đã vẫn tích cực trong việc phản đối chế độ suốt thời gian chiến tranh. Vào giữa tháng Sáu 1982, với sự thua trận và sự huy động quần chúng tiếp diễn, quân đội mất tín nhiệm đã nhah chóng chuyển sang giải thoát mình bằng sắp đặt một chính phủ “tạm quyền” và công bố rằng cuộc tổng tuyển cử sẽ được tổ chức trong tháng Mười 1983.

Phong trào lao động đã là một người chơi quan trọng trong các pha còn lại của chuyển đổi. Chính phủ lâm thời đã thử đàm phán sự giải thoát của quân đội sâu hơn mức được thừa nhận chung, nhưng ba kế hoạch liên tiếp để hình thành chính phủ tiếp sau đã bị bác bỏ bởi Multipartidaria, mà trong đó phong trào nghiệp đoàn đã có ảnh hưởng nổi bật. Từ đầu đến cuối, “junta đã cố gắng đặc biệt để đàm phán sự chuyển đổi với các lãnh tụ nghiệp đoàn Peronist.”17 Dẫu tất cả các cố gắng này đã trở nên vô tích sự, đáng lưu ý rằng lao động đã là người đối thoại chính trong các nỗ lực này. Chiến thắng của Raúl Alfonsin trong các cuộc bầu cử 1983 đã hoàn tất sự chuyển đổi.

Tây Ban Nha

Theo hầu hết các tác giả, Tây Ban Nha là một trường hợp nguyên mẫu của dân chủ hóa bằng các cuộc thương lượng elite.18 Sự diễn giải chi phối về Tây Ban Nha xem quá trình dân chủ hóa như được bắt đầu đại thể với cái chết của Franco tháng Mười Một 1975 và chỉ ra sự lãnh đạo elite lão luyện trong môi trường thất thường kế tiếp để giải thích sự dân chủ hóa thành công. Đặc biệt quan trọng đã là kỹ năng của những người ôn hòa của chế độ, đáng chú ý nhất là Adolfo Suárez, trong việc theo đuổi các cuộc đàm phán dân chủ đồng thời với cả những người ôn hòa từ “phe đối lập dân chủ” lẫn các nhà liên tục, continuistas, của tổ chức Franco. Hơn nữa, bằng sự theo đuổi các cuộc thương lượng này và các cuộc cải cách tăng thêm, Suárez đã thu được sự ủng hộ cho sự dân chủ hóa được làm khéo léo một cách cẩn trọng này.

Sự diễn giải này bỏ sót vai trò cốt yếu được đóng bởi lao động.19 Thứ nhất, vào đầu các năm 1970, ngay cả trước cái chết của Franco, các áp lực lao động đòi một sự kết thúc sự cai trị độc tài đã gây ra một khủng hoảng chế độ sâu sắc. Thứ hai, các cuộc phản kháng lao động đầy kịch tính đã làm xói mòn các nỗ lực để thiết lập một hệ thống của “chủ nghĩa Franco mà không có Franco.” Cuối cùng, một khi chế độ đã bị làm cho bất ổn định, các yếu tố của phong trào lao động đã giúp xác định một chiến lược đối lập ôn hòa hơn mà đã cho phép Suárez thương lượng các thỏa thuận cuối cùng dẫn đến các cuộc bầu cử dân chủ tháng Sáu 1977. Như Maravall nói rõ:

áp lực dân chúng “từ dưới” đã đóng một phần cốt yếu trong chuyển đổi, đặc biệt áp lực từ phong trào công nhân. Chính nó đã là một nhân tố nhân quả trong khủng hoảng Francoist, trong sự không có khả năng đứng vững của bất cứ chính sách “tự do hóa” đơn thuần nào, trong sự sẵn lòng về phía “cánh hữu dân chủ” để thương lượng sự chuyển đổi và để thực hiện cải cách đến điểm đoạn tuyệt với chủ nghĩa Franco, và trong sáng kiến được bày tỏ bởi cánh Tả cho đến các cuộc bầu cử 1977.20

Phong trào lao động đã ở một vị thế đơn nhất để mở không gian bên trong chế độ độc đoán. Năm 1948 Đảng Cộng sản đã quyết định sử dụng các cuộc bầu cử nghiệp đoàn để thâm nhập cấu trúc chính thức, công ty, cuối cùng tạo thuận lợi cho sự nổi lên của các Ủy ban Công nhân song song, đối lập hơn. Theo các cách khác nhưng cộng sinh, cả các nghiệp đoàn chính thức và các Ủy ban bất hợp pháp đã trở thành các nơi quan trọng của sự phản đối và các kênh cho việc làm xói mòn chủ nghĩa độc đoán. Vào các năm 1960 đã là rõ rằng các nghiệp đoàn chính thức đã không hoạt động như các cơ chế tích hợp; các Ủy ban dấy lên sự phản kháng được giữ vững của giai cấp lao động; và tỷ lệ đình công trên đầu người đã trở nên cao nhất châu Âu. Đến cuối thập niên này chương trình nghị sự của phong trào lao động đã ngày càng chuyển từ các đòi hỏi ở nơi làm việc sang các đòi hỏi cho các quyền tự do chính trị rộng rãi. Chiều hướng của nó cũng đã chuyển theo hướng huy động nhắm đến lật đổ chế độ; Đảng Cộng sản và các lãnh tụ nghiệp đoàn đã bắt đầu thảo luận công khai về khả năng của một ruptura democrática (đoạn tuyệt dân chủ). Với sự thất bại của dự án lao động của nó, chính phủ đã buộc phải lựa chọn giữa sự đàn áp và sự mở cửa dân chủ.

Một phần như một hệ quả của đối lập lao động, những sự chia rẽ nghiêm trọng đã nổi lên bên trong chế độ. Những người cứng rắn ban đầu đã chiếm ưu thế, và sự đàn áp đã tăng lên từ 1967 đến 1973. Franco đã quyết định bảo đảm tương lai của chủ nghĩa độc đoán thông qua một nền quân chủ Francoist với Juan Carlos là vua. Thế nhưng sự đàn áp đã vô ích trong việc làm giảm sự phản kháng xã hội. Trong năm 1970 các cuộc đình công lao động đã tăng lên hơn 1.500,21 chủ nghĩa khủng bố dân tộc chủ nghĩa cũng đã gia tăng, và “chính phủ đã không có câu trả lời chính trị nào cho mức xung đột ngày càng tăng.”22 Những người mềm dẻo đã trở nên ngày càng lớn tiếng trong việc gây áp lực cho một sự thay đổi chính sách. Vào cuối 1972 và đầu 1973 Franco và thủ tướng của ông, Carrero Blanco, đã đáp lại trong các bài nói mà đã gợi ý rằng loại nào đó của sự mở cửa chính trị sẽ đến.

