Chuyển đổi sang dân chủ (3): Các Hiến pháp, chủ trương chế độ Liên bang, và sự Chuyển đổi sang Dân chủ

VRNs (26.02.2015) – Hà Nội – Trong việc xem xét lại tiểu luận “Transitions to Democracy” của mình, hai thập niên sau, Dankwart Rustow đã đưa ra sự đánh giá khiêm tốn rằng “bài báo của tôi đã được trích dẫn rộng trong văn liệu khoa học chính trị đang tăng lên; tuy nhiên, đọc lại nó dưới ánh sáng của các sự kiện hiện thời, hiển nhiên là mô hình cần được sửa đổi và mở rộng” 1 Rustow tiếp tục tuyên bố rằng trong mô hình ban đầu của mình ông đã tập trung vào các nước mà đã có các định chế chính trị được xác lập tốt như Anh và Thụy Điển. Bây giờ, ông sẽ chú ý nhiều hơn, giữa những thứ khác, đến “các điều khoản hiến pháp mà dẫn đến các hệ thống nghị viện, tổng thống hay hỗn hợp.” 2

Việc làm hiến pháp là một trong các mối lo lập pháp quan trọng nhất của các quốc gia mới nổi lên. Sự tan rã của Liên Xô và sự rút lui của các chế độ quân sự khỏi việc dính líu tích cực ở hàng đầu của chính trị tại các châu Á, Phi và Mỹ Latin tất cả đã thêm vào cơn lũ văn kiện hiến pháp. Các luật sư, nhà chính trị, và nhà khoa học chính trị đã hoan nghênh thời khắc hiện tại như thời đại mới của việc soạn hiến pháp. Số đông các nhà soạn hiến pháp miệt mài làm nghề của họ tại các cộng hòa mới của Trung và Đông Âu. Từ Ba Lan đến Nam Phi đến Canada các nhà soạn khéo léo cố gắng sửa những tu chính hiếp pháp gây tranh cãi. Họ viết dữ dội và họ viết dài: 150 trang cho hiến pháp Nam Phi, 200 cho Brazil, hơn 500 trang cho Ấn Độ.3

Các chế độ mới và các chính phủ dân chủ tạo ra rất nhiều hiến pháp bởi vì rất nhiều “luật cơ bản” không lâu bền; các hiến pháp quá thường xuyên bị phân vào loại tài liệu định kỳ. Hiến pháp Hoa Kỳ – chỉ dài mười trang – là dị thường không chỉ trong sự ngắn gọn của nó, mà trong sự sống lâu của nó; bây giờ nó là hiến pháp thành văn cổ nhất trên thế giới.

Thay cho hỏi “Vì sao Hiến pháp Mỹ đã kéo dài?” trong tiểu luận này tôi quan tâm đến các câu hỏi của Rustow về các dạng hiến pháp có thể làm dễ và làm trơn sự chuyển đổi sang dân chủ thế nào. Tôi thảo luận một số nhà sáng lập ra hệ thống Mỹ đã lo nghĩ thế nào về cái họ đã muốn làm mà, không phải để soạn vài dòng [hiến pháp] trên giấy da, mà để bện nhà nước và xã hội vào nhau. Phân tích của tôi về các tác giả Federalist (chủ trương chế độ Liên bang) đã lo việc xây dựng một chính phủ mới như thế nào đưa tôi đến sự xung đột nào đó với quan niệm của Rustow về sự chuyển đổi sang dân chủ, đặc biệt với sự khăng khăng của ông về điều kiện tiên quyết nền duy nhất, sự thống nhất quốc gia. Vì mô hình gốc của Rustow đã đòi hỏi chỉ một điều kiện tiên quyết này về sự thống nhất quốc gia, đã có thể có vẻ không hào phóng để tranh cãi với một sự quy định hạn chế đến vậy. Việc này đặc biệt đúng vậy khi Rustow giải thích: “Nó đơn giản có nghĩa rằng tuyệt đại đa số công dân trong một nền dân chủ sắp hình thành phải không có nghi ngờ hay những sự do dự tinh thần về cộng đồng chính trị nào họ thuộc về.” 4  Rustow, tuy vậy, tiếp tục để nói rằng “Điều này loại trừ các tình huống của sự ly khai tiềm tàng, như trong các Đế chế Habsburg và Ottoman trước kia hay ở nhiều quốc gia Phi châu hiện nay.” 5

Tôi sẽ tranh luận rằng các quốc gia này không được bị tự động loại trừ trên cơ sở của cái là một tiêu chuẩn độc đoán. Kinh nghiệm của Hoa Kỳ cũng như của các quốc gia Phi châu hiện đại bảo chúng ta rằng việc đạt được sự thống nhất [quốc gia] không phải là một thứ dứt khoát một lần cho mãi mãi, mà là một quá trình theo thời gian. Rustow bác bỏ một cách đúng đắn các nhà lý luận khăng khăng đòi các điều kiện tiên quyết của nền dân chủ, thí dụ, các mức cao của sự phát triển kinh tế, và cả những người cố đòi một sự đồng thuận trước về hoặc các nguyên tắc cơ bản hay các quy tắc trò chơi. Như ông diễn đạt, “sự đồng thuận về các nguyên tắc cơ bản là một điều kiện tiên quyết có vẻ hợp lý. Một dân tộc mà đã không trong xung đột về các vấn đề khá cơ bản nào đó thì ít có nhu cầu để nghĩ ra các quy tắc tinh vi của nền dân chủ cho việc giải quyết xung đột.”6 Nhưng cũng đúng thế cho điều kiện nền về sự thống nhất quốc gia. Việc tạo ra bản sắc quốc gia là một quá trình thay đổi luôn luôn mà đòi hỏi một giai đoạn thử cái mới bởi những người vẫn chưa tin chắc vào ý thức mới nổi lên về sự cam kết quốc gia.

Rustow chắc chắn đúng khi ông nói: “các vấn đề mới sẽ luôn luôn nổi lên và các xung đột mới đe dọa các thỏa thuận mới đạt được. Các thủ tục đặc trưng của nền dân chủ bao gồm nghệ thuật diễn thuyết vận động, sự bầu chọn các ứng viên, sự chia làm hai phe nghị trường, bỏ phiếu tín nhiệm và khiển trách – một loạt các công cụ, nói tóm lại, cho việc bày tỏ xung đột và bằng cách ấy giải quyết nó.”7 Cũng thế là các hiến pháp, các công cụ par excellence (thượng hạng) cho việc giải quyết các xung đột cũ và liên tục mới. Chúng là các cạm bẫy như là quá trình, hay – quan trọng hơn đối với điểm cốt yếu của chúng ta – các cạm bẫy trong các quá trình của chúng.

 150225002

Các hạn chế của các Hiến pháp như các Đảm bảo của sự Ổn định và nền Dân chủ

Trong việc đưa ra những suy ngẫm sau đây về các hiến pháp như cạm bẫy và quá trình, tôi muốn bắt đầu bằng việc hạ thấp những kỳ vọng về cái các hiến pháp có thể hoàn thành trong sự chuyển đổi sang dân chủ. Các nhà khoa học xã hội xa nhau về ý thức hệ và chính trị như Barrington Moore và Samuel Huntington, chẳng hạn, đồng ý rằng các lực xã hội là mạnh hơn rất nhiều bản viết trên giấy da cung cấp chất nền mà trong đó các hiến pháp sẽ hay sẽ không có hiệu lực. Trong cuốn Làn sóng thứ Ba: Dân chủ hóa trong Cuối Thế kỷ thứ Hai mươi-The Third Wave: Democratization in the Late Twentieth Century của mình, Huntington trích dẫn sự diễn đạt cô đọng nhất của Moore: “Không có giai cấp tư sản, không có nền dân chủ.” 8  Để là thực tế trong sự thảo luận của chúng ta về các hiến pháp, chúng ta luôn luôn phải tính đến bối cảnh lịch sử và các thực tế xã hội và kinh tế. Một hiến pháp tự nó, dù có được phác thảo khéo léo đến thế nào, dù có được ngưỡng mộ phổ biến ra sao, sẽ chẳng tạo ra nền dân chủ cũng không hạn chế sự cai trị độc đoán.

Các hiến pháp và các định chế do chúng mường tượng là quan trọng. Nhưng chúng sẽ không tạo ra các phép màu. Để có hiệu lực các hiến pháp phải liên hệ một cách hữu cơ đến thực tế của một xã hội; chúng phải dàn xếp, ngay khi chúng hướng dẫn các lợi ích cơ bản của một nước. Các hiến pháp thành công nhất sẽ bện xã hội dân sự và nhà nước vào nhau theo những cách có ích nhất cho “các lợi ích lâu dài và kết hợp của cộng đồng.” 9

Rustow đã cho rằng, trong “pha chuẩn bị,”

. . . dựa vào điều kiện nền [sự thống nhất quốc gia] duy nhất này, bản thân quá trình động của dân chủ hóa được khởi động bởi một cuộc đấu tranh chính trị kéo dài và không mang lại kết quả cuối cùng. Để cho nó các tính chất đó, những người giữ vai trò chủ đạo phải đại diện cho các lực lượng được thiết lập tốt (điển hình là các giai cấp xã hội), và các vấn đề phải có ý nghĩa sâu sắc đối với họ..10

Điều này làm phức tạp vấn đề một chút. Rõ ràng “các thành phần” khác “là không thể thiếu được đối với sự sinh ra nền dân chủ” bên cạnh một ý thức về sự thống nhất quốc gia: “Tiếp đến, phải có xung đột ăn sâu và nghiêm trọng. Rồi, phải có một sự chấp nhận có ý thức các quy tắc dân chủ. Và, cuối cùng, cả các chính trị gia lẫn cử tri phải tập làm quen với các quy tắc này.”11 Vấn đề trở thành làm sao hiến pháp và xã hội có quan hệ với nhau.

Các Chuyển đổi Từ sự Cai trị Độc đoán, và các Vấn đề của sự Củng cố Dân chủ

Trong phân tích các chuyển đổi dân chủ trong các năm gần đây, các nhà khoa học xã hội đã phân biệt giữa các vấn đề của “các chuyển đổi từ sự cai trị độc đoán” 12 và các vấn đề của “sự củng cố dân chủ.”13  Sự chuyển đổi đầu tiên tập trung vào những gì làm xói mòn một chế độ độc đoán và sẽ làm cho nó sụp đổ. Sự chuyển đổi thứ hai tập trung vào “quá trình rộng hơn và phức tạp hơn gắn với sự thể chế hóa một bộ quy tắc mới và dân chủ cho đời sống chính trị.”14  Chúng ta phân biệt giữa hai thời kỳ để hiểu các thời khắc quan trọng nhất mà qua đó các nhà nước tiến hóa trong chuyển đổi dân chủ, và để hiểu kỹ hơn vì sao các chuyển đổi bắt đầu.

Sau nhiều tranh cãi, các nhà khoa học chính trị đã đạt một sự đồng thuận có vẻ rộng rằng các xung đột bên trong các liên minh độc đoán là lý do căn bản cho sự đến của một chuyển đổi, mà rồi được thúc đẩy thông qua một “loạt các cuộc mặc cả” giữa nhà nước và các elite đối lập.15 Các loại hình học khoa học được xây dựng xung quanh những sự phân biệt giữa các loại hình khác nhau của chuyển đổi – chuyển đổi qua giao dịch, chuyển đổi qua cải cách, chuyển đổi qua sự thất bại chế độ, chuyển đổi qua sự đoạn tuyệt, và chuyển đổi qua sự giải thoát.16 Gerardo Munck, tuy vậy, đã cho rằng chỉ một sự hiểu biết chi tiết về tương tác bên trong-elite, elite đương chức-elite đối lập, và elite-quần chúng trong các nước cụ thể mới sẽ cung cấp cơ sở cho sự hiểu cái gì đã thực sự xảy ra trong các trường hợp cá biệt đó.

