Chuyển đổi sang Dân chủ (2): Tiến đến một Mô hình Động

VRNs (25.02.2015) – Hà Nội – Dưới đây là tiểu luận chính

 150223001

I

Các điều kiện nào làm cho dân chủ là có thể và các điều kiện nào làm cho nó phát đạt? Các nhà tư tưởng từ Locke đến Tocqueville và A. D. Lindsay đã cho nhiều câu trả lời. Dân chủ, chúng ta được bảo, đã bén rễ trong năng lực bẩm sinh của con người cho sự tự-quản hay trong truyền thống đạo đức Thiên chúa giáo hay truyền thống pháp lý Teutonic. Nơi sinh của nó đã là cánh đồng tại Putney nơi những lính trơn trẻ tức giận của Cromwell đã tranh luận với các sĩ quan của họ hay Viện bình thản hơn tại Westminster, hoặc tảng đá tại Plymouth, hay các bang có rừng bên trên Hồ Lucerne, hoặc bộ óc bồn chồn của Jean Jacques Rousseau. Các quán quân tự nhiên của nó là các kỵ binh nghĩa dũng kiên quyết, hay các nhà buôn cần cù, hay một giai cấp trung lưu sung túc. Nó phải được kết hợp với chính quyền địa phương mạnh, với một hệ thống hai đảng, với truyền thống mạnh mẽ của các quyền dân sự, hay với vô số các hiệp hội tư.

Các bài viết gần đây của các nhà xã hội học và khoa học chính trị Mỹ ủng hộ ba loại giải thích. Một trong các loại này, được Seymour Martin Lipset, Philips Cutright, và những người khác đề xuất, kết nối nền dân chủ ổn định với các điều kiện kinh tế và nền xã hội nào đó, như thu nhập đầu người cao, sự biết đọc biết viết phổ biến, và sự cư trú đô thị thịnh hành. Loại giải thích thứ hai nhấn lâu vào sự cần các sự tin tưởng nào đó hay các thái độ tâm lý giữa các công dân. Một hàng dài tác giả từ Walter Bagehot đến Ernest Barker  đã nhấn mạnh sự cần thiết cho sự đồng thuận như cơ sở của nền dân chủ – hoặc dưới dạng của một lòng tin chung vào nguyên tắc cơ bản nào đó hay sự đồng thuận thủ tục về các quy tắc của trò chơi, mà Barker gọi là “sự Đồng ý để Bất đồng.” Giữa các thái độ công dân cần đến cho sự hoạt động thành công của một hệ thống dân chủ, Daniel Lerner đã đề xuất một năng lực cho sự thấu cảm và một sự sẵn lòng tham gia. Mặt khác, đối với Gabriel Almond và Sidney Verba, “văn hóa công dân” lý tưởng của một nền dân chủ gợi ý không chỉ người tham gia như vậy mà cả các thái độ truyền thống hay cục bộ địa phương khác.1

Loại giải thích thứ ba chú ý đến các đặc tính nào đó của cấu trúc xã hội và chính trị. Ngược với lý thuyết đồng thuận thịnh hành, các tác giả như Carl J. Friedrich, E. E. Schattschneider, Bernard Crick, Ralf Dahrendorf, và Arend Lijphart đã khăng khăng rằng xung đột và sự hòa giải là cốt yếu đối với dân chủ.2 Bắt đầu với một giả định tương tự, David B. Truman đã quy sức sống của các định chế Mỹ cho “vô số tư cách thành viên trong các nhóm tiềm tàng” của các công dân – một mối quan hệ mà Lipset đã gọi là một trong “những hiệp hội cắt ngang xác đáng về mặt chính trị.” 3 Robert A. Dahl và Herbert McClosky, giữa những người khác, đã cho rằng sự ổn định dân chủ đòi hỏi một sự cam kết với những giá trị hay quy tắc dân chủ, không phải giữa toàn bộ cử tri nói chung mà giữa các chính trị gia chuyên nghiệp – mỗi trong những thứ này có lẽ được kết nối với thứ khác thông qua các mối ràng buộc hữu hiệu của tổ chức chính trị. 4  Harry Eckstein, cuối cùng, đã đề xuất một lý thuyết khá tinh tế về “sự thích hợp”: để làm cho nền dân chủ ổn định, các cấu trúc quyền lực khắp xã hội, như gia đình, nhà thờ, doanh nghiệp, và các nghiệp đoàn, phải tỏ ra càng dân chủ thì chúng càng phải tác động trực tiếp đến các quá trình của chính phủ. 5