Sự phản kháng lao động được giữ vững trong năm 1973 đã giúp giữ chính phủ ở thế thủ trong việc tìm kiếm một công thức mới cho sự ổn định. Sau vụ ám sát Carrero Blanco tháng Mười Hai 1973, Franco đã chỉ định một người ôn hòa, Carlos Arias Navarro, mà chiến lược của ông đã để thiết lập một dictablanda, hay một chế độ độc tài ôn hòa hơn, nhưng chủ nghĩa tích cực lao động đã ngăn chặn sự ổn định hóa của nó. Các cuộc đình công đã tăng lên đột ngột dưới thời Arias lên số lớn nhất trong lịch sử Tây Ban Nha trong năm 1974. Kỷ lục đình công lại bị phá vỡ trong năm 1975. Trong phản ứng lại sự phản kháng lao động này, những người cứng rắn đã cố thủ, ủng hộ một sự đàn áp thẳng tay và chêm sâu sự chia rẽ vào chế độ. “Khi tin tức về bệnh của Franco được đưa ra. . . mọi thứ có vẻ cho thấy rằng chế độ đã trong khủng hoảng.”23 Trong các tháng mở đầu năm 1976 các cuộc đình công lao động và các cuộc biểu tình lại lần nữa đạt mức chưa từng thấy, nhưng đối mặt với sự tấn công này “quân đội đã vẫn bất lực.”24 Sự phản kháng lao động như thế đã làm xói mòn chiến lược tự do hóa hạn chế được Arias theo đuổi. Khi ông từ chức trong tháng Bảy 1976, đã trở nên rõ rằng, “nếu muốn tránh một sự đụng chạm thảm họa giữa lực lượng không thể cưỡng lại được của phái tả và mục tiêu không thể lay chuyển được của phái hữu, thì đã là cốt yếu rằng sự tiến bộ nhanh chóng phải đạt được cho việc đưa nền dân chủ vào.”25

Vào lúc Suárez trở thành thủ tướng, khi đó, phong trào lao động đã làm nhiều cả để gây bất ổn định chế độ độc đoán lẫn để bác bỏ các mưu toan của chính phủ để đáp ứng theo những cách thiếu dân chủ. Đã có vẻ rõ là chính phủ phải tìm cách nào đó để thực hiện một sự chuyển đổi nhanh chóng. Suárez đã hoàn thành nhiệm vụ này trong khoảng hai tháng. Ông đã nhận được sự chuẩn y của nội các về một dự án chuyển đổi mà đã ủy thác chính phủ tổ chức các cuộc bầu cử trong vòng một năm. Trong vòng hai tháng nữa, dự án đã được Cortes (cơ quan lập pháp) thông qua.

Các sự kiện này đáng suy nghĩ. Nhiệm vụ – và thắng lợi – của Suárez, như nhiều người đã nhấn mạnh, đã gồm không gì khác hơn việc thuyết phục Cortes để đồng ý thay thế chính nó trong một thời gian rất ngắn. Làm thế nào ông đã thành công? Vấn đề then chốt không phải Suárez đã có là một nhà đàm phán khéo léo không. Đúng hơn, cái ông ta đã làm có thể được xem như một sự giải thoát? Nói cách khác, Suárez, đã có thương lượng một sự giải thoát không, cho dù ông ta đã làm rất tốt, với những hệ lụy tích cực cuối cùng cho sự củng cố dân chủ? Là khó để tưởng tượng rằng một Cortes cố thủ sẽ tham gia nhanh đến vậy vào cái chết của chính nó mà không có mức áp lực cao của sự huy động phản đối và khủng hoảng chế độ. Ngay cả các nhà phân tích như Linz và Stepan, những người nhấn mạnh năng lực hành động của Suárez, đã nhắc đến “nỗi sợ về một khoảng trống quyền lực, về một sự chuyển giao đột ngột quyền lực cho các lực lượng đối lập khi đó khá cấp tiến,” trong việc thúc giục Suárez và các nhà cải cách để hành động.26

Vượt xa hơn vai trò của nó trong việc gây ra chuyển đổi, đối lập lao động cũng định hình cách nó đã diễn ra. Ngay cả trước khi Suárez lên cầm quyền, đối lập dân chủ, do Đảng Cộng sản, các nghiệp đoàn liên kết, và Đảng Xã hội chủ nghĩa lãnh đạo, đã nhận ra rằng nó đã không thể trực tiếp lật đổ chính phủ và đã từ bỏ chiến lược ruptura democrática để ủng hộ ruptura pactada (sự đoạn tuyệt được thương lượng), mà đã hình dung ra một chính phủ lâm thời và một Cortes lập hiến để quyết định chế độ kế tiếp. Dự án cải cách mà Suárez đã đề xuất tháng Mười và được Cortes thông qua tháng Mười Một 1976 đã giống với dự án này bằng quy định cuộc bầu cử cho quốc hội lập hiến, nhưng đã bác bỏ một chính phủ lâm thời. Một khi Suárez đã bày ra một sự đồng thuận đằng sau dự án chuyển đổi, phần còn lại đã đi nhanh chóng theo biểu thời gian được chấp nhận. Trong tháng Sáu 1977 các cuộc bầu cử tự do được tổ chức để chọn ra Cortes dân chủ, mà đã soạn ra một hiến pháp và đã quy định kết cấu định chế của nền dân chủ mới.

Mặc dù trong các tháng cuối cùng của chuyển đổi, đối lập lao động và cánh tả đã mất sức mạnh so với đối lập ôn hòa hơn, vai trò của chúng trong gây ra và định hình sự chuyển đổi phải không được đánh giá thấp. Họ đã đẩy nhanh sự chuyển đổi, và theo nhiều cách chiến lược ruptura pactada của họ đã cho sự chuyển đổi hình thức cá biệt của nó. Quả thực, các cuộc thảo luận và đàm phán đã xảy ra giữa chính phủ và các đảng phái tả, kể cả Đảng Cộng sản, mà đã được hợp pháp hóa trong thời gian chuyển đổi. Lý lẽ ở đây không phải là, lao động đã một mình gây ra cái chết của chủ nghĩa độc đoán hay đã xây dựng nền dân chủ mới. Cũng chẳng là, lao động đã là quan trọng nhất trong một dãy những người chơi (kể cả các nhà công nghiệp, các sinh viên, các nhà dân tộc chủ nghĩa xứ Basque và Catalan, và nhà vua). Tuy nhiên, lao động đã sử dụng áp lực không ngớt lên chế độ trong khoảng mười năm, và áp lực này đã tiếp tục trong bản thân các năm chuyển đổi. Bất chấp “sự điều độ” được nhắc đến rộng rãi của lao động trong các năm này, Pe´rez-Dı´az lưu ý đến sự “bùng nổ” về mức xung đột công nghiệp và hoạt động tập thể trong các năm 1976-79 và một sự tăng lương thực tế với tốc độ gần như gấp đôi trung bình OECD trong các năm 1973-79.27 Chắc chắn, Suárez đã sử dụng các công cụ pháp lý của hệ thống Francoist để dẫn đến sự thủ tiêu nó và đã chứng tỏ kỹ năng lãnh đạo đầy ấn tượng trong thương thuyết một sự đồng thuận rộng xung quanh sự chuyển đổi. Thế nhưng để bắt đầu câu chuyện dân chủ hóa Tây Ban Nha từ điểm này là đi chú tâm vào bước cuối cùng của một quá trình dài hơn và bỏ sót vai trò quan trọng của lao động. Sự phản kháng lao động đã làm bất ổn chế độ độc đoán, đã làm cho một cuộc cải cách mà dừng lại thiếu dân chủ hóa là không thể, và như thế đã buộc những người đương chức tiến hành một sự giải thoát khá nhanh.