Hơn nữa, chúng ta không thể giả sử rằng “các nền dân chủ chuyển đổi,” tức là chuyển đổi từ các chế độ độc đoán, sẽ tự động, tự nhiên, hay không thể tránh khỏi trở thành “các nền dân chủ được củng cố.” Cái cần là sự thể chế hóa một “loại chế độ mới,” và những gì các nhà đa nguyên chủ nghĩa đã gọi là “một bộ mới của các quy tắc cho trò chơi chính trị.” 17 Làm sao một nhà nước mới có thể củng cố một hệ thống dân chủ chí ít ở chừng mực các diễn viên chính trong một xã hội trở nên sẵn sàng chấp nhận các quy tắc này, để làm việc bên trong hệ thống mới cho sự thăng tiến các lợi ích của họ?

Chúng ta vẫn chưa biết đủ về những hoàn cảnh mà dưới đó các diễn viên chính trị có sức mạnh để trốn thoát các lực được cho là tất định để tạo ra xã hội riêng của họ. Tuy nhiên, chúng ta có biết rằng “các khung cảnh định chế” là các yếu tố quyết định trong quá trình này. Điều tôi muốn làm, vì thế, trong phần còn lại của tiểu luận này là để khám phá một số các yếu tố đã đi vào một hiến pháp mà có vẻ đã có hiệu lực bằng sự đo lường chí ít của thời gian.

Bối cảnh

Các bài viết chủ trương chế độ Liên bang (Federalist Papers) gồm một chuỗi 85 tiểu luận được James Madison, Alexander Hamilton, và John Jay viết giữa 1787 và 1788. Các tiểu luận đã xuất hiện như các quảng cáo có trả tiền trong các tờ báo của New York, được xen vào giữa những quảng cáo rượu và thuốc lá. Mục đích của chúng đã là để thuyết phục số cử tri hạn chế của New York để bỏ phiếu ủng hộ Hiến pháp mới.

Các Federalist (nhà chủ trương chế độ liên bang) đã coi chính phủ dưới Hiến pháp Mỹ Đầu tiên, Articles of Confederation (Các Điều khoản Liên bang), là một thất bại. Được Hội nghị Thuộc địa (Continental Congress) chấp nhận ngày 15, tháng Mười Một, 1777 và được phê chuẩn năm 1781, các Điều khoản đã lo liệu cho một liên bang lỏng lẻo, hay như Điều 3 diễn đạt nó, là “Một liên minh của tình hữu nghị cho sự bảo vệ chung.” Chính phủ đã thiếu một tổ chức hành pháp quốc gia; đã duy trì hầu hết quyền tự chủ và tự trị của mỗi bang; và đã không có quyền lực gì đối với các cá nhân, hoặc để đánh thuế hay để xây dựng một quân đội. Nó đã chỉ có thể đề nghị các khoản đóng góp từ các bang. Các Federalist đã đưa ra một lựa chọn khả dĩ khác xa.18

Giữa các đề xuất cơ bản thấy trong các bài viết Federalist là những đề xuất sau đây: (1) Đừng bao giờ tin những người bảo bạn rằng “nhân dân” phải cai trị; (2) Vì mọi người sẽ tuyên bố rằng “Dân chủ là một chính quyền của dân, do dân và vì dân,” đừng tin bất cứ ai; (3) Đừng bao giờ tin “những người vĩ đại”; một khi lên nắm quyền, nếu để mặc họ xoay xở, họ sẽ bị đồi bại; (4) Đừng bao giờ tin vào bất cứ ai; bản tính con người vốn ích kỷ và không đáng tin cậy; (5) Xã hội gồm có vô số lợi ích – hoàn toàn vì bản thân chúng; (6) Tuy nhiên – bất chấp các lời xác nhận từ 1 đến 5 – thông qua cái mà vào cuối thế kỷ thứ mười tám được biết đến như “khoa học chính trị” mới, các Federalist đã được thuyết phục, và đã tìm cách để thuyết phục công chúng rằng họ có thể tạo ra một chính phủ mạnh đến mức nó có thể bảo đảm sự ổn định, nhưng được kiểm soát đến mức nó sẽ không đe dọa quyền tự do.

Các Bí quyết cho những Dàn xếp Hiến pháp Mới

Vì sao họ đã nghĩ họ sẽ thành công? Họ đã nghĩ những gì là chìa khóa cho sự dàn xếp mới?

Thực ra, đã có ba bí quyết: (1) các Federalist đã đưa xã hội dân sự vào nhà nước, nhưng đã làm như vậy theo một cách có tính toán; (2) họ đã cho một câu trả lời gián tiếp cho câu hỏi về lợi ích vĩnh cửu và lâu bền của cộng đồng là gì, và câu trả lời đó đã là không có lợi ích tồn tại độc lập được xác định nào, nhưng có một quá trình và một bộ máy, và đó là cái quan trọng; (3) mặc dù họ đã chẳng bao giờ sử dụng từ “chủ nghĩa tư bản” (một từ thậm chí vẫn chưa được chế ra cho đến cuối thế kỷ thứ mười chín), họ đã cho rằng các hoạt động chính của hầu hết các cá nhân sẽ xảy ra bên ngoài lĩnh vực nhà nước. Nói cách khác, họ đã hình dung một nhà nước mạnh; nhưng mạnh bởi vì nó có thể là gọn và hiệu quả, mạnh trong những lĩnh vực hạn chế vì các mục đích được xác định rõ.

Họ cũng đã tính đến sự kiên nhẫn của nhân dân. Họ đã đưa ra một sự đánh cuộc ngầm rằng nếu họ có thể kéo các bè phái của xã hội vào quá trình, nếu họ có thể làm cho quá trình là quan trọng, thì quá trình tự nó sẽ được quý trọng. Chủ nghĩa hiến pháp của họ đã tạo ra một văn hóa chính trị của sự kiên nhẫn và sự chịu đựng.

Đây đã không nhất thiết là “tốt,” mà vì thế tôi trình bày sự thẩm vấn này như một phân tích, không phải như sự vận động ủng hộ. Tôi cắt đứt quan hệ với các nhà đa nguyên chủ nghĩa mà đã thảo luận Hiến pháp chỉ như một cơ chế cho giải quyết các tranh chấp giữa các nhóm lợi ích xung đột nhau, hay chỉ như quá trình không gắn với các lợi ích trọng yếu.19 Giữa các lợi ích trọng yếu mà các Federalist đã hợp nhất vào thân Hiến pháp, và mà đã có sự bảo vệ đáng kể rồi trong các luật của các bang, cũng như trong thông luật Anh, đã là: (1) tính toàn vẹn, tức là, sự duy trì quyền lực, các chính phủ bang; (2) một quyền bầu cử hạn chế mà làm cho sự tham gia chính trị, bỏ phiếu và giữ chức vụ là khó; và (3) sự bảo vệ quyền sở hữu. Chẳng lợi ích nào trong các lợi ích này được biến thành đối tượng của những lệnh của tòa hay sự cấm đoán tuyệt đối. Mọi thứ đã có thể được thay đổi. Tuy vậy, nhà Federalist đã gắn các lợi ích của họ với các quá trình mà họ đã đưa ra theo những cách mà vẫn tác động đến chính sách trong chính trị đương thời. (Việc vẫn là khó cho một tổng thống hiện đại để thông qua một chương trình mạch lạc được minh họa, chẳng hạn, trước các cuộc bầu cử 1994 khi một thiểu số nhà cộng hòa trong Thượng viện đã sử dụng thủ tục filibuster để cản trở việc thông qua các chương trình chăm sóc sức khỏe và phục hồi kinh tế của Tổng thống Clinton.) Các vấn đề mà các Federalist đối mặt đã khác, một cách hiển nhiên, với những vấn đề mà Ethiopia, Eritrea, và các nước đang phát triển khác đối mặt ngày nay: các vấn đề khổng lồ về dân tộc, về các nền văn hóa tự trị, về nhu cầu cho quyền bầu cử phổ quát ngay lập tức, về sự cần thiết của sự phát triển kinh tế nhanh. Thế nhưng, có một sự giống nhau họ hàng. Các thuộc địa Mỹ lúc đó đã nghèo. Những người Âu châu, đặc biệt người Anh, đã xem những người Mỹ là lạc hậu, và các điều kiện sống là thô sơ. Những người Mỹ, họ đã nói, đã không có một nền văn minh, và chắc chắn không phải là nền văn minh mà họ đã có thể gọi là của riêng họ. (Năm 1954, Max Lerner đã đưa ra một khóa tại Đại học Brandeis được gọi là “Mỹ như một nền Văn minh.” Khi ông xuất bản một cuốn sách với cùng tiêu đề, các nhà phê bình đã hoan hô sự dũng cảm của ông trong việc ca ngợi sự tồn tại của một nền văn minh Mỹ đơn nhất.) Hệ thống chính phủ được các Federaist đề xuất lúc đó đã đưa ra ít chương trình và ít sự hài lòng ngay. Nó đã hạ thấp các kỳ vọng về những gì chính phủ sẽ kiến nghị trong ngắn hạn. Tuy vậy, bất chấp các thành kiến rõ ràng mang tính duy vật và giới, tín ngưỡng và chủng tộc của các Federalist, hệ thống của họ đã đưa ra cái gì đó có lẽ quan trọng hơn: hy vọng và một lời hứa về tương lai.

Hành động Trực tiếp cho Giai cấp Chi phối

Đối với elite và giai cấp tư sản chi phối, chính phủ đã có kiến nghị các chương trình trước mắt. Dưới thời Bộ trưởng Bộ Ngân khố Alexander Hamilton, chương trình hành động của chính quyền Mỹ đầu tiên đã bao gồm việc gánh vác tất cả nghĩa vụ nợ của chính phủ trước; một ngân hàng quốc gia; một xưởng đúc tiền; một đồng tiền chuẩn; các loại thuế quan bảo hộ các ngành công nghiệp non trẻ; các khoản trợ cấp cho kinh doanh. Chương trình này đã thỏa mãn một nhu cầu thực tế đáp lại những khát vọng của một giai cấp được tổ chức về chính trị và có tính chiến đấu, tự giác và có hiểu biết.

Đối với số đông nông dân và công nhân thành thị, đối với các nô lệ và phụ nữ, đối với những người không có tài sản và giáo dục, đối với những người mà đã không biết hỏi cái gì và thế nào, hiến pháp đã đưa ra một cơ hội. Hiến pháp đã đưa ra một con đường hợp pháp để tham gia chính trị cho những người vẫn đang bắt đầu ý thức về chính mình. Các Federalist đã sợ sự vô chính phủ hơn bất cứ thứ gì khác, ngay cả sự xâm lấn nước ngoài. Chí ít hai trong “các nhà khai quốc,” Gouverneur Morris và Alexander Hamilton, đã có nhà của họ bị “đám đông” tấn công; những người khác đã có xe của họ bị ném đá; sự sống của họ bị đe dọa; “danh dự” của họ bị nghi ngờ. Họ đã sợ “nhân dân.” Và như thế họ đã tạo ra các kênh để kiềm chế sự bất mãn. Họ đã muốn giữ “nhân dân” đừng xuống đường, và họ đã làm việc này bằng đưa họ vào các phòng bỏ phiếu.20 Tuy vậy, bằng mở cửa cho sự tham gia bầu cử, họ đã tạo ra một định nghĩa mới về sự bình đẳng, và họ đã xác lập một tiêu chuẩn mới về sự công bằng.