Một số giả thuyết này là tương thích với nhau, mặc dù chúng cũng có thể được giữ một cách độc lập – chẳng hạn, các giả thuyết về sự thịnh vượng, sự biết đọc biết viết, và sự đồng thuận. Các giả thuyết khác – như các giả thuyết về đồng thuận và xung đột – là mâu thuẫn trừ phi được hạn chế hay được điều hòa một cách cẩn trọng. Đúng một sự tổng hợp như vậy đã là nội dung của một khối lớn tác phẩm. Dahl, chẳng hạn, đã đề xuất trong polyarchy (hay “các thiểu số cai trị,” sự xấp xỉ đời thực gần nhất đến dân chủ)* rằng các chính sách của các chính phủ kế tục có khuynh hướng rơi vào bên trong một dải rộng của sự đồng thuận đa số.6 Quả thực, sau một sự bận tâm mạnh với sự đồng thuận trong các năm Chiến tranh Thế giới II, bây giờ được chấp nhận rộng rãi rằng dân chủ quả thực là một quá trình của “sự thích nghi” dính đến một sự kết hợp của “sự chia và sự cố kết” và của “xung đột và sự thỏa thuận” – để trích các từ khóa từ một số tít sách gần đây.7

Cuộc tranh luận học thuật như thế tiếp tục, và các câu trả lời lệch nhau. Tuy nhiên có hai điểm thống nhất đáng chú ý. Hầu như mọi  tác giả đều hỏi cùng loại câu hỏi và ủng hộ các câu trả lời của họ với cùng loại bằng chứng. Câu hỏi đã không phải là một hệ thống dân chủ sinh ra thế nào.  Mà đúng hơn là làm thế nào một nền dân chủ, được cho là đã tồn tại rồi, có thể duy trì tốt nhất hay nâng cao sức khỏe và sự ổn định của nó. Bằng chứng được viện dẫn nói chung gồm có thông tin đương thời, dù dưới dạng thống kê so sánh, các phỏng vấn, khảo sát, hay các loại dữ liệu khác. Điều này vẫn đúng ngay cả về phần các tác giả mà dùng thời gian đáng kể thảo luận bối cảnh lịch sử của các hiện tượng họ quan tâm – Almond và Verba về văn hóa công dân, Eckstein về sự phù hợp giữa những cấu trúc xã hội Na Uy, và Dahl về các thiểu số cai trị của New Haven và của các phe đối lập ở các nước phương Tây.8 Các đề xuất then chốt của họ được diễn đạt ở thì hiện tại.

Có thể có một nét đặc trưng thứ ba của sự giống nhau nằm dưới các tài liệu Mỹ hiện thời về dân chủ. Tất cả sự thẩm vấn khoa học đều bắt đầu với nhận thức có ý thức hay vô thức về một sự bối rối.9 Cái đã làm bối rối các tác giả có ảnh hưởng hơn hiển nhiên đã là sự tương phản giữa sự hoạt động tương đối trơn tru của nền dân chủ ở các nước nói tiếng Anh và Scandinavi và các cuộc khủng hoảng thường tái diễn và sự sụp đổ cuối cùng của nền dân chủ ở Đệ tam và Đệ tứ Cộng hòa Pháp và ở Cộng hòa Weimar của Đức.

Sự kỳ lạ này tất nhiên là hoàn toàn chính đáng. Tài liệu chuyên môn gia tăng và sự phát triển lý thuyết ngày càng tinh tế về các cơ sở của dân chủ cho biết nó đã có kết quả thế nào. Sự hiếu kỳ ban đầu dẫn một cách khá logic đến câu hỏi chức năng hoạt động, với tư cách đối lập với câu hỏi nguồn gốc. Và câu hỏi đó, đến lượt, được trả lời dễ nhất bằng một sự khảo sát các dữ liệu đương thời về các nền dân chủ đang hoạt động – có lẽ với các nền dân chủ hoạt đồng tồi và các chế độ phi dân chủ được đưa vào để so sánh. Sự hiếu kỳ cũng đến một cách tự nhiên với các học giả của một nước mà đã tiến hành các bước quyết định của nó tới dân chủ lui tận về những ngày của Thomas Jefferson và Andrew Jackson. Nó phù hợp, vả lại, với một số xu hướng đặc trưng trong khoa học xã hội Mỹ trong một hay hai thế hệ vừa qua – với sự quan tâm đến các cân bằng hệ thống, đến các tương quan định lượng, và đến dữ liệu điều tra được sinh ra bởi các câu hỏi của chính nhà nghiên cứu. Trên hết, nó phù hợp với một định kiến ngấm ngầm chống lại tính nhân quả. Như Herbert A. Simon đã diễn đạt một cách nổi bật, “. . . chúng ta cảnh giác, trong các khoa học xã hội, với các quan hệ bất đối xứng. Chúng nhắc nhở chúng ta về các khái niệm trước-Hume và trước-Newton về tính nhân quả. Bằng roi da và kiếm chúng ta đã bị cải đạo theo giáo lý rằng không có tính nhân quả nào, chỉ có mối tương quan chức năng, và các quan hệ chức năng đó là đối xứng một cách hoàn hảo. Chúng ta thậm chí có thể đã tiếp quản, như một sự tương tự rất thuyết phục, mệnh đề ‘đối với mỗi tác động, có một phản tác động bằng nhau và ngược chiều’.”10