Trò chơi Chuyển đổi

Hai nét của chuyển đổi Uruguay và Brazil khớp sát hơn mô hình chuẩn. Thứ nhất, các trò chơi chiến lược elite đã gồm một chuỗi kéo dài của các nước đi và các nước đi đối lại và các cuộc đàm phán chính thức và phi chính thức giữa các nhà quân sự đương chức và các lãnh tụ đảng. Các trò chơi chiến lược này đã xuất hiện trong một khung cảnh cá biệt mà ngay từ đầu quân đội đã tìm sự hợp pháp hóa thông qua một mã bề ngoài của sự cai trị dân sự hoạt động thông qua các nhóm được chọn của các chính trị gia và đấu trường bầu cử hạn chế. Như thế các chế độ này đã có dự án của những người đương chức mà đã xác định một trò chơi giữa chính phủ và lãnh tụ của các đảng chính trị được lựa chọn, dù được thành lập từ lâu (Uruguay) hay mới được thành lập dưới sự hướng dẫn của chính phủ (Brazil). Thứ hai, hoạt động tập thể của các tổ chức lao động đã xuất hiện tương đối muộn trong một quá trình lớn hơn về sự hoạt hóa và làm trẻ lại công dân và đã đi theo hoạt động của các lãnh tụ đảng, mà đã là những người đầu tiên xuất hiện và có vai vế chính yếu trong dự án hợp pháp hóa của chính phủ từ đầu.

Tuy nhiên, sự miêu tả này đánh giá thấp vai trò của sự phản đối của đông đảo dân chúng nói chung và của sự phản kháng lao động nói riêng. Các dự án hợp pháp hóa được các chính phủ quân sự chấp nhận đã bị làm xói mòn bởi sự phản đối dân chúng được biểu lộ trong đấu trường bầu cử hạn chế. Một cuộc trưng cầu dân ý 1980 đã đánh dấu thất bại đầu tiên của dự án chính phủ ở Uruguay, và các kết quả đối lập thu được trong các cuộc bầu cử 1974 đã báo trước sự thất bại của dự án chính phủ ở Brazil. Từ đó về sau cả hai chế độ đã rơi vào thế thủ; các nhà đương chức đã liên tục tranh giành để thay đổi dự án của họ và thay đổi các quy tắc của trò chơi chính trị khi đối mặt với một phe đối lập ngày càng ở thế tấn công. Căn cứ vào hình mẫu và mục tiêu của sự đàn áp, không gian cho các phong trào xã hội, và đặc biệt cho phong trào lao động, đã mở ra muộn hơn. Một khi nó đã nổi lên, tuy vậy, hoạt động lao động đã mạnh mẽ trong giai đoạn chuyển đổi cuối cùng.

Hơn nữa, các hoạt động của đối lập lao động đã làm xói mòn các cố gắng chính phủ để kiểm soát và hạn chế hệ thống đảng, đã tạo cơ hội cho sự tham gia của một phái tả chính trị, và đặc biệt quan trọng ở nơi các cuộc đàm phán chính thức (Uruguay) và phi chính thức (Brazil) giữa chính phủ và các lãnh tụ đảng lớn đã có thể dẫn đến một thỏa thuận để loại trừ các đảng cánh tả. Quả thực, trong cả hai trường hợp đảng Cộng sản đã vẫn bị cấm. Tuy nhiên, ở Brazil sự phản kháng lao động đã tạo ra một đảng xã hội mới dựa vào phong trào nghiệp đoàn mới, và ở Uruguay việc xây dựng lại phong trào lao động và các hoạt động phản kháng của nó đã cung cấp một lối ra cho Frente Amplio (Mặt trận Rộng) bị cấm, sự tham gia của nó vào các diễn đàn đối lập khác nhau, và cuối cùng sự hợp pháp hóa và sự tham gia của nó vào các cuộc đàm phán cuối cùng, như thế cho phép sự chuyển đổi bị sa lầy tiến lên.

Brazil

Ở Brazil, phong trào hướng tới một chế độ dân chủ đã được khởi xướng một cách tự trị bởi các nhà độc đoán đương chức, những người đã lên nắm quyền trong một cuộc đảo chính quân sự năm 1964.28   Lúc bắt đầu quân đội đã tìm sự hợp pháp hóa qua một hệ thống hai đảng bị kiểm soát hoạt động trong một không gian bầu cử rất hạn chế. Năm 1974, sau một thời gian áp chế hơn, các nhà quân sự mềm dẻo đã giành lại ưu thế và trong nhiệm kỳ tổng thống của Tướng Geisel đã lập lại một giai đoạn “giảm sức ép.”

Với giảm sức ép, lãnh đạo của đảng đối lập được công nhận chính thức đã tìm thấy không gian cho hoạt động tự trị hơn và đã có được kết quả tăng thêm trong bầu cử năm 1974 và lần nữa năm 1976. Với sự thất bại để bày ra sự mở cửa chính trị có lợi cho đảng thân chính phủ và sự tăng lên của nhiều nhóm xã hội dân sự kêu gọi sự chuyển đổi dân chủ, quân đội đã đóng cửa quốc hội và đã thao túng thêm luật bầu cử để tái lập sự kiểm soát nào đó.