“Sự bình đẳng” được xác định bởi ai có quyền tham gia vào hệ thống bầu cử. Hệ thống như đã tồn tại lúc đó rõ ràng là không bình đẳng và các thủ tục đã là không công bằng rành rành. Điều này đã đúng đối với cả những người giữ chức vụ và các ứng viên cho chức vụ, lẫn đối với những người bỏ phiếu. Toàn bộ các loại người có quyền bỏ phiếu – các nô lệ, phụ nữ, những người không có tài sản và vô học – đã tự động bị loại trừ. Cuộc đấu tranh đã trở thành cuộc đấu tranh để “làm ngang nhau” các thủ tục và các cơ hội bầu cử. Như Harvey Mansfield đã diễn đạt, nền dân chủ này đã buộc xã hội để thay một câu hỏi gián tiếp cho một câu hỏi trực tiếp.21 Câu hỏi đã trở thành, không phải “Chính phủ đã làm gì cho chúng ta?”; mà là “Chính phủ đã thực hiện những thủ tục công bằng? Các công cụ cho việc lựa chọn chính phủ đã thích hợp?” Nếu có thế, thì nhân dân có thể không có điều phàn nàn nào bởi vì các quyền của họ đã được bảo vệ. Chừng nào mà họ đã có cơ hội để có “đầu vào cho hệ thống,” vả lại, trách nhiệm về các kết cục là ở “trên đầu họ.” Họ đã có cơ hội của họ. Nếu những đại diện được [họ] lựa chọn một cách thích hợp tạo ra những chính sách họ không thích, thì đó là lỗi của nhân dân. Và cách sửa cũng có ngay: vào lần bầu cử tiếp, nhân dân có thể chọn những người đại diện khác. Họ có khả năng để đuổi “bọn nhãi ranh” khỏi chức vụ, và theo đuổi lợi ích của họ với những cá nhân khác. “Sự bình đẳng” về điều kiện xã hội đã có thể được tìm kiếm bởi nhân dân nếu đó là mong muốn của họ, và họ có cơ hội để làm vậy. Nhưng nếu họ đã làm hỏng sự theo đuổi này, thì họ chỉ có thể trách chính mình, chứ không phải chính phủ của họ.

Được cấy vào hệ thống này, khi đó, là cả một viễn cảnh thời gian mà tính đến “dài hạn,” để được lặp lại và đến những cố gắng tương lai. Những người với các khát vọng bị cản trở sẽ có thời của họ. Cái họ phải làm là quay lại “cơ sở” và tổ chức. Nhưng những người bất mãn không được tổ chức để lật đổ chính phủ hay để thay đổi các định chế cơ bản của nhà nước. Họ phải tổ chức để thắng cuộc bầu cử tiếp, và tiếp theo, và cuộc bầu cử tiếp trong nhiều cuộc bầu cử. Đấy là cách làm thế nào để tạo ra tầm nhìn dài hạn và những chân trời mênh mông.

Những nghiên cứu bầu cử bởi những nhà khoa học chính trị đương thời đã xác nhận cái các tác giả Federalist đã biết một cách trực giác: đa số nhân dân, phần lớn thời gian, chỉ muốn để ý đến công việc riêng của họ; họ muốn được yên thân. Toàn bộ cái mà đa số nhân dân, phần lớn thời gian, yêu cẩu chính phủ là sự hy vọng cải thiện, đôi khi, không phải luôn luôn bây giờ,và còn ngạc nhiên hơn, thậm chí không luôn luôn cho chính bản thân họ. Nếu họ có thể được đảm bảo một cách phải chăng rằng những cơ hội sống của con cái họ sẽ tốt hơn, đa số nhân dân, phần lớn thời gian, sẽ chịu đựng sự lạm dụng lớn từ trật tự xã hội.22  Cách tốt nhất để tạo ra niềm tin này, triển vọng dài hạn này, văn hóa hy vọng và sự lạc quan này, là đưa nhân dân vào hệ thống, để làm cho chính phủ và xã hội có quan hệ với nhau.

Tất cả việc này đã phải được làm thế nào? Bằng chứng nào từ các bài viết Federalist cho các lời tuyên bố này?23

Những lời kêu gọi Nhân dân và sự Thống nhất Quốc gia

Publius* đã kêu gọi nhân dân và cái được cho là sự thống nhất quốc gia, nhưng đã sợ nhân dân và đã biết rằng cái kia đã không tồn tại. Thay vì giả sử sự tồn tại của sự thống nhất quốc gia như “nhân tố nền” hay một điều kiện tiên quyết cho nền dân chủ mới của họ, như luận đề của Rustow biện hộ, họ đã tin chắc rằng hệ thống mới của họ sẽ chế tạo ra cái thực ra đã không tồn tại đó.

Trong Bài Federalist Số 1,24 Alexander Hamilton bắt đầu bằng việc nói với nhân dân bang New York để bảo họ rằng họ được kêu gọi để thảo luận kỹ lưỡng một Hiến pháp mới cho Hoa Kỳ, và rằng “toàn bộ sự tồn tại của Liên bang, sự an toàn và phúc lợi của các phần tạo thành nó, số phận của một đế chế lý thú nhất trên thế giới theo nhiều khía cạnh,” là sự đặt cược.25 Ngay trong đoạn đầu của bài báo thứ nhất, tuy vậy, Hamilton nói lập lờ và hạn chế lời kêu gọi của ông tới nhân dân, khi ông nói: “đã thường xuyên được lưu ý rằng có vẻ đã được dành cho nhân dân nước này, bằng hành vi và tấm gương của họ, để quyết định vấn đề quan trọng, liệu các xã hội con người có thực sự có khả năng hay không để thiết lập chính thể tốt từ sự suy ngẫm và lựa chọn, hoặc họ vĩnh viễn bị lệ thuộc vào sự ngẫu nhiên hay sự bắt buộc để có các hiến pháp chính trị của họ.”26

John Jay cũng bắt đầu với sự tâng bốc “nhân dân” trong Bài Federalist số 2, đặc biệt trong tuyên bố của ông về sự thống nhất quốc gia. Ông chắc chắn đã thổi phồng sự thật khi ông bày tỏ niềm vui thích của mình rằng Trời đã ban “một nước liên thông này cho một nhân dân thống nhất – một dân tộc đã xuất thân từ cùng tổ tiên, nói cùng tứ tiếng, theo cùng tín ngưỡng, gắn bó với cùng các nguyên tắc về chính thể, rất giống nhau về những cách cư xử và tập quán của họ . . . .”27 Chẳng có gì đã có thể xa sự thật hơn thế, cho dù ta có tính đến sự trào dâng nhiệt tình mà đã đến từ chiến thắng của các phiến quân trong cuộc chiến đấu của họ với Liên hiệp Anh (và tạm thời quên một phần tư dân cư đã bỏ trốn sang Canada, Liên hiệp Anh, hay nước ngoài và đa số nhân đân đã không chia sẻ các viễn cảnh của Publius). Sự sợ hãi có cơ sở về sự nổi dậy trong nước, như cuộc nổi loạn Whiskey ở Tây Pennsylvania và cuộc nổi loạn của Shays ở Tây Massachusetts đã chứng tỏ, đã buộc giới quyền uy chính trị Mỹ ban đầu vào công việc lập hiến của họ. Họ đã biết rằng họ đã không có sự thống nhất quốc gia theo bất cứ nghĩa sâu sắc nào. Họ đã tìm cách tạo ra nó thông qua những cố gắng lập hiến của họ.

Trong bài báo thứ hai, John Jay tuyên bố rằng “nhân dân Mỹ” được kêu gọi để quyết định một trong các vấn đề quan trọng nhất mà đã từng thu hút sự chú ý của họ. Rồi ông lập tức đòi hỏi rằng vì “Không gì chắc chắn hơn sự tất yếu rất cần thiết của chính phủ,” “nhân dân phải nhường lại cho nó một vài quyền tự nhiên của họ . . .”28 Trong Bài Federalist 3, Jay trình bày nhu cầu về một chính phủ trung ương mạnh bởi vì đối với sự duy trì hoà bình và sự yên bình thì sự nguy hiểm có vẻ là từ “bàn tay và ảnh hưởng nước ngoài, như từ các mối nguy hiểm thuộc loại giống thế (nhấn mạnh của Jay) nảy sinh từ các nguyên nhân trong nước.”29 Dưới chiêu bài của sự lo lắng về các cuộc xâm lược nước ngoài, Jay đã phơi bày rõ ràng cái đối với ông và các đồng chí của ông là mối nguy hiểm lớn hơn nhiều, mối nguy hiểm xuất phát từ sự thiếu tính thống nhất quốc gia. Cái Jay đã lo lắng, theo lời ông và sự nhấn mạnh của ông, đã là một “nước Mỹ không thống nhất.”30  Ông đã lo về “bạo lực trực tiếp và thả lỏng” và về các cuộc chiến tranh bất công: “Những bạo lực như vậy sinh ra thường xuyên hơn từ sự dận dữ và lợi ích của một phần hơn là của toàn thể, của một hay hai Bang hơn là của Liên bang.”31

Lo liệu cho “sự an toàn” của nhân dân là mục tiêu lớn đầu tiên của chính quyền. Trong khi sự xâm lược nước ngoài là một mỗi sợ tự nhiên đối với những người vừa đã chiến đấu vì sự độc lập của họ khỏi Liên hiệp Anh, bằng Bài Federalist số 3, rõ ràng mối nguy hiểm đối với “hòa bình và sự yên bình” “nảy sinh từ các nguyên nhân trong nước” là mối lo lớn của các nhà Federalist.32 Hamilton tuyên bố thẳng thắn: “Một Liên bang vững chắc sẽ là vô cùng quan trọng đối với hòa bình và tự do của các Bang như một rào cản chống lại bè phái và sự nổi dậy trong nước.”33

Trong khi liên tục khẳng định rằng “nhân dân là nguồn hợp pháp duy nhất của quyền lực”34, sự sợ hãi của các nhà Federalist đối với nhân dân đã lớn đến mức toàn bộ Bài Federalist số 49 được dành để giải thích vì sao không ai trong tâm trí đúng đắn của mình sẽ tin cậy nhân dân, hay nghĩ về việc cầu khẩn đến sự phán xét của họ. Đã có “các sự phản đối không thể vượt qua được chống lại sự trở lại được đề xuất với nhân dân.” Giữa các sự phản đối đó đã là: “lý trí của con người, như bản thân con người, là rụt rè và thận trọng khi được để yên một mình, và có được sự cương quyết và sự tự tin theo tỷ lệ với số (người) mà nó kết giao với.” Họ đã không tin “công chúng,” (một từ mới xuất hiện khi đó) bởi vì họ đã sợ “sự dận dữ” của nó. Họ đã răn: “Mối nguy hiểm của việc làm phiền sự yên bình công chúng bằng sự quan tâm quá mạnh đến những cảm xúc mạnh của công chúng vẫn là một sự phản đối nghiêm trọng hơn chống lại một sự dẫn chiếu thường xuyên các vấn đề lập hiến đến sự quyết định của toàn xã hội.” 35

Đa số như một Bè phái

Các tác giả Federalist, tuy vậy, đã không chỉ sợ “nhân dân” như một thú vật lớn. Họ đã sợ chính phủ của đa số. James Madison bắt đầu bài nổi tiếng nhất của các Bài Federalist, bài số 10, bằng việc cho rằng: “Giữa vô số lợi thế do một Liên bang được xây dựng tốt hứa hẹn, không cái nào đáng được phát triển chính xác hơn xu hướng của nó để bẻ gãy và kiểm soát bạo lực bè phái.”36  Các nhà Federalist phản đối kịch liệt “bạo lực” bè phái. Các bè phái mà thực sự làm họ lo lắng là các bè phái gồm đa số nhân dân. Madison định nghĩa bè phái theo cách này:

“Tôi hiểu một bè phái là một số công dân, dù đạt tới một đa số hay thiểu số của toàn bộ, những người được thống nhất và thúc đẩy bởi xung lực chung nào đó của sự giận dữ, hay của lợi ích, có hại đến các quyền của các công dân khác, hay đến các lợi ích lâu dài và tổng hợp của cộng đồng.”37

Trong cùng bài báo Madison nói rõ rằng “các chính phủ của chúng ta là quá bất ổn định, rằng lợi ích công bị coi thường trong xung đột của các đảng kình địch, và rằng các biện pháp được quyết định quá thường xuyên, không theo các quy tắc của công lý và các quyền của bên thiểu số, mà bởi sức lực mạnh hơn của một đa số vụ lợi và hống hách.”38

Thế họ đã kiến nghị gì để giải quyết việc đó?