Các nhà nghiên cứu của những khu vực đang phát triển, như Trung Đông, Nam Á, Châu Phi nhiệt đới, hay Mỹ Latin, một cách khá tự nhiên có một sự hiếu kỳ hơi khác về dân chủ. Sự tương phản mà chắc làm bối rối họ là sự tương phản giữa các nền dân chủ chín muồi, như Hoa Kỳ, Anh hay Thụy Điển ngày nay, và các nước đang vùng vẫy bên bờ của dân chủ, như Ceylon, Lebanon, Thổ Nhĩ Kỳ, Peru, hay Venezuela. Việc này sẽ dẫn họ trước hết đến câu hỏi nguồn gốc về một nền dân chủ sinh ra như thế nào.11 Câu hỏi là lý thú hầu như ngang thế ở Đông Âu (hay chí ít đã là, cho đến sự xâm lấn của Nga vào Czechoslovakia năm 1968). Sự hình thành của nền dân chủ, như thế, không chỉ có tầm quan trọng nội tại đáng kể đối với hầu hết thế giới; nó có tính xác đáng thực dụng lớn hơn những bài tán tụng thêm về các đức hạnh của nền dân chủ Anh-Mỹ hay những lời than vãn về sự ốm yếu tai ác của nền dân chủ ở Weimar hay trong vài nền Cộng hòa Pháp.

Trong các tiết đoạn tiếp theo của bài báo này tôi muốn khảo sát vài vấn đề phương pháp luận liên quan đến sự chuyển từ sự thẩm vấn chức năng sang thẩm vấn nguồn gốc và sau đó tiến đến phác họa một mô hình khả dĩ của sự chuyển đổi sang nền dân chủ.

II

Sự chuyển từ thẩm vấn chức năng sang thẩm vấn nguồn gốc ngụ ý những thay đổi nào về khái niệm hay phương pháp? Câu trả lời đơn giản nhất có thể là, “Chẳng có thay đổi nào cả.” Sự cám dỗ là để bắtn các lý thuyết chức năng làm nhiệm vụ kép như các lý thuyết nguồn gốc, để mở rộng triển vọng của Westminster và Washington đối lại Weimar và Paris sang cả Ankara, Caracas, và Bucharest nữa. Nếu các điều kiện như sự đồng thuận hay sự thịnh vượng sẽ giúp duy trì một nền dân chủ hoạt động, có thể được biện hộ, chắc chắn chúng sẽ còn cần hơn nữa để tạo ra nó.

Chao ôi, sự đánh đồng đơn giản của chức năng và sự hình thành là hơi quá đơn giản, và, quả thực, lý lẽ a fortiori (tất nhiên) là khá yếu.12 Sự đánh đồng chắc chắn không có vẻ giữ vững đối với hầu hết các loại khác của các chế độ chính trị. Thí dụ, các chế độ độc tài quân sự thường hình thành trong âm mưu bí mật và các cuộc nổi loạn vũ trang chỉ biến bản thân chúng thành vĩnh viễn bởi sự quảng cáo ồ ạt với những người ủng hộ dân sự. Các lãnh tụ có sức lôi cuốn mạnh, theo Max Weber, củng cố luận điệu của họ đối với sự chính đáng bằng việc thực hiện những phép có vẻ mầu nhiệm nhưng duy trì nó thông qua việc biến thành thủ tục quen thuộc. Một nền quân chủ cha truyền con nối dựa chắc chắn nhất vào việc các thần dân chấp nhận mù quáng truyền thống cổ xưa; nó hiển nhiên không thể được dựng lên trên một nguyên tắc như vậy. Các chế độ Cộng sản đã được thiết lập bởi các elite cách mạng hay do sự xâm chiếm nước ngoài nhưng đã được củng cố nhờ sự phát triển của các đảng quần chúng trong nước và các bộ máy quan liêu của chúng. Từ vật lý học và hóa học, cũng thế, sự phân biệt giữa năng lượng cần thiết để khởi động và để duy trì một phản ứng cho trước là quen thuộc. Các lý lẽ này từ sự tương tự tất nhiên đúng là cũng bỏ lửng như lý lẽ được cho là a fortiori. Tuy nhiên, chúng chuyển gánh nặng chứng minh cho những người khẳng định rằng hoàn cảnh mà duy trì một nền dân chủ chín muồi cũng tạo thuận lợi cho sự sinh ra nó.

Những cố gắng được biết kỹ nhất để áp dụng một viễn cảnh khắp thế giới duy nhất đến dân chủ, dù sơ sinh hay chín muồi, là các sự tương quan thống kê được Lipset và Cutright sưu tập.13 Nhưng bài báo của Lipset minh họa rõ sự khó khăn của việc áp dụng viễn cảnh chức năng cho câu hỏi nguồn gốc. Diễn giải một cách nghiêm ngặt, số liệu của ông chỉ có liên quan đến chức năng. Các khám phá của ông tất cả đều dưới dạng các sự tương quan tại một thời điểm cho trước duy nhất. Trong các năm 1950 “các nền dân chủ ổn định” của ông nói chung đã có thu nhập đầu người và các tỷ lệ biết đọc biết viết về thực chất cao hơn “các nền dân chủ bất ổn” của ông, hay chủ nghĩa độc tài bất ổn và ổn định của ông. Mà, sự tương quan hiển nhiên là không cùng như quan hệ