Tại điểm này, trong cuối các năm 1970, phong trào lao động đã đột nhiên xuất hiện trên sân khấu chính trị. Quá trình bị hạn chế hơn về tự do hóa đã biến thành một quá trình dân chủ hóa, mà trong đó các hệ thống đảng và bầu cử đã được mở. Quá trình này cuối cùng đã đạt đỉnh điểm trong việc bầu (gián tiếp) một tổng thống dân sự trong năm 1985. Là khó để xác định các hoạt động của phong trào lao động đã có tính quyết định ra sao trong những tiến triển này, căn cứ vào những sự xâm nhập đã được tiến hành rồi bởi đảng đối lập và các nhóm xã hội khác. Tuy nhiên, chúng đã định hình một cách cơ bản quá trình chuyển đổi.

Bị đàn áp tiếp sau một cuộc đình công năm 1968, phong trào lao động đã phát triển một hình thức kháng cự mới trong đầu các năm 1970. Vào năm 1978, đặc biệt trong các nhà máy ôtô đa quốc gia, nó đã kết tinh lại trong chủ nghĩa nghiệp đoàn mới, mà “đã báo hiệu sự tồn tại của sự bất mãn to lớn, được tổ chức đối với chế độ, và. . . đã tạo thành một bằng chứng hùng mạnh rằng dân chủ hóa đã là cần thiết để giải quyết khả năng xung đột xã hội.”29  Cuộc đình công của công nhân ngành kim khí năm 1978 đã lan ra hơn nửa triệu công nhân.30 Một trong những làn sóng đình công lớn nhất trong lịch sử Brazil đã tiếp theo trong năm 1979, khi hơn ba triệu công nhân đã tham gia trong hơn một trăm cuộc đình công.31

Sự sống lại đột ngột này của phong trào lao động đã đặt nó vào hàng đầu của một phổ rộng của các phong trào xã hội nổi lên khi đó đối lập với chế độ độc đoán. Mặc dù nhiều trong các hoạt động của nó đã bắt đầu như các đòi hỏi của công nhân, các cuộc phản kháng đã nhanh chóng trở nên mang tính chính trị công khai. Ban đầu dựa vào nhà máy, phong trào dẫn đầu bởi lao động đã lan ra theo hai hướng bổ sung nhau. Hướng đầu tiên vượt xa hơn khu vực nghiệp đoàn sang các vùng lân cận và cộng đồng giai cấp lao động lớn hơn, nơi các cuộc phản kháng lao động đã có được sự tham gia tích cực và sự ủng hộ vật chất của các nhóm nhà thờ và cộng đồng lớn hơn. Thứ hai, phong trào lao động đã vượt xa hơn các vấn đề của công nhân hẹp hơn để bênh vực các đòi hỏi và lo âu của các giai cấp thấp hơn nói chung. Mặc dù nhiều nhóm đã bày tỏ tình cảm chống độc đoán rồi, phong trào lao động đã đồng nhất mình với một khối cử tri rộng và đã đóng một vai trò quan trọng trong việc xây dựng và lãnh đạo một phong trào quần chúng thống nhất hơn, ủng hộ dân chủ.32 Ngoài ra, các lãnh tụ lao động đã trở thành các nhân vật chính trị quốc gia quan trọng, trình bày rõ ràng các đòi hỏi chính trị rộng.

Khi chính phủ, tranh giành một cách phòng thủ để chia rẽ phe Đối lập, đã bỏ rơi dự án hai đảng của nó, các nghiệp đoàn đã tổ chức một Đảng Công nhân xã hội, làm vỡ mộng thêm cố gắng của chính phủ để xua đuổi cánh tả. Đảng này được dùng như một “công cụ đấu tranh cho việc chinh phục quyền lực chính trị” bằng đón nhận một chiến lược chính trị công khai dựa trên cơ sở của sự đạt được một chế độ dân chủ.33 Như thế, bộ phận lãnh đạo lao động đã được mở rộng từ hoạt động dựa vào nghiệp đoàn không chỉ tới một phong trào xã hội rộng hơn, nhưng cũng tới một tổ chức chính trị. Vào năm 1983 sự huy động lao động đã lên cực điểm trong một cuộc đình công của hơn ba triệu công nhân, và năm tiếp theo các công nhân đã tham gia vào một chiến dịch ồ ạt cho các cuộc bầu cử trực tiếp tổng thống. Mặc dù chiến dịch đã không thành công trong các mục tiêu trực tiếp của nó, nó đã giúp làm sâu sắc cuộc khủng hoảng kế vị mà chính phủ đối mặt và buộc chính phủ cho phép một thắng lợi đối lập khi cử tri đoàn chọn tổng thống dân sự đầu tiên trong năm 1985.

Kể từ đây lao động có tổ chức đã đóng một vai trò quan trọng trong chuyển đổi Brazil. Nó đã cung cấp nhiều hơn là áp lực quần chúng được các lãnh tụ đảng truyền thống sử dụng trong theo đuổi các chiến lược riêng của họ. Sự phản kháng và huy động lao động đã chịu trách nhiệm trực tiếp về việc mở rộng không gian chính trị và bầu cử để bao gồm một lực lượng mới về phía tả và về đảm bảo tính hợp pháp và sự tham gia của Đảng Công nhân Brazil dựa vào nghiệp đoàn.

Uruguay

Chế độ độc tài Urugay đã không hình thành trong một cuộc đảo chính quân sự dứt khoát mà đúng hơn trong một quá trình hai mặt mà trong đó dân chủ bị xói mòn và quân đội đã từ từ tăng sự tự trị của nó và đã tiếp quản khi nó tiến hành một “cuộc chiến tranh nội bộ” chống các du kích đô thị. Chế độ bị quân đội chi phối như thế đã tiếp tục tìm kiếm sự hợp pháp hóa bầu cử và sự cộng tác của các đảng chính trị. Như ở Brazil, quân đội Uruguay đã tự cam kết theo các cuộc bầu cử được dự định đều đặn và đã phát triển các dự án cho một chế độ mới. Đồng thời, phong trào lao động đã là một diễn viên ủng hộ dân chủ quan trọng trong quá trình chuyển đổi và đã có vai vế nổi bật trong các sự kiện dẫn đến việc sắp đặt một chế độ dân chủ năm 1985.34

“Cuộc đảo chính từ từ” đã hoàn tất năm 1973, mặc dù ban đầu quân đội đã tiếp tục cai trị đằng sau mã ngoài dân sự của tổng thống được bầu và đã duy trì cam kết của nó để tổ chức các cuộc bầu cử được dự định cho 1976. Khi các cuộc bầu cử đến gần, quân đội đã bỏ cam kết đó và vẽ ra kế hoạch mới cho “sự tái dân chủ hóa hạn chế” dưới sự kiểm soát quân sự và đã tạo ra một cơ quan dân sự-quân đội được giao việc soạn một hiến pháp, mà sẽ được trình cho một cuộc trưng cầu dân ý vào năm 1980.35 Khi trưng cầu dân ý được tổ chức, những người bỏ phiếu đã làm thất bại hiến pháp, quăng dự án chính phủ trệch đường. Lại một lần nữa dựa vào sự cộng tác đảng, quân đội đã bắt đầu các cuộc đàm luận với các đảng truyền thống và đã đề xuất một sự chuyển đổi trong năm 1985 theo một hiến pháp mới nó sẽ đàm phán với các đảng. Để phục hồi các đảng, một luật mới, được soạn trong sự cộng tác với các lãnh tụ đảng, đã kêu gọi các cuộc bầu cử sơ cấp (chọn ứng viên của đảng) trong năm 1982. Các cuộc bầu cử sơ cấp đã giáng cho quân đội một thất bại nữa: thay cho sự thanh lọc các đảng ủng hộ các phe phái cộng tác như dự kiến, các phe phái ít thân chính phủ hơn đã thắng lợi.