Bản chất Con Người

Các niềm tin của các nhà Fedelralist về bản chất con người cơ bản đã làm phức tạp công việc của họ. Họ đã bị thách thức bởi những người cho rằng bởi vì những người Mỹ đã là một dân tộc (như bản thân họ đã tuyên bố), họ đã không có động cơ nào trong việc chiến đấu với nhau và vì thế không cần đến một chính phủ trung ương mạnh. Hamilton đã trả lời:

Một người, mà có thể không tin một cách nghiêm túc rằng nếu các bang này phải hoặc hoàn toàn chia rẽ, hay chỉ được thống nhất trong các liên bang một phần, thì các sự phân chia nhỏ ra mà họ có thể được ném vào sẽ có các cuộc đấu tranh thường xuyên và dữ dội với nhau, hẳn phải là người quá xá trong các suy đoán Không tưởng. Để giả định một sự thiếu các động cơ cho các cuộc đấu tranh như vậy sẽ là đi quên rằng con người có nhiều khát vọng, hay thù oán, và tham lam.39

Nếu loại bình thường của loài người không thể được tin cậy, có lẽ cá nhân hiếm hoi, đặc biệt, “vĩ nhân” đáng được tin cậy. Rốt cuộc, hầu hết người Mỹ đã ngưỡng mộ Tướng George Washington. Những người đi theo hăng hái nhất của ông đã đòi rằng thay cho một tổng thống được bầu, toàn thể công dân biết ơn phải phong ông làm hoàng đế. Những người ủng hộ này của Washington đã đi xa đến mức sai làm* nghi lễ thích hợp, kể cả sự quy định một áo choàng bằng da lông chồn ermine.40

Đấy đã là một thời kỳ ngưỡng mộ Giai đoạn Cổ Điển của Hy Lạp thế kỷ thứ năm trước công nguyên. “Lý tưởng đẹp” của các tổ phụ lập quốc đã là chính khách Athenian. Họ đã coi, vì thế, con người vĩ đại nhất mọi thời đại là Pericles, nhà lập pháp và lãnh tụ của những người Athen tại đỉnh cao của quyền lực của thành bang.

Hamilton Nói Gì với Chúng ta về Pericles?

 “Pericles lừng danh,”

theo đúng sự phẫn uất của một gái điếm, với phí tổn của nhiều máu và  của cải của đồng bào ông, đã tấn công, đánh bại và tàn phá thành phố của những người Samnian. Cũng vẫn người ấy, bị kích thích bởi sự hờn giận riêng chống lại. . . . dân tộc khác của Hy Lạp, hay để tránh một sự khởi tố mà trong đó ông ta bị đe dọa như một kẻ đồng lõa trong một vụ được cho là vụ ăn trộm tượng… hoặc để thoát khỏi những sự kết tội được chuẩn bị đưa ra chống lại ông ta vì việc làm thất thoát công quỹ bang trong việc mua sự nổi tiếng, hoặc khỏi một sự kết hợp của tất cả những nguyên nhân này, đã là tác giả thô thiển của cuộc chiến tranh khét tiếng và tai họa đó, được phân biệt trong các biên niên sử Hy Lạp bằng cái tên chiến tranh Peloponnesian; mà, sau những sự thăng trầm, thời gian tạm ngừng, và sự tái phát, đã kết thúc trong đống đổ nát của cộng hòa Athenian.41

Nếu bạn không thể tin cậy Pericles, bạn có thể tin cậy ai? Câu trả lời là rõ: chẳng ai cả. Đặc biệt để cai trị. Như Madison nhận xét, “trong việc dựng lên một chính phủ mà được cai quản bởi con người trên con người, sự khó khăn lớn nằm ở việc này: đầu tiên bạn phải cho phép chính phủ kiểm soát những người bị trị; rồi tiếp đến buộc nó kiểm soát chính nó.”42

Khoa học mới về Chính trị

Việc này đã phải được làm thế nào? Các nhà Federalist đã không che dấu sự nghi ngờ nào về khả năng của họ để tạo ra một chính phủ ổn định, lâu bền, và thậm chí công bằng. Họ đã không chia sẻ châm ngôn của Gramsci, “Sự bi quan của trí tuệ; sự lạc quan của ý chí.” Họ đã tỏa ra một sự lạc quan của cả ý chí và trí tuệ.

Những người con của Khai sáng, họ đã là những người thừa kế của các triết gia Pháp. Voltaire, Diderot, và muộn hơn Montesquieu đã cải biên các viễn cảnh của các nhà tự nhiên học như Galileo và Isaac Newton những người, từ đầu thế kỷ thứ mười bảy, đã đặt những nền tảng của khoa học hiện đại. Các nhà khoa học “Newtonian” này đã cho rằng thế giới có thể được quan sát một cách dúng đắn; rằng những quan sát này có thể được quy giản về một vài quy luật có thể nhận thức được; và rằng các quy luật này, khi được hiểu đúng, có thể được dùng theo những cách mà có thể thao tác tự nhiên; và rằng sự thao tác này sẽ dẫn đến những mức năng suất mới kinh khủng.43 Điều đó đã có nghĩa rằng nhân loại đã có một tương lai có tiềm năng vô hạn.

Nhân loại đã chỉ phải xem xét lại tất cả các định chế, và để xem chúng như chúng là, tức là, không có các định kiến về niềm tin, hay về lợi ích, hay về lòng tự ái. Công cụ của họ, được lấy từ các nhà khoa học – và Thời đại đó đã không có sự phân biệt nào giữa khoa học tự nhiên và xã hội – đã là “Lý tính,” được viết với một chữ “L” hoa. Các triết gia, cải biên mô hình Kitô (Christian), đã thay lòng tin rằng tất cả mọi người đều có một tia lóe thần thánh trong họ bằng niềm tin rằng mọi người có bên trong mình năng lực đối với Lý tính (Reason), và để đi đến những kết luận hợp lý một cách phổ quát.

Đấy là cái Hamilton đã phản ánh trong Bài Federalist số 9: “khoa học chính trị, tuy vậy, giống hầu hết khoa học khác, đã được cải thiện lớn. Tính hiệu quả của các nguyên lý khác nhau bây giờ đã được hiểu kỹ, mà đã chẳng hề được biết, hoặc được biết không đầy đủ đối với người xưa.’’44

Không Hiến pháp Giấy; Không Chỉ Kiểm soát và Đối trọng

Sau hai cuộc Chiến tranh Thế giới, Freud, và Bom Nguyên tử, chúng ta có thể thật kinh ngạc về sự lạc quan ấu trĩ của các khai quốc công thần. Về ít nhất một điểm, tuy vậy, chúng ta có thể vẫn xem họ một cách nghiêm túc: về sự khăng khăng của họ rằng họ đã không muốn tạo ra một hiến pháp giấy, hay như họ diễn đạt một hiến pháp “giấy da.” Họ đã biết từ nghiên cứu của riêng họ về các hiến pháp rằng đấy đã là một khả năng, và họ đã kiên quyết đề phòng nó.

Lúc đó họ đã đề xuất làm việc này thế nào? Theo cách chúng ta thường đọc các Bài Federalist, câu trả lời là rõ: thông qua một hệ thống của các kiểm soát và các đối trọng (checks and balances), một sự phân chia quyền lực, và cái đã hóa ra là một nền tư pháp độc lập. Trong Bài Federalist số 9, nơi họ tuyên bố rằng họ biết các nguyên lý khoa học mới, như các thí dụ của mình, họ bắt đầu với:

Sự phân bổ cân đối quyền lực vào các bộ riêng biệt; việc đưa ra các kiểm soát và đối trọng lập pháp; định chế các tòa án bao gồm các thẩm phán giữ chức vụ trong thời gian tư cách đạo đức tốt; sự đại diện của nhân dân trong cơ quan lập pháp bởi các dân biểu do chính họ bầu ra: đấy là các phát minh hoàn toàn mới, hoặc đã làm cho nguyên lý của họ tiến đến hoàn hảo trong thời hiện đại.45

Họ cũng tiếp tục để thừa nhận rõ ràng sự mắc nợ trí tuệ vì các tư tưởng này, đặc biệt với Montesquieu. Cái gì đó, tuy vậy, còn thiếu. Họ nói về những dàn xếp định chế này: “Chúng là các công cụ, và các công cụ mạnh mẽ, mà qua đó các quý ngài của chính phủ cộng hòa có thể được giữ lại và những thiếu sót của chúng được giảm đi hay được tránh.”46 Và bằng cách nói rằng đấy là “các công cụ,” họ ngụ ý rằng có các công cụ khác, và những cân nhắc khác mà có thể quan trọng hơn. Quả thực, họ đưa thêm một yếu tố:

Vào catalog này của các trường hợp mà nhắm tới sự cải thiện các hệ thống phổ biến của chính phủ dân sự, tôi sẽ liều, dẫu có thể tỏ ra mới đến đâu với một số người, đưa thêm một trường hợp, trên một nguyên lý mà đã tạo ra nền tảng của một sự phản đối Hiến pháp mới; ý tôi muốn nói sự Mở rộng Quỹ đạo mà bên trong đó các hệ thống như vậy vận hành.47

Lúc ấy họ đã muốn nói gì bằng nhóm từ này “SỰ MỞ RỘNG QUỸ ĐẠO,” mà Hamilton đã làm nổi bật lên bằng các chữ hoa, cái gì đó đã hầu như chẳng bao giờ được làm trong các Bài báo, và mà ông đã đưa vào với sự khiêm tốn rõ ràng nhưng với sự cảnh báo rằng đây đã là cái gì đó quan trọng, “dẫu có thể tỏ ra mới đến đâu với một số người.”

Các kiểm soát và đối trọng (checks and balances) và sự tách biệt (phân lập) quyền lực đã là không đủ trừ phi chúng phát triển một cách hữu cơ, không chỉ từ các lợi ích chính trị, mà từ cả lợi ích xã hội và kinh tế nữa. Những người mà đã không đọc Montesquieu cẩn thận, Hamilton cảnh cáo chúng ta, “có vẻ đã không biết ý kiến của con người vĩ đại đó được bày tỏ ở phần khác của tác phẩm của ông (hiển nhiên phần mà hầu hết chúng ta không đọc nơi sự thật của thông điệp của ông thực sự được tìm thấy), cũng chẳng nói đến các hệ quả của nguyên lý mà họ tán thành với sự sẵn sàng đồng ý như vậy.”48 Nếu bạn chấp nhận các nguyên lý của Montesquieu, thì chúng ta, và đất nước, sẽ chịu những hệ quả khủng khiếp.

Đây không phải là “đánh giá cao” Montesquieu mà chúng ta đã kỳ vọng từ các nhà Federalist. Tuy vậy, không có sự lầm lẫn nào. Hamilton buộc tội ông đã đưa ra những sự phân biệt “tinh vi hơn là chính xác”49 mà đã chỉ dẫn đến “những sự cải thiện của một lý thuyết sai lầm.”50 Nhưng còn nhiều hơn thế, đi chấp nhận các tư tưởng của Montesquieu là có cơ phải chịu thảm họa. Hamilton tung lời đả kích người mà được cho là đồng bào của ông về tư tưởng với sự cay đắng. Hamilton nói về Montesquieu:

Nếu chúng ta vì thế theo tư tưởng của ông về điểm này như tiêu chuẩn của sự thật, chúng ta sẽ bị dồn vào sự lựa chọn khả dĩ hoặc ẩn náu ngay lập tức vào tay của nền quân chủ, hay chia tách bản thân chúng ta thành vô số các nước cộng hòa nhỏ bé, đố kỵ, bất hòa, hỗn độn, các nơi nuôi dưỡng cùng khổ của mối xích mích không ngừng và các thần dân khốn khổ của sự đáng tiếc hay sự khinh rẻ.51

“Điểm” mà làm Hamilton lo lắng đến vậy đã là gì? Montesquieu đã sai, không phải trong gợi ý rằng “một liên bang” đôi khi có thể là một dạng có thể chấp nhận được của chính phủ, mà là trong khuyến nghị “một quy mô nhỏ cho các nền cộng hòa,” tức là, một quốc gia nhỏ, “thua kém xa giới hạn của hầu như mỗi trong các Bang này.”   Để chắc chắn rằng  điểm quan trọng này được lĩnh hội đúng, Hamilton đã tiếp tục: Cả Virginia, Massachusetts, Pennsylvania, New York, North Carolina, lẫn Georgia đều không thể so sánh được, bằng bất cứ cách nào, với các mô hình mà từ đó ông đã lập luận và các điều kiện của sự mô tả của ông thích ứng với.”52

Chúng ta không thể hiểu sự kịch liệt của Hamilton trong việc bác bỏ đề xuất của Montesquieu cho các quốc gia nhỏ như một lý tưởng – một gợi ý có vẻ hợp lý – mà không đọc Bài số 9 cùng với Bài số 10. Bài số 10 hình như để bỏ rơi chủ đề của bài trước và do Madison viết. Nó chẳng nói gì nhiều hơn về Montesquieu, và là về các bè phái, nhưng nó là một thí dụ về tất cả các tác giả Federalist đã thống nhất thế nào về các nguyên tắc cơ bản.53

Madison không do dự tiếp tục chủ đề then chốt của Hamilton: một quốc gia lớn là cốt yếu cho tự do. Vì sao? Bởi vì nó chứa nhiều bè phái. Các bè phái không thể được loại trừ; chỉ các tác động của chúng có thể được kiểm soát. Bởi ai? Chỉ bởi các bè phái khác. Đấy đã là một chìa khóa cốt yếu cho thiên tài của hệ thống của các nhà Federalist. Họ đã biến cái có vẻ là một rào cản không thể vượt qua nổi đối với chính phủ tốt và hạn chế thành nền tảng của sự sống sót và sự tồn tại của nền dân chủ. Họ đã nói, “hãy để bè phái chống chọi bè phái.” Nhưng đã phải có nhiều bè phái tồn tại trong xã hội để điều này xảy ra. Khác đi, nếu một đa số kiên định chống lại một thiểu số, đa số sẽ thắng.54

Khi khăng khăng rằng các kiểm soát và đối trọng phải tồn tại trong xã hội, các nhà Federalist đã vượt quá Montesquieu người mà, họ biện luận, đã không thể hiểu đúng đắn rằng các dàn xếp pháp lý và thể chế hình thức đòi hỏi một cơ sở xã hội; khác đi thì ông đã không khuyến nghị các quốc gia nhỏ nơi mà tính thuần nhất sẽ làm cho các sự kiềm chế quyền lực khó khăn hơn.

Đưa Xã hội Vào Nhà nước

Các nhà Federalist đã vượt quá Montesquieu theo cách khác, một cách mà đặc biệt xác đáng cho những người nói về “xã hội dân sự” ngày nay, và cho những người ở châu Phi hiện đại và các xã hội mới nổi khác, những người muốn một nhà nước hạn chế mà sẽ để mặc các hiệp hội tư. Thông điệp của các Federalist đã là: người ta đã không thể tin cậy nhà nước để kiềm chế không nhúng tay vào bất cứ thứ gì. Phải làm cho nhà nước kiềm chế chính nó. Họ đã có thể hoàn thành việc này chỉ bằng việc đưa bản thân xã hội vào trong nhà nước. Các yếu tố thuộc nhiều loại khác nhau trong xã hội phải được đặt ngồi đúng mức trong nhà nước, tức là, họ phải thể chế hóa một cách thích hợp các bè phái tất yếu đó.55

Bản sắc của các bè phái, bản chất và cấu tạo của chúng, sẽ biến đổi theo thời gian. Các cá nhân biết điều cũng có thể bất đồng về các quan niệm chi tiết về các định chế được quy định. Tuy vậy, vạch ra một ranh giới, hoặc đúng hơn không vạch ra một ranh giới giữa nhà nước và xã hội dân sự đã là cái thực sự quan trọng. Đây là cái đã là then chốt. Đây là cái Montesquieu đã không hiểu. Đây là cái mà các nhà tư tưởng đương thời những người coi xã hội dân sự tách rời khỏi nhà nước, hay những người hy vọng hoặc cầu xin rằng nhà nước sẽ khoan thứ hay để mặc xã hội dân sự, không hiểu. Hiến pháp đề ra một quá trình mà dẫn đến sự hợp nhất các bè phái vào các cơ quan được thể chế hóa của nhà nước.

Madison kết nối một cách tường minh nhà nước và xã hội dân sự lại với nhau trong những đoạn hiếm hoi nơi ông dùng thuật ngữ “xã hội dân sự” khi ông bảo chúng ta rằng: “Sự ổn định trong chính phủ là cốt yếu đối với tính cách quốc gia và đối với các lợi thế phụ thêm vào nó, cũng như đối với sự thanh thản và sự tin tưởng đó trong tâm trí nhân dân, mà là trong số các phúc lành chính của xã hội dân sự.”56  Sự ổn định, tuy vậy, sẽ không đạt được trong một xã hội nhỏ. Trong Bài Federalist số 10, Madison ngầm đề cập đến Montesquieu khi ông nói:

. . . một số nhỏ công dân, những người tụ hợp lại và đích thân quản lý chính phủ, có thể không có phương thuốc nào cho mối nguy hại của bè phái. Một sự say mê hay lợi ích chung, trong hầu như mọi trường hợp, sẽ được cảm thấy bởi một đa số của toàn bộ; một sự liên lạc và sự hòa hợp do bản thân hình thức của chính phủ gây ra; và chẳng có gì để kiểm soát các sự xui khiến để hy sinh bên yếu hơn hay một cá nhân khó chịu. Vì thế các nền dân chủ như vậy đã luôn luôn là những cảnh tượng hỗn loạn và tranh chấp; đã luôn luôn thấy không tương thích với sự an toàn cá nhân hay các quyền tài sản; và nói chung chúng đã đoản mệnh như chúng đã hung dữ trong cái chết của chúng.57

Cái phải được làm là rõ: “Mở rộng phạm vi và bạn hiểu được một sự đa dạng lớn hơn của các đảng và các lợi ích; bạn làm cho ít có khả năng hơn rằng một đa số của toàn bộ sẽ có một động cơ chung để xâm phạm các quyền của các công dân khác; hay nếu có một động cơ như vậy, sẽ là khó hơn cho tất cả những người mà cảm thấy nó để nhận ra sức mạnh của chính họ và để nhất trí hành động với nhau.”58

Những Khó khăn Thực tiễn trong Tạo ra Một Hiến pháp

Những khó khăn của việc xây dựng một chính phủ tự-hạn chế là nhiều. Có các vấn đề về tri thức chuyên gia; và có các vấn đề về sự cân bằng mỏng manh và về sự đánh giá nơi những người tử tế có thể bất hòa. “Về việc so sánh các thành phần sống còn này với các nguyên lý của tự do,” Madison bảo chúng ta, trong xác định độ dài nhiệm kỳ của các quan chức, chẳng hạn, và cân nhắc các đòi hỏi về tính ổn định với sự cần thiết giữ các quan chức lệ thuộc, “chúng ta phải thấy ngay sự khó khăn của việc trộn lẫn họ với nhau theo tỷ lệ thích đáng của họ.” Madison tiếp tục để nói rằng: “Không ít gay go hơn đã phải là công việc đánh dấu đường ranh giới thích hợp của sự phân chia giữa quyền hạn của nhân dân và quyền hạn của các chính phủ Bang.”59 Và các nhà làm hiến pháp cũng phải đối mặt các vấn đề phán xét và sự thực mà đòi hỏi sự điều tra mang tính kinh nghiệm đặc biệt khi đi đến việc quyết định về sự phân chia và tách biệt quyền lực:

Khi chúng ta đi từ các tác phẩm của tự nhiên, mà trong đó mọi sự phác họa là chính xác hoàn toàn và có vẻ là khác chỉ từ những thiếu sót của con mắt quan sát chúng, qua các định chế của con người, mà trong đó sự mờ mịt cũng nảy sinh từ bản thân đối tượng như từ cơ quan mà qua đó nó được ngắm, chúng ta phải nhận thức sự cần thiết của việc bớt đi thêm nữa các mong đợi và hy vọng của chúng ta từ các cố gắng của sự sắc sảo con người. Kinh nghiệm đã dạy chúng ta rằng không kỹ năng nào trong khoa học về chính quyền đã có khả năng để phân biệt và xác định, đủ chắc chắn, ba lĩnh vực lớn của nó – lập pháp, hành pháp, và tư pháp; hoặc ngay cả các đặc quyền và quyền lực của các nhánh lập pháp khác nhau. Các câu hỏi hàng ngày xuất hiện trong tiến trình thực tiễn chứng tỏ sự tối tăm ngự trị trong các chủ đề này, và làm bối rối các bậc tinh thông vĩ đại nhất trong khoa học chính trị.60

Công việc của các nhà khoa học chính trị, Madison bảo chúng ta, là khó – nhưng không phải là không thể. Cái họ có là một phương pháp, và các nguyên lý cơ bản. Nếu được áp dụng một cách thích hợp, “khoa học chính trị” mới này có thể hữu hiệu, không chỉ ở các bang Mỹ mới, mà ở bất cứ đâu, có lẽ kể cả Ethiopia và Eritrea.

Chẳng hạn, chúng ta biết rằng: “Sự tích tụ tất cả quyền lực, lập pháp, hành pháp, và tư pháp, trong cùng bàn tay, dù của một, vài, hay nhiều người, và dù do cha truyền con nối, tự-bổ nhiệm, hay do bầu cử, có thể đúng là chính định nghĩa rõ rệt của chính thể chuyên chế.”61 Nhưng chúng ta cũng biết, và chẳng bao giờ được quên, rằng sự viết ngoáy pháp lý không phải là thế giới thực, và như thế: “. . . chỉ một sự phân ranh giới trên giấy da về các giới hạn hiến định của dăm ba bộ không là sự bảo vệ đủ chống lại những sự vi phạm mà dẫn tới một sự tập trung chuyên chế mọi quyền lực nhà nước trong cùng các bàn tay.”62

Như thế làm sao và cái gì sẽ làm cho hệ thống này hoạt động trong thế giới thực? Madison diễn đạt câu hỏi theo cách thế này:

Thế thì, chúng ta cuối cùng sẽ dùng cách nào để duy trì trong thực tiễn sự phân chia quyền lực giữa các bộ như được đề ra trong Hiến pháp? Vì tất cả các điều khoản bên ngoài này được thấy là không thỏa đáng, câu trả lời duy nhất mà có thể được đưa ra là sự thiếu sót phải được bổ khuyết, bằng sự trù liệu cấu trúc bên trong của chính phủ sao cho các phần hợp thành của nó, do các mối quan hệ tương hỗ của chúng, có thể là các công cụ giữ lẫn nhau trong các vị trí thích hợp của chúng.63

Một số các thói quen định chế và điều khoản có thể giúp giữ “các phần hợp thành” trong “các vị trí thích hợp của chúng.” Giữa các thứ này, “. . . là hiển nhiên rằng mỗi bộ phải có một ý chí riêng của nó; và do đó phải được thiết lập sao cho các thành viên của mỗi bộ phải có càng ít năng lực hành động càng tốt trong việc bổ nhiệm các thành viên của các bộ khác.”