Các năm tiếp sau đã được phân tích về mặt các chiến lược “đòn poker” của các đảng, các đường lối cứng rắn và mềm dẻo hơn thay nhau của chính phủ, và các nước đi và các nước đi đối lại của một trò chơi chiến lược elite. Với những sự dừng lại và khởi động, các cuộc thương thuyết chính thức đã xảy ra giữa quân đội và các lãnh tụ đảng, lên đến cực điểm trong Hiệp ước Naval Club năm 1984, được ký bởi những người tham gia, mà cuối cùng đã bao gồm các đảng cánh tả trừ đảng Cộng sản. Phù hợp với các thỏa thuận được sắp đặt trong hiệp ước, các cuộc bầu cử đã được tổ chức muộn hơn trong năm đó, và một chính phủ dân chủ đã lên nắm quyền năm 1985.

Sự miêu tả tiêu chuẩn này bỏ sót câu chuyện thêm từ dưới mà trong đó phong trào lao động đã đóng một phần quan trọng. Việc lao động có tổ chức đã là một diễn viên khát khao ủng hộ dân chủ có thể được thấy trong sự phản kháng ban đầu của nó. Ngày mà quân đội đi nước đi cuối cùng để bảo đảm sự kiểm soát chính trị của nó bằng cách đóng cửa cơ quan lập pháp năm 1973, công nhân đã bắt đầu một cuộc tổng đình công chống lại chế độ độc tài, bằng cách ấy nổi lên như nhóm duy nhất biểu lộ công khai sự phản đối của nó. Trong hai tuần lễ hàng ngàn công nhân đã chiếm các nhà máy, đã gây ra các hành động phá hoại, và đã đóng cửa hẳn nền kinh tế cho đến khi cuộc đình công bị vỡ. Nếu phong trào lao động đã không được nghe thấy trong các năm tiếp sau, thì đã là do sự đàn áp kế tiếp sau mà trong đó các nghiệp đoàn bị triệt phá và nhiều lãnh tụ bị bắt hoặc bị buộc đi lưu vong.

Các diễn viên quần chúng đã lại nổi lên trong mối quan hệ với ba sự tiến triển. Thứ nhất đã là sự thất bại choáng váng giáng xuống quân đội trong cuộc trưng cầu dân ý 1980, không phải bởi vì các đảng đối lập đã hầu như không có một cơ hội để huy động, mà bởi vì toàn bộ cử tri đã quen bỏ phiếu để bác bỏ dự án của quân đội. Đã được gợi ý rằng, tuy các nghiệp đoàn lúc đó cũng đã bị đàn áp gay gắt, các công nhân đã đóng một vai trò bí mật quan trọng trong việc vận động cho thắng lợi của phiếu “chống”.36 Bất chấp sự xuất hiện của “những người thay thế” cho các lãnh tụ chính trị bị lưu đày hay bị bỏ tù của các đảng và các phe phái bất cộng tác, trưng cầu dân ý đã rõ ràng là một trường hợp của hành động quần chúng và thắng lợi từ bên dưới.

Thứ hai, kết cục của các cuộc bầu cử sơ bộ của đảng đã có thể bị ảnh hưởng đáng kể bởi hoạt động nghiệp đoàn. Một luật của năm trước đã cho phép các nghiệp đoàn ở mức doanh nghiệp. Mặc dù luật đã rất hạn chế, trong một quyết định được tranh luận các công nhân đã quyết định không bác bỏ nó mà tận dụng nó cả để tổ chức một cách công khai lẫn để có được sự bảo vệ pháp lý nào đó. Từ đầu, các nghiệp đoàn doanh nghiệp này đã có một cương lĩnh chính trị dân chủ, như thế các cuộc bầu cử sơ bộ đã xảy ra trong một giai đoạn vận động lao động ngày càng tăng.

Thứ ba, và rõ ràng hơn, sự tự do hóa hạn chế tiếp sau trưng cầu dân ý đã tạo ra không gian cho đối lập để vận động. Cùng với các nhà hoạt động ngành đồng, phong trào nghiệp đoàn đã bắt đầu sống lại trong năm 1982, đầu tiên ở mức doanh nghiệp và sau đó ở mức quốc gia khi Toàn thể Liên-Nghiệp đoàn Công nhân (PIT) được thành lập. Gắn với dân thường, PIT đã có năng lực đặc biệt cho huy động quần chúng. Vào ngày Lao động Quốc tế 1983 PIT đã tiến hành cuộc biểu tình lớn đầu tiên kể từ 1973, thu hút được khoảng 100.000 đến 200.000 người, và đã dứt khoát kêu gọi quay trở lại các quyền tự do dân chủ ngay lập tức. 37 Cuộc biểu tình ngày 1 tháng Năm đã phóng PIT lên vị trí lãnh đạo của phong trào xã hội và, theo Caetano và Rilla, đã biểu trưng cho một sự thay đổi chất lượng trong quan điểm chính trị về chuyển đổi.38

Trong năm tiếp theo, các diễn viên tập thể, đặc biệt PIT, đã định nhịp độ và đã lãnh đạo đối lập ủng hộ dân chủ. Đối mặt với áp lực không ngớt từ sự phản kháng quần chúng, cuối cùng quân đội đã buộc phải rút lui. Trong đầu năm 1983 quân đội đã thử thảo một bản hiến pháp mới nữa, nhưng vào cuối năm các quân khu quan trọng của quân đội đã buông rơi ý tưởng này và thay vào đó đã bắt đầu tập vào việc tìm “lối ra tốt nhất.”39

Cuộc tổng đình công được PIT kêu gọi trong tháng Giêng 1984 đã cho cú hích quyết định để quân đội rút lui. Trước đây, nó đã đáp lại sự huy động gia tăng với sự đàn áp tăng lên. Sau cuộc đình công nó đã bãi bỏ kiểm duyệt và đã cho phép lãnh tụ Cộng sản của Frente Amplio cánh tả trở về nước. Cuộc đình công cũng đã làm thay đổi mối quan hệ giữa các đảng truyền thống và phong trào xã hội. Sanguinetti, lãnh tụ của phái đối lập của Đảng Colorado, thực tế đã xin lỗi PIT vì sự phản đối của đảng ông đối với cuộc đình công tháng Giêng thành công và đã đề xuất một sự tổ chức lại đối lập dân chủ để điều phối hoạt động của các đảng (kể cả cánh tả) và PIT trong một  Multipartidaria mới.

Trong các tháng tiếp theo Multipartidaria đã bắt đầu các cuộc thương lượng trước với chính phủ, trong khi giữ vững áp lực bằng cách kêu gọi một chuỗi các cuộc đình công tượng trưng một ngày. Các cuộc đình công này đã thành công trong gây sức ép chính phủ đưa ra những nhượng bộ, kể cả việc hợp pháp hóa, vào cuối tháng Bảy 1984, Frente Amplio và các đảng hợp thành nó, trừ Đảng Cộng sản và Tupamaros. Các cuộc thương lượng đã đi đến một sự kết thúc nhanh trong Hiệp ước Naval Club, được ký trong tháng Tám, mà trong đó quân đội đã nhận được rất ít (ứng viên Blanco được lòng dân nhất cũng như một số Frentista đã bị loại trừ trong khỏi việc chạy đua trong các cuộc bầu cử chuyển đổi tháng Mười Một). Các cuộc phản kháng của PIT như thế đã quan trọng không chỉ trong thúc đẩy chuyển đổi tiến triển, mà cả trong việc thành lập Multipartidaria như một phe đối lập bao gồm hơn mà đã đàm phán sự kết thúc của chế độ độc đoán.

Kết luận

Mặc dù là sai để coi các tổ chức lao động như lực lượng chính đằng sau dân chủ hóa vào cuối thế kỷ thứ hai mươi, văn liệu như một tổng thể đã sai lầm theo hướng khác khi miêu tả các sự chuyển đổi chủ yếu như một dự án elite, một sự đàm thoại giữa các quý ông, với sự phản kháng lao động có tương đối ít tầm quan trọng. Nó đã làm vậy cho dù các phân tích case-study bởi các nhà chuyên môn quốc gia đã thường xuyên chỉ ra vai trò then chốt của hành động tập thể nói chung và sự phản kháng lao động nói riêng. Vì thế có một sự tách rời giữa bằng chứng được trình bày trong tài liệu case-study và các diễn giải chung được đưa ra trong văn liệu về chuyển đổi.

Vì sao các học giả nghiên cứu sự chuyển đổi từ một viễn cảnh lý thuyết so sánh lại đã không nhận ra tầm quan trọng của các công nhân và các diễn viên tập thể khác? Sự bỏ quên theo lối kinh nghiệm về phía các nhà lý luận so sánh không phải là lý do. Sự bất đồng của chúng tôi không phải là về các sự thực: chúng tôi đã dựa vào cùng văn liệu thứ cấp như những người ủng hộ khung khổ chi phối và, ở nơi liên quan, chúng tôi thậm chí đã dùng nghiên cứu gốc của riêng họ. Đúng hơn, chúng tôi không thống nhất về bộ khung giải tích (analitical framing). Trong việc nhất thiết ban đặc ân cho vài khía cạnh của thực tế hơn các khía cạnh khác, các khung khổ có thể là hữu ích trong soi sáng các vấn đề cá biệt, nhưng không được biến chúng thành bá chủ.

Khung khổ gốc đã thích hợp trong việc coi chiến lược dựa vào lãnh đạo như vấn đề cho việc đạt dân chủ hóa. Tuy vậy, khung khổ này không hoạt động tốt cho những mối quan tâm giải tích khác. Khi được chấp nhận tổng quát hơn, nó trở thành một sự quan niệm hóa về chuyển đổi dân chủ như cơ bản được dẫn dắt bởi và cuối cùng “về” động học bên trong elite và hoạt động chính trị bên trong nhà nước, trong khi nó bỏ qua các câu hỏi quan trọng khác. Các học giả làm việc bên trong các giả thiết của khung khổ chi phối thiếu các công cụ để khái niệm hóa vai trò của đối lập xã hội một cách thích đáng, ngay cả khi họ rõ ràng muốn thừa nhận tầm quan trọng của nó. Linz và Stepan, chẳng hạn, thừa nhận rằng cải cách chính trị Tây Ban Nha đã xảy ra trong một “khung cảnh áp lực xã hội lên cao cho, và những kỳ vọng về, sự thay đổi” và rằng “áp lực dân chúng đã giữ cho chuyển đổi tiến triển.” Thế nhưng họ chống lại việc đặt vai trò của áp lực quần chúng và hoạt động tập thể vào một mức ngang với sự thương lượng elite và định rõ Tây Ban Nha là “một ‘chuyển đổi do chế độ khởi xướng’ mặc dù dưới áp lực của xã hội.”40

Nói tóm lại, phân tích của chúng tôi đã bổ sung cho sự tập trung vào các elite với sự tập trung vào hoạt động tập thể bằng cách chú ý đặc biệt đến phong trào lao động. Trong các giai đoạn ban đầu của dân chủ hóa, sự huy động lao động trong hình mẫu gây bất ổn định/giải thoát đã góp phần vào sự chia rẽ giữa những người độc đoán đương chức, những người trước đó đã không có dự án chuyển đổi nào. Trong các giai đoạn tương đối sớm của trò chơi chuyển đổi sự phản kháng lao động ủng hộ dân chủ đã giúp làm trật bánh các dự án hợp pháp hóa của những người đương chức.

Trong các giai đoạn muộn hơn của chuyển đổi sự huy động lao động đã có hai tác động. Thứ nhất, phụ thuộc vào hình mẫu, sự phản kháng đã kích hoặc đẩy nhanh sự chuyển đổi và giữ cho nó đi đúng hướng. Những tác động này đã là hệ quả của áp lực được sử dụng cho đến tận cuối. Bằng chứng tình thế của chúng tôi như thế đặt thành vấn đề nghi ngờ viễn cảnh rằng sự kiềm chế lao động trong pha chuyển đổi cuối cùng đóng góp cho dân chủ bằng cách thuyết phục các elite rằng dân chủ có thể dẫn tới trật tự xã hội và chính trị, vì thế tạo thuận lợi cho các cuộc đàm phán elite.41 Trên thực tế, các mức huy động lao động chưa từng có đã xảy ra ở Tây Ban Nha suốt đến tận các cuộc bầu cử năm 1977; sự phản kháng lao động ở Peru đã tiếp tục cho đến các cuộc bầu cử quốc hội lập hiến; áp lực của hoạt động tập thể, kể cả phản kháng lao động, đã tăng tốc ở Brazil trong giai đoạn cuối cùng; và phong trào lao động ở Uruguay đã tiếp tục diễu võ dương oai qua một chuỗi các cuộc đình công một ngày.