Cái bảo vệ lớn nhất của tự do, tuy vậy, đã là để liên kết chức vụ, con người và lợi ích xã hội lại với nhau trong một hệ thống nơi mỗi chức cụ, con người và lợi ích xã hội đấu với mỗi thứ khác; nơi các cuộc đấu tranh của xã hội được đưa vào các phòng họp của chính phủ, cũng như vào các phòng đầy khói thuốc của hoạt động chính trị. Như Madison diễn đạt, “Nhưng sự an toàn lớn chống lại sự tập trung từ từ nhiều quyền lực vào trong cùng bộ cốt ở việc trao cho những người quản lý mỗi bộ các công cụ hiến định cần thiết và các các động cơ cá nhân để kháng cự lại những sự xâm phạm của các bộ khác.”64  Chỉ một phương pháp đã có thể thành công trong nỗ lực cơ bản này. “Phải làm cho tham vọng kháng cự lại tham vọng. Lợi ích của con người phải được kết nối với các quyền hiến định của vị trí.”

Ông đã thú nhận, nghĩ và lập kế hoạch theo cách này đã không thực sự đẹp. Về mặt thức tế, tuy vậy, ta đã chẳng có thể làm gì khác:

Có thể là một sự suy ngẫm về bản chất con người mà các dụng cụ như vậy phải là cần thiết để kiểm soát những sự lạm dụng chính phủ. Nhưng bản thân chính phủ là gì nếu không phải là cái lớn nhất trong tất cả những suy ngẫm về bản chất con người? Nếu giả như con người là các thiên thần, thì chẳng cần đến chính phủ nào. Nếu giả như các thiên thần cai trị con người, không cần những sự kiểm soát bên trong lẫn bên ngoài lên chính phủ. Việc dựng lên một chính phủ mà được quản lý bởi con người trên con người, sự khó khăn lớn nằm ở điều này: đầu tiên bạn phải cho phép chính phủ kiểm soát những người bị trị; và kế đó buộc nó kiểm soát chính nó.

Các thiếu sót của bản chất con người, vì thế, có thể được bù đắp bởi những dàn xếp hiến pháp:

Chính sách này về bổ khuyết thiếu sót của các động cơ tốt hơn, bằng các lợi ích ngược nhau và tranh đua, đã có thể được lần theo dấu vết qua suốt toàn bộ hệ thống công việc con người, tư cũng như công. Chúng ta thấy nó được phô bày đặc biệt trong mọi sự phân bổ cấp thấp của quyền lực, nơi ý định bất biến là để chia và sắp xếp các chức vụ theo cách sao cho mỗi chức vụ có thể là một sự kìm hãm chức vụ khác – sao cho lợi ích tư của mỗi cá nhân có thể là một lính canh các quyền lợi công. Các sáng chế này về sự thận trọng không thể là ít cần thiết hơn trong phân bổ các quyền lực tối cao của Nhà nước.65

Lại lần nữa, tuy vậy, họ cảnh cáo rằng các sự cản trở chế định sẽ chống đỡ và bảo vệ liên bang chỉ ở một mức độ hạn chế. Chúng có thể hoạt động chỉ nếu chúng được neo một cách thích hợp vào xã hội.

“Để Bảo vệ Một Phần của Xã hội Chống lại những Bất công từ Phần Khác”

Madison khuyên rằng: “Là rất quan trọng trong một nền cộng hòa không chỉ để bảo vệ xã hội chống lại sự áp bức của những kẻ cai trị của nó, mà để bảo vệ một phần của xã hội chống lại sự bất công từ phần khác.” Đối với Madison, xã hội là một thực thể phức tạp được cấu tạo từ nhiều lợi ích xung đột nhau: “Các lợi ích khác nhau nhất thiết tồn tại trong các giai cấp khác nhau của các công dân.” Lần nữa, vấn đề lớn nhất là đa số: “Nếu một đa số được thống nhất bởi một lợi ích chung, thì các quyền của thiểu số sẽ không an toàn.” Rồi Madison triển khai phương cách chữa trị:

Chỉ có hai phương pháp được dự phòng chống lại tai họa này: một cách bằng việc tạo ra một ý chí trong cộng đồng độc lập với đa số – tức là, với bản thân xã hội; cách khác bằng sự thấu hiểu nhiều diện mạo riêng rẽ của các công dân trong xã hội đến mức sẽ làm cho một sự kết hợp bất công của một đa số của toàn thể là rất không chắc sẽ xảy ra, nếu không phải là bất khả.

Phương pháp thứ nhất có sự nguy hiểm rằng quyền thế chi phối có thể hành động độc đoán. Phương pháp thứ hai là phương pháp của cộng hòa liên bang của Hoa Kỳ: “Trong khi toàn bộ quyền lực trong nó sẽ được bắt nguồn từ và phụ thuộc vào xã hội, bản thân xã hội sẽ được xé lẻ thành rất nhiều phần, lợi ích và giai cấp của các công dân, để cho các quyền của các cá nhân, hay của thiểu số, sẽ ít bị nguy hiểm từ những sự kết hợp đặc lợi của đa số.”66 “Lợi ích lâu dài và tổng hợp của cộng đồng” cả được xác định thông qua, lẫn được tạo thành bởi, quá trình cũng như kết cục của sự cai trị.

Công lý Là Mục đích của Xã hội Dân sự

Madison có một lý lẽ để lại. Và đây là một sự ngạc nhiên từ một người mà suốt từ đầu đã xác nhận rằng tính ích kỷ và tính hay thù oán đặc trưng cho hành động của con người. Ông cầu khẩn đến “công lý”:

Công lý là mục đích của chính phủ. Nó là mục đích của xã hội dân sự. Nó đã từng được và sẽ luôn luôn được theo đuổi cho đến khi đạt được, hoặc cho đến khi tự do bị mất trong sự theo đuổi. Trong một xã hội dưới các hình thức của nó mà bè phái mạnh hơn có thể sẵn sàng liên hiệp lại và áp bức kẻ yếu hơn, sự vô chính phủ có thể thực sự được cho là ngự trị như trong một trạng thái tự nhiên, nơi cá nhân yếu hơn không được an toàn đối lại bạo lực của kẻ mạnh hơn; và như, trong trạng thái sau, ngay cả các cá nhân mạnh hơn bị xúi giục, bởi sự không chắc chắn của thân phận của họ, để quy phục một chính phủ mà có thể bảo vệ kẻ yếu cũng như bản thân họ; như thế, trong trạng thái trước, các bè phái hay các đảng hùng mạnh hơn sẽ từ từ được thuyết phục, bởi một động cơ như nhau, để ước ao một chính phủ mà sẽ bảo vệ tất cả các bên, kẻ yếu hơn cũng như kẻ hùng mạnh hơn.67

Sự cầu xin của Madison cũng là một lời cảnh cáo: nó là một sự đòi hỏi cho nguyên lý cao hơn – sự truy tìm công lý. Nó là một tuyên bố rằng việc bảo vệ kẻ yếu, mà rõ ràng là các hành động vị tha, có thể cũng là tự-bảo vệ. Và nó là một lời di chúc rằng nơi kẻ yếu không được làm cho an toàn trong một sự theo đuổi đúng đắn, thì kẻ mạnh cũng chẳng được an toàn, và tất cả sẽ bị đe dọa bởi bóng ma của một trạng thái tự nhiên kiểu Hobbesian Thomas Hobbes đã không phải xem xét kỹ trí tưởng tượng của ông để tìm thấy “một trạng thái tự nhiên” nơi cuộc sống của con người đã là “cô độc, nghèo khổ, tàn bạo, kinh tởm, và ngắn ngủi.” Hobbes đã viết về những cảnh khủng khiếp của nước Anh đầu thế kỷ thứ mười bảy bị tàn sát bởi các cuộc nội chiến.

Có là quá nhiều để hy vọng rằng các cuộc chiến tranh diệt chủng, hãm hiếp tập thể, thanh trừng sắc tộc ở Bosnia, và giết anh em ở Somalia đã có thể không dạy các trí thức Phi châu và các trí thức khác – những người nắm quyền, và chúng ta những người nói về các hiến pháp – rằng chúng ta phải tìm cách để tạo ra các chỗ an toàn cho tất cả các nhóm văn hóa và sắc tộc?

Các Thất bại của các nhà Federalist và của Hệ thống Hiến pháp

Đi nói về công lý trong các giới hàn lâm và chính trị đương thời là không hợp mốt. Nhưng những người mà coi Hiến pháp Mỹ và hệ thống Mỹ như một mô hình cho những người khác bắt chước, phải nhận ra các thiếu sót lâu dài nhất định của hệ thống đó.

Không đưa ra một phê phán quy mô đầy đủ, chí ít ta phải chỉ ra rằng tại một trong những nước giàu có nhất của thế giới trẻ em vẫn đi ngủ đói bụng, hàng ngàn người vô gia cư ăn xin trên các đường phố, những người da màu sống dưới mức tiêu chuẩn quốc gia, giai cấp trung lưu lo ngại về tuổi già của mình, thậm chí người giàu có lo về khả năng chi trả của chăm sóc ý tế, và bốn phần trăm trên đỉnh của những người Mỹ kiếm được tiền công và tiền lương nhiều như năm mươi mốt phần trăm dưới cùng.68 Chúng ta phải tính đến các phần quan trọng của toàn bộ các thế hệ như phần của các chi phí xã hội của chính phủ “gián tiếp.”

Những người Mỹ ít hơn và bị sút kém này không phải là kết quả của “những sai lầm,” các tai nạn, hay những điều phi lý. “Hệ thống” đã tạo ra những kết quả này. Hiến pháp đảm bảo chỉ việc tham gia trong quá trình, và không phải các kết quả cụ thể có ích về mặt xã hội; cấu trúc được xây dựng trên các lợi ích hạn chế; văn hóa chính trị mà cổ vũ những người bị thua thiệt để nghĩ theo những khoảng thời gian mà không thể thỏa mãn các nhu cầu thực của họ.

Ngày nay mọi tổ chức quốc tế, mọi ngân hàng và tổ chức cho vay, mọi chính phủ và công ty xuyên quốc gia, cũng như hầu hết các chuyên gia hàn lâm, thúc giục các chính phủ của các “quốc gia mới nổi” để “tái cấu trúc’ và để cắt bớt hay loại bỏ mọi chương trình xã hội.

Như các nhà Federalist có thể nói, “có nhiều sự thật trong lời khuyên này.”  Tuy vậy, chúng ta phải nhớ rằng trì hoãn sự giúp đỡ những người bất hạnh, trong “dài hạn” là đi hy sinh vì “mục đích cao hơn” nào đó mà có thể chẳng bao giờ có. Một thời chủ nghĩa cộng sản đã kêu gọi hy sinh nhân danh các thế hệ tương lai. Mỉa mai làm sao, và có thể tin được ngang nhau đến thế nào, khi chủ nghĩa tư bản đòi hỏi cùng thứ.

Kết luận

Trong việc tạo ra một nền dân chủ mới, các nhà Federalist đã cho rằng họ đã tìm công lý như mục đích của nhà nước và của xã hội dân sự. Họ đã không xem nhà nước và xã hội dân sự như đứng cách xa nhau, hoặc như trong sự cân bằng nguy hiểm. Đúng hơn họa đã hình dung, và họ đã cổ vũ sự bện vào nhau của các nhà nước và các bè phái, của con người tham lam và của các chức vụ làm cân bằng. Họ đã thiết kế một hệ thống chính phủ mà đã làm cho khó khăn đối với “nhân dân” để khiến cho bất cứ thứ gì được thực hiện, mà đặc biệt đã bảo vệ và đảy mạnh các lợi ích của quyền sở hữu. Nhưng họ đã lập nên một cơ chế cho sự tham gia mà đã thúc đẩy tầm nhìn dài hạn, mà đã đánh bẫy người nôn nóng, và mà đã xây dựng hy vọng vào tương lai. Các giá trị hiến pháp này đã không hướng đến các vấn đề loại bỏ sự nghèo xác xơ và sự bất bình đẳng cực độ trừ cách rất gián tiếp.

Đấy là sự hiểu biết của tôi về sự chuyển đổi sang dân chủ đã được các bậc khai quốc công thần và Hiến pháp Mỹ đề ra, và nó đã là một phúc họa lẫn lộn.

Dankwart Rustow đã cảnh cáo trong “Transitions to Democracy” của ông rằng “. . . một nước chắc đạt được dân chủ không phải bằng sao chép các luật hiến pháp hay các tập quán nghị viện của nền dân chủ trước nào đó, mà đúng hơn bằng sự đối mặt thành thật xung đột riêng của nó và bằng nghĩ ra hay thích nghi các thủ tục hữu hiệu cho việc dàn xếp chúng.”69 Đối với “nhân dân” theo nghĩa của Publius, ở Hoa Kỳ cũng như ở các quốc gia mới nổi, đó vẫn nghe giống không chỉ sự phân tích hay mà là lời khuyên tuyệt vời.

Irving Leonard Markovitz

—-

CHÚ THÍCH

Tôi muốn bày tỏ sự cảm kích của mình tới John Bowman, Alem Habtu, Joseph S. Murphy, Larry Peterson, Solomon Resnik, Burton Zwiebach và Ruth Markovitz. Họ đã cổ vũ một dạng sớm hơn của nỗ lực này, đã làm cho tôi khỏi sai sót, và đã đóng góp sự thấu hiểu đặc biệt. Họ cũng đã ngừng công việc riêng của họ để thích nghi với thời gian biểu của tôi.

Một phiên bản sớm hơn của bài báo này, “Constitutions, Civil Society, and the Federalist Papers” được trình bày tại hội thảo “On the Making of the New Ethiopian Constitution,” do Inter-African Group, Addis Ababa, Ethiopia đỡ đầu, từ 17-19 tháng Năm 1993. Một biến thể khác, tập trung vào “các kiểm soát và đối trọng” đã được trình bày tại cuộc hội thảo về “Hiến pháp là Làm Hiến pháp” được đỡ đầu bởi Constitutional Commission of Eritrea, Asmara, Eritrea, January 7 – 11, 1995. Tôi muốn cản ơn các nhà tổ chức của các hội nghị đó và đặc biệt Abdul Mohammad ở Ethiopia, và Bereket Habte Selassie và Amare Tekle ở Eritrea, vì cơ hội để tham gia.

  1. “Democracy In The Late Twentieth Century: Historic Perspectives on a Global Revolution,” Unpublished paper presented to CUNY Political Science Conference, March 9, 1990, p. 5.
  2. Ibid. Page 18.
  3. Xem chẳng hạn, Anthony DePalma, “Constitutions Are the New Writers’ Market,” New York Times, November 30, 1997. Cũng xem như các thí dụ về số tài liệu hiện thời khổng lồ thuộc loại này, inter alia (không kể các thứ khác), các sưu tập sau đây: Arend Lijphart and Carlos H. Waisman, eds., Institutional Design in New Democracies (Boulder: Westview Press, 1996); Mary Ellen Fischer, ed., Establishing Democracies (Boulder: Westview Press, 1996); Karol Edward Soltan and Stephen L. Elkin, eds., The Constitution of Good Societies (University Park: Penn- sylvania State University Press, 1996); và Abdo I. Baaklini and Helen Des- fosses, eds., Designs for Democratic Stability: Studies in Viable Constitutionalism (Armonk, N.Y.: M.E. Sharpe).
  4. ‘‘Transitions to Democracy: Toward a Dynamic Model,’’ Comparative Politics 2, no. 2 (April 1970) p. 350.
  5. Rustow tiếp tục để nói: “Sự thống nhất quốc gia được liệt kê như một điều kiện nền theo nghĩa nó phải có trước tất cả các pha khác của dân chủ hóa nhưng mặt khác sự định thời gian của nó thì không liên quan. Nó đã có thể đạt được trong thời tiền sử, như ở Nhật Bản hay Thụy Điển; hay nó đã đi trước các pha khác hàng thế kỷ, như ở Pháp, hoặc hàng thập kỷ, như ở Thổ Nhĩ Kỳ.” p. 351. Cách này hay cách khác, phải có sự thống nhất.
  6. Ibid., p. 362.
  7. Ibid., p. 363.
  8. Samuel P. Huntington, The Third Wave: Democratization in the Late Twentieth Century (Norman: University of Oklahoma Press, 1991), p. 37. Cf. Barrington Moore, Social Origins of Dictatorship and Democracy: Lord and Peasant in the Making of the Modern World (Boston: Beacon Press, 1966). Cả Moore lẫn Huntington đều không bảo chúng ta loại nào của giai cấp tư sản, hoặc bao nhiêu của một gia cấp tư sản, là cần thiết cho nền dân chủ bén rễ. Về một sự khảo sát tỉ mỉ các tranh cãi này xem Irving Leonard Markovitz, Power and Class in Africa (Englewood Cliffs: Prentice-Hall, 1977); và đặc biệt phần dẫn nhập, pp. 3 – 21, trong Studies in Power and Class in Africa (New York: Oxford University Press), 1987.
  9. Alexander Hamilton, James Madison and John Jay, The Federalist Papers (New York: New American Library, 1961), No. 10, p. 78.
  10. Rustow, p. 352.
  11. Ibid, p. 361.
  12. G. O’Donnell, P. Schmitter and L. Whitehead, eds., Transitions from Authoritarian Rule: Prospects for Democracy (Baltimore: The Johns Hopkins University Press), 4 vols.
  13. Scott Mainwaring, Guillermo O’Donnell and J. Samuel Valenzuela, eds., Is- sues in Democratic Consolidation: The New South American Democracies in Comparative Perspective (South Bend, Ind.: University of Notre Dame Press, 1992).
  14. Gerardo L. Munck, Comparative Politics 26 (April 1994), pp. 355 – 375. Cf. Adam Przeworski, Democracy and the Market: Political and Economic Reforms in Eastern Europe and Latin America (New York: Cambridge University Press, 1991).
  15. Tuy vậy, xem thêm Huntington, The Third Wave, người đưa ra một dãy chiết trung của các nhân tố nguyên nhân cơ bản cho các sự chuyển đổi sang dân chủ mà trải từ các vấn đề về tính chính đáng đến các cấu trúc xã hội thay đổi đến những sự can thiệp nước ngoài đến sự chứng minh các tác động của kinh nghiệm của các nước khác đến các giáo lý tín ngưỡng thay đổi. Nhưng Huntington cũng tập trung vào các loại khác nhau của các tương tác elite khi đi đến việc hiểu sự tiến bộ của chuyển đổi. Xem đặc biệt Chương 2.
  16. “Chuyển đổi qua giao dịch” và “chuyển đổi qua cải cách” thực sự là các thuật ngữ khác nhau được các nhà khoa học xã hội khác nhau sử dụng để mô tả và “chuyển đổi qua sự thất bại chế độ” cũng là các thuật ngữ đại thể tương đương được các tác giả khác nhau sử dụng trong tài liệu; “chuyển đổi qua sự giải thoát” là khi những kẻ cai trị của một chế độ độc tài tiếp tục nắm đủ quyền lực sao cho họ có thể thương lượng sự rút lui của họ khỏi quyền lực. So sánh Munck, “Democratic Transitions in Comparative Perspective,” p. 359.

Phương thức chuyển đổi chế độ khác nữa được điển hình hóa bởi một elite độc đoán đang ra đi mà giữ đủ quyền lực để xác định không chỉ sự rút lui của họ khỏi chức vụ, mà các các chính sách và cấu trúc, và các giá trị của những người kế vị “dân chủ” của họ. Chúng ta có thể, đáng tiếc gọi việc này là “chuyển đổi qua sự làm thành vĩnh viễn.” So sánh J. Patrice McSherry, Incomplete Transition: Military Power and Democracy in Argentina (New York: St. Martin’s Press, 1997), người không dùng thuật ngữ này, nhưng cho thấy làm thế nào quân đội có thể duy trì quyền lực qua tác động đến các cơ quan cơ bản của nhà nước và xã hội.

  1. Cf., e. g. Arthur Bentley, The Process of Government (Chicago: University of Chicago Press, 1908); and David Truman, The Governmental Process (New York: Knopf, 1951).
  2. Tuy thế, một ý kiến mạnh mẽ đã cho rằng chính phủ dưới các Điều khoản [Liên bang] đã phục vụ hữu hiệu những mục đích của nhân dân. Ai đã cần một chính phủ “mạnh”? Massachusetts, và chính phủ Bang “mạnh” đã không thể huy động ngân quỹ cho một quân đội để đàn áp cuộc nổi loạn của Daniel Shays trong năm 1786 – 87, các giai cấp hữu sản đã bị hoảng sợ. Cf. Herbert J. Storing, What the Anti-Federalists Were For: The Political Thought of the Opponents of the Constitution (Chicago: University of Chicago Press, 1981). Đây là tập thứ nhất, được xuất bản riêng rẽ, của bảy tập khổng lồ của Storing, The Complete Anti-Federalist, do University of Chicago Press xuất bản năm 1977. Cho lý lẽ của bài báo này, xem đặc biệt chương hai của Storing, ‘‘The Small Republic,’’ pp. 15 – 23. Cf. Merrill Jensen, The Articles of Confederation (Madison: University of Wisconsin Press, 1940).

Qua các năm, các học giả đã tranh luận mức độ mà hiến pháp đã là kết quả của các lợi ích kinh tế của lực lượng cai trị. Xem, thí dụ trường hợp kinh điển của Charles Beard cho An Economic Interpretation of The Constitution (New York: Macmillan, 1913; và sự bác bỏ đầy ấn tượng của  Forrest McDonald, We, The People (Chicago: University of Chicago Press, 1958).

  1. Xem thí dụ Seymour Martin Lipset, Political Man (Garden City: Dou- bleday, 1960); và The First New Nation. Cf. Robert Dahl, Preface to Demo- cratic Theory (Chicago: University of Chicago Press, 1956).
  2. Nhưng họ đã không vội vã để đưa nhân dân lên các danh sách cử tri. Trước đây trong năm 1940, John Herman Randall, Jr. đã nêu vấn đề rất hay khi ông nói” “Benjamin Franklin, chẳng hạn, đã tin rằng ‘về phần những người mà không có điền sản thì việc cho phép họ bỏ phiếu cho các nhà lập pháp là một sự không đúng’; và Hamilton đã nghĩ rằng những người mà không có tài sản nào thì không thể coi một cách đúng đắn như họ có bất cứ ý chí riêng nào. Không một trong các hiến pháp bang mới nào đã ban sự bỏ phiếu cho nhiều bằng nửa dân cư đàn ông. Những người giữ chức vụ đã được đòi hỏi phải có tài sản đáng kể: ở Massachusetts thống đốc đã phải có một thái ấp có giá trị £1.000, ở Maryland £5.000, và ở South Carolina £10.000.”, The Making of the Modern Mind (Boston: Houghton Mifflin, p. 347).