Thứ hai, sự huy động và phản kháng đã khiến cho các đảng có cơ sở lao động được một chỗ giữa những người đàm phán và cả trong chế độ kế tiếp. Các Peronist ở Argentina, Đảng Cộng sản Tây Ban Nha, cánh tả Peru, và ở mức độ nào đó Frente Amplio của Uruguay tất cả đã có được một chỗ. Ngay cả tại Brazil, nơi không vai trò thương lượng nào đã đạt được, hoạt động tập thể đã làm nền cho việc thành lập Đảng Công nhân xã hội chủ nghĩa Brazil. Hoạt động tập thể của các phong trào lao động như thế đã đóng vai trò dân chủ then chốt không chỉ trong đẩy tới một sự chuyển đổi, mà cả trong sự mở rộng không gian chính trị và phạm vi tranh luận trong chế độ dân chủ mới.

Ruth Berins Collier  James Mahoney

——

GHI CHÚ

Ruth Berins Collier muốn tri ân sự ủng hộ của Center for Advanced Study in the Behavioral Sciences và National Science Foundation (Grant No. SBR-9022192). Các tác giả cũng muốn cảm ơn David Collier, Giuseppe Di Palma, Robert Fishman, Guillermo O’Donnell, Gabriela Ippolito-O’Donnell, và Philippe Schmitter vì các bình luận của họ.

  1. Mẫu mực của khung khổ này là Guillermo O’Donnell and Philippe C. Schmitter, Transitions from Authoritarian Rule: Tentative Conclusions about Uncertain Democracies (Baltimore: The Johns Hopkins University Press, 1986). Xem cả James Malloy and Mitchell Seligson, eds., Authoritarians and Democrats: Regime Transition in Latin America (Pittsburgh: University of Pittsburgh Press, 1987); Enrique Baloyra, ed., Comparing New Democracies: Transition and Consolidation in Mediterranean Europe and the Southern Cone (Boulder: Westview, 1987); Giuseppe Di Palma, To Craft Democracies: An Essay on Democratic Transitions (Berkeley: University of California Press, 1990); John Higley and Richard Gunther, eds., Elites and Democratic Consolidation in Latin American and Southern Europe (Cambridge: Cambridge University Press, 1992).
  2. O’Donnell and Schmitter, Transitions, pp. 52, 55.
  3. Về sự thảo tỉ mỉ của sự phân biệt ban đầu của Linz giữa sự chuyển đổi bằng reforma và chuyển đổi bằng ruptura, xem Juan Linz, ‘‘Some Comparative Thoughts on the Transition to Democracy in Portugal and Spain,’’ trong Jorge Braga de Macedo and Simon Serfaty, eds., Portugal Since the Revolution: Economic and Political Perspectives (Boulder: Westview, 1981); Donald Share and Scott Mainwaring, ‘‘Transitions through Transaction: Democratization in Brazil and Spain,’’ trong Wayne Selcher, ed., Political Liberalization in Brazil: Dynamics, Dilemmas, and Future Prospects (Boulder: Westview, 1986); Samuel Huntington, The Third Wave: Democratization in the Late Twentieth Century (Norman: University of Oklahoma Press, 1991); J. Samuel Valenzuela, ‘‘Democratic Consolidation in Post-Transitional Settings: Notion, Process, and Facilitating Conditions,’’ trong Scott Mainwaring, Guillermo O’Donnell, and J. Samuel Valenzuela, eds., Issues in Democratic Consolidation (Notre Dame: University of Notre Dame Press, 1992).
  4. Phân tích này dựa chủ yếu vào Nigel Haworth, ‘‘The Peruvian Working Class, 1968 – 1979,’’ trong David Booth and Bernardo Sorj, eds., Military Reformism and Social Classes: The Peruvian Experience, 1968 – 1980 (London: Macmillan, 1983); Julio Cotter, ‘‘Military Interventions and ‘Transfer of Power to Civilians’ in Peru,’’ trong Guillermo O’Donnell, Philippe Schmitter, and Laurence Whitehead, eds., Transitions from Authoritarian Rule: Latin America (Baltimore: The Johns Hopkins University Press, 1986); Nigel Haworth, ‘‘Political Transition and the Peruvian Labor Movement,’’ trong Edward Epstein, ed., Labor Autonomy and the State in Latin America (Boston: Unwin Hyman, 1989); Henry Pease Garcı´a, Los caminos del poder: Tres an˜ os de crisis en la escena polı´tica (Lima: DESCO, 1979); Cynthia McClintock, ‘‘Peru: Precarious Regimes, Authoritarian and Democratic,’’ trong Larry Diamond, Juan Linz, and Seymour M. Lipset, eds., Democracy in Developing Countries: Latin America (Boulder: Lynne Rienner, 1989); Latin American Bureau, Peru: Paths to Poverty (London: Latin American Bureau, 1985); Henry Dietz, ‘‘Elites in an Unconsolidated Democracy: Peru During the 1980s,’’ trong Higley and Gunther, eds. Elites and Democratic Consolidation; Julio Cotler, Democracia e integracio´n nacional (Lima: Instituto de Estudios Peruanos, 1980).
  5. David Scott Palmer, Peru: The Authoritarian Tradition (New York: Praeger, 1980), p. 114.
  6. Dietz, ‘‘Elites in an Unconsolidated Democracy,’’ p. 241.
  7. Latin American Bureau, p. 70.
  8. Haworth, ‘‘The Peruvian Working Class,’’ p. 76.
  9. Phân tích này dựa chủ yếu vào Gerardo Munck, ‘‘State Power and Labor Politics in the Context of Military Rule: Organized Labor, Peronism, and the Armed Forces in Argentina, 1976 – 1983,’’ (Ph.D. diss., University of California, San Diego, 1990); Andres Fontana, Fuerzas armadas, partidos politicos y transicio´ n a la democracia en Argentina (Buenos Aires: Estudios CEDES, 1984); Ariel Colombo and V. Palermo, Participacio´ n politica y pluralism en la Argentina contempora´ nea (Buenos Aires: Centro Editor de Ame´ rica Latina, 1985); Edward Epstein, ‘‘Labor Populism and Hegemonic Crisis in Argentina,’’ trong Epstein, ed.; Ronaldo Munck, Argentina: From Anarchism to Peronism (London: Zed Books, 1987); James McGuire, ‘‘Interim Government and Democratic Consolidation: Argentina in Comparative Perspective,’’ trong Yossi Shain and Juan Linz, eds., Interim Governments and Transitions to Democracy (Cambridge: Cambridge University Press, 1996).
  10. G. Munck, ‘‘State Power and Labor Politics,’’ pp. 268 – 84.
  11. Ibid., pp. 305 – 6.
  12. Ibid., pp. 318 – 19.
  13. Ibid., p. 326.
  14. R. Munck, Argentina: From Anarchism to Peronism, pp. 78, 79.
  15. G. Munck, ‘‘State Power and Labor Politics,’’ p. 327.
  16. R. Munck, Argentina: From Anarchism to Peronism, p. 79.
  17. McGuire, ‘‘Interim Government and Democratic Consolidation,’’ p. 189.
  18. Xem, thí dụ, Huntington, The Third Wave, pp. 125 – 27; Share and Main- waring; Linz, ‘‘Some Comparative Thoughts’’; Kenneth Medhurst, ‘‘Spain’s Evolutionary Pathway from Dictatorship to Democracy,’’ trong Geoffrey Pridham, ed., New Mediterranean Democracies: Regime Transition in Spain, Greece, and Portugal (Totowa: Frank Cass, 1984); Di Palma, To Craft Democracies, pp. 6 –8; Richard Gunther, ‘‘Spain: The Very Model of the Modern Elite Settlement,’’ trong Higley and Gunther, eds.; Terry Lynn Karl and Philippe Schmitter, ‘‘Modes of Transition in Latin America, Southern and Eastern Europe,’’ International Social Science Journal, 128 (May 1991); Juan Linz and Alfred Stepan, Problems of Democratic Transition and Consolidation: Southern Europe, South America and Post-Communist Europe (Baltimore: The Johns Hopkins University Press, 1996).
  19. Thêm vào các nguồn trong chú thích trước, thảo luận này dựa chủ yếu vào Jose´ Maravall, The Transition to Democracy in Spain (London: Croom Helm, 1982); Jose´ Maravall, Dictatorship and Dissent (London: Tavistock, 1978); Raymond Carr and Juan Pablo Fusi Aizpurua, Spain: Dictatorship to Democracy (London: George Allen & Unwin, 1979); Paul Preston, The Tri- umph of Democracy in Spain (London: Methuen, 1986); Robert Fishman, Working-Class Organization and the Return of Democracy in Spain (Ithaca: Cornell University Press, 1990); Victor Pe´ rez-D´ıaz, The Return of Civil Society: The Emergence of Democratic Spain (Cambridge: Harvard University Press,

1993); Joe Foweraker, ‘‘The Role of Labor Organizations in the Transition to Democracy in Spain,’’ trong Robert Clark and Michael Haltzel, eds., Spain in the 1980s: The Democratic Transition and a New International Role (Cambridge: Ballinger, 1987); Jose´ Fe´ lix Tezanos, Ramo´n Cortarelo, and Andre´ s de Blas, eds., La transicio´ n democra´ tica espan˜ ola (Madrid: Sistema, 1989).

  1. Maravall, The Transition to Democracy, p. 14.
  2. Maravall, Dictatorship and Dissent, p. 33.
  3. Car and Fusi, Spain: Dictatorship to Democracy, p. 192.
  4. Ibid., pp. 205 – 6.
  5. Ibid., p. 210.
  6. Preston, The Triumph of Democracy in Spain, p. 91.
  7. Linz and Stepan, Problems of Democratic Transition, p. 92.
  8. Pe´ rez-D´ıaz, the Return of Civil Society, pp. 238 – 39, 242.
  9. Phân tích này dựa chủ yếu vào Thomas Skidmore, The Politics of Military Rule in Brazil, 1964 – 1985 (New York: Oxford University Press, 1988); Maria Helena Moreira Alves, State and Opposition in Military Brazil (Austin: Uni- versity of Texas Press, 1985); Gay Seidman, Manufacturing Militance: Workers’ Movements in Brazil and South Africa, 1970 – 1985 (Berkeley: University of California Press, 1994); Margaret Keck, The Workers’ Party and Democratization in Brazil (New Haven: Yale University Press. 1989); Maria Helena Moreira Alves, ‘‘Trade Unions in Brazil: A Search for Autonomy and Organization,’’ trong Epstein, ed. Labor Autonomy and the State in Latin America.
  10. Keck, The Workers’ Party, p. 42.
  11. Alves, State and Opposition, pp. 194 – 97.
  12. Ibid., p. 199.
  13. Seidman, Manufacturing Militance, p. 197.
  14. Ibid., p. 169.
  15. Phân tích này dựa chủ yếu vào Gerardo Caetano and Jose´ Rilla, Breve historia de la dictadura (1973 – 1985) (Montevideo: CLAEH/Ediciones de la Banda Oriental, 1991); Luis Gonza´ lez, Political Structures and Democracy in Uruguay (Notre Dame: University of Notre Dame Press, 1991); Charles Gillespie. Negotiating Democracy: Politicians and Generals in Uruguay (Cambridge: Cambridge University Press, 1991); Juan Rial, Partidos polı´ticos, democracia y autoritarismo (Montevideo: CESU/Ediciones de la Banda Oriental, 1984); Gero´ nimo De Sierra, El Uruguay post-dictadura: Estado-polı´tica-actores (Montevideo: Facultad de Ciencias Sociales, Universidad de la Repu´ blica, 1992): Martin Gargiulo, ‘‘The Uruguayan Labor Movement in the Post-Au- thoritarian Period,’’ trong Epstein, ed.; Jorge Chagas and Mario Tonarelli, El sindicalismo Uruguayo bajo la dictadura, 1973 – 1984 (Montevideo: Ediciones del Nuevo Mundo, 1989).
  16. Rial, Partidos politicos, vol. I, pp. 73 – 74.
  17. De Sierra, El Uruguay post-dictadura p. 218.
  18. Ibid., p. 220; Gillespie, Negotiating Democracy, p. 131.
  19. Caetano and Rilla, Breve historia de la dictadura, p. 91.
  20. Ibid., p. 95.
  21. Linz and Stepan, Problems of Democratic Transition, p. 88 (emphasis added).
  22. Ngoài O’Donnell and Schmitter, xem đặc biệt J. Samuel Valenzuela, ‘‘Labor Movements in Transitions to Democracy: A Framework for Analysis,’’ Comparative Politics, 21 (July 1989).

Biên tập: Lisa Anderson

Dịch: Nguyễn Quang A

Thuộc tủ sách SOS2)

VRNs đăng với phép của dịch giả

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s