Khi Alexander Hamilton quay lại hành nghề tư nhân về luật năm 1795, ông đã minh họa bằng thí dụ liên minh mới được rèn giữa các lợi ích pháp lý và thương mại. Trong một trong các vụ mới của ông, Hamilton đã thắng sự phán quyết bồi thường thiệt hại khổng lồ $120.000. Morton J. Horwitz, The Transformation of American Law, 1780 – 1860 (Cambridge: Harvard University Press, 1977, p. 141).

  1. Cf. Harvey C. Mansfield, ‘‘Hobbes and the Science of Indirect Government,’’ American Political Science Review 65 (1) (1971), pp. 97 – 110.
  2. Cf. Kay Lehman Schlozman and Sidney Verba, Insult to Injury: Unemployment, Class, and Political Response (Cambridge: Harvard University Press, 1979).
  3. Về một diễn giải lạc quan hơn nhiều về hiến pháp và về các lực thúc đẩy ở đằng sau các nhà Federalist, xem cuốn được giải Pulitzer 1993, The Radicalism of the American Revolution, của Gordon S. Wood (New York: Knopf, 1992). Wood phủ nhận rằng Madison và các nhà Federalist đã là các nhà đa nguyên theo nghĩa hiện đại ngày nay. Đúng hơn, và mâu thuẫn trực tiếp với luận đề của bài báo này, ông cho rằng: “Họ vẫn bám vào lý tưởng cộng hòa về một quyền lực công tự trị mà đã khác với nhiều lợi ích của xã hội.” Và họ đã có khả năng làm vậy bởi vì họ đã tin rằng những người giữ chức vụ trong chính phủ quốc gia mới sẽ có năng khiếu hơn để là “tầng lớp quý tộc nhỏ vô tư những người được hỗ trợ bởi sự giàu có chủ sở hữu và không dính líu đến lợi ích buôn bán của thương trường.” p. 253.

Bức tranh mà Wood truyền đạt về Mỹ như một “xã hội thịnh vượng, tranh đua, dám làm” bao gồm hầu như toàn bộ “giai cấp trung lưu” làm chói tai, không chỉ bởi vì nó hạ thấp tầm quan trọng của sự tồn tại và thân phận của các nô lệ, mà cũng bởi vì sự thất bại của nó để trao trọng lượng đáng kể cho tất cả những sự chia rẽ giai cấp đó trong thành phố, trang trại và các vùng. Xem thí dụ các tiểu luận trong Alfred F. Young, ed., The American Revolution: Explorations in the History of American Radicalism (DeKalb: Northern University Press, 1976), đặc biệt các tiểu luận của Edward Countryman về “Northern Land Rioters,” pp. 37 – 70; Rhys Isaac, “Popular Culture and the Revolution in Virginia,’’ pp. 125 – 158; Dirk Hoerder, “Boston Leaders and Boston Crowds, 1765-1776,” pp.; và Joan Hoff Wilson, ‘‘Women and the American Revolution,’’ pp. 383 – 446.

  1. Federalist 1, p. 33. (Bài viết chủ trương Liên bang số 1)
  2. Ibid., p. 33.
  3. Ibid., p. 33. Sự nhấn mạnh được thêm vào.
  4. Federalist 2, p. 38.
  5. Federalist 2, p. 37.
  6. Federalist 2, p. 42.
  7. Federalist 2, p. 42.
  8. Federalist 2, p. 44.
  9. Federalist 3, p. 42.
  10. Federalist 9, p. 71. Sự nhấn mạnh được thêm vào. Hamilton tiếp tục để nói: “Là không thể để đọc lịch sử của các nền cộng hòa nhỏ bé của Hy Lạp và Ý mà không cảm thấy những xúc động mạnh của sự ghê rợn và căm phẫn về những sự mất trí mà với chúng họ đã liên tục kích động, và về sự kế tiếp nhanh của các cuộc cách mạng mà do chúng họ đã bị giữ trong một trạng thái chấn động không ngừng giữa các thái cực của sự chuyên chế và vô chính phủ.” p. 71.
  11. Federalist 49, p. 313.
  12. Federalist 49, p. 315.
  13. Federalist 10, p. 77.
  14. Federalist 10, p. 78.
  15. Federalist 10, p. 77.
  16. Federalist 6, p. 54.
  17. Cf. Henry Steele Commager, Majority Rule and Minority Rights (New York: Oxford University Press, 1943).
  18. Federalist 6, p. 55.
  19. Federalist 51, p. 323.
  20. Xem thí dụ, W. W. Rostow, The Stages of Economic Growth: A Non-Communist Manifesto (New York: Cambridge University Press, 1960); Nathan Rosenberg and L. E. Birdzell, Jr., How the West Grew Rich: The Economic Transformation of the Industrial World (New York: Basic Books, 1986); Joel Mokyr, The Lever of Riches: Technological Creativity and Economic Progress (New York: Oxford University Press, 1990); Alfred W. Crosby, The Measure of Reality: Quantification and Western Society, 1250 – 1600 (New York: Cambridge University Press, 1997).
  21. Federalist 9, p. 72.
  22. Federalist 9, p. 72.
  23. Federalist 9, p. 73.
  24. Federalist 9, p. 73.
  25. Federalist 9, p. 73.
  26. Federalist 9, p. 75.
  27. Federalist 9, p. 76.
  28. Federalist 9, p. 73.
  29. Federalist 9, p. 73.
  30. Về một thảo luận quyến rũ về “nhân cách chia rẽ” của Publius, và một nỗ lực để thấy một tiên đoán về sự đoạn tuyệt sâu sắc mà tự bộc bộ giữa Alexander Hamilton và James Madison xem Stanley Elkins and Eric McKitrick, The Age of Federalism: The Early American Republic, 1788 – 1800 (New York: Oxford University Press, 1993), pp. 103 – 105. Về mối quan tâm chính cho tiểu luận này, Hamilton rõ ràng đã sẵn sàng để sử dụng vũ lực, nếu tất cả các thứ khác đã thất bại, để duy trì sự thống nhất quốc gia hơn là Madison hoặc Jay.
  31. Đây đã là sự nhìn của một nhà nghiên cứu khác về hệ thống Mỹ và về các bài viết Federalist, Alexis de Tocqueville. Bất chấp sự ca ngợi quá đáng của ông về sự hiểu biết chính trị của họ, de Tocqueville cơ bản đã không đồng ý với niềm tin của các tác giả Federalist vào khả năng của các bè phái để kiềm chế sự nổi lên của chính thể chuyên chế. Cảm giác kinh hãi của ông bắt nguồn từ “sự truyền bá không thể lay chuyển được của sự bình đẳng” tạo ra sự chuyên chế của đa số, và sau đó của một người, hầu như không thể dừng được. Alexis de Tocqueville, Democracy in America, Vol. I (New York: Vintage).
  32. Trong Bài Federalist 10, Madison nói: “Sự điều tiết các lợi ích khác nhau và xía vào nhau này tạo thành nhiệm vụ chính của sự lập pháp hiện đại và liên can đến tinh thần của đảng và bè phái trong các hoạt động cần thiết và bình thường của chính phủ.” p. 79. Sự nhấn mạnh được thêm vào.
  33. Federalist 37, p. 226. Madison chấp nhận, nhưng thay đổi tinh tế cách Locke sử dụng thuật ngữ “xã hội dân sự.” Madison, giống Locke, xem xã hội dân sự và nhà nước như hai thực thể tách biệt, cách nhìn chi phối vào giữa thế kỷ thứ mười tám. Tuy nhiên, không giống Locke, người trình bày chủ đề của xã hội dân sự và nhà nước như các thực thể khác nhau, các nhà Federalist bận tâm với các mối quan hệ lẫn nhau của chúng. Đây là một chủ đề khác với chủ đề của giữa thế kỷ thứ mười chín nơi, trong Hegel, chẳng hạn, chủ đề mới là nhà nước tương phản với xã hội dân sự. Các nhà Federalist đã đặc biệt bận rộn với việc sử dụng “khoa học chính trị” mới để cổ vũ và phát triển sự đan xem của nhà nước và xã hội dân sự. Cf. John Keane, ed., Civil Society and the State (London: Verso, 1988); Ellen Meikins Wood, ‘‘The Uses and Abuses of ‘Civil Society,’ ’’ pp. 60 – 84, trong Ralph Miliband, ed., The Socialist Register, 1990 (New York: Monthly Review Press, 1991); và Irving Leonard Markovitz, ‘‘Uncivil Society: Capitalism and the State in Africa,’’ trong Nelson Kasfir, ed., Civil Society and Democracy in Africa: Critical Perspectives (London: Frank Cass, 1998), pp. 21 – 53.
  34. Federalist 10, p. 81.
  35. Federalist 10, p. 83.
  36. Federalist 37, p. 227.
  37. Federalist 37, p. 228.
  38. Federalist 47, p. 301. Ở đây lần nữa là một thí dụ nơi Montesquieu đáng thương đã không “hiểu nó.” Madison tuyên bố: “Từ các sự thực này, mà nhờ đó Montesquieu được hướng dẫn, có thể suy luận rõ ràng rằng trong việc nói ‘Không có tự do nào nơi quyền lực lập pháp và hành pháp được thống nhất trong cùng con người, hay hội đồng các quan tòa,’ hay, ‘nếu quyền xét xử không được tách rời khỏi quyền lập pháp và hành pháp,’ ông đã không định nói rằng các nhánh này nên không có năng lực hành động một phần (partial agency) nào trong, hay không có sự kiểm soát nào đối với, các hành động của nhau. Ý của ông, như những lời của chính ông cho biết, và còn thuyết phục hơn bởi thí dụ trong con mắt ông, có thể chẳng khác gì hơn của ông, rằng mơi toàn bộ quyền của một nhánh được thực hiện bởi cùng các bàn tay mà có toàn bộ quyền lực của nhánh khác, các nguyên tắc cơ bản của một hiến pháp tự do bị phá vỡ.” Ibid, p. 302.
  39. Federalist 48, p. 313.
  40. Federalist 51, p. 320.
  41. Federalist 51, p. 321.
  42. Federalist 51, p. 322. Chủ nghĩa liên bang, như được Hiến pháp quy định, cung cấp một sự kiểm soát chế định đặc biệt hữu hiệu đối với quyền lực: “Trong nền cộng hòa phức hợp của Mỹ, quyền lực do nhân dân giao lại đầu tiên được phân chia giữa hai chính quyền riêng biệt, và sau đó phần được phân cho mỗi chính quyền được chia nhỏ giữa các bộ riêng biệt và tách biệt. Vì thế một sự an toàn kép nổi lên cho các quyền của nhân dân. Các chính quyền khác nhau sẽ kiểm tra lẫn nhau, đồng thời mỗi sẽ được kiểm soát bởi chính mình” (Federalist 51, p. 323).
  43. Federalist 51, p. 324.
  44. Federalist 51, pp. 324-25.
  45. Về các số liệu thống kê về phân bố thu nhập, xem, thí dụ, Donald L. Barlett and James B. Steele, America What Went Wrong (Kansas City: Andrews and McMeel, 1992), p. xi và đây đó.
  46. Rustow, p. 354.

 (Transitions to Democracy

Biên tập: Lisa Anderson

Dịch: Nguyễn Quang A

Thuộc tủ sách SOS2)

VRNs đăng với phép của dịch giả

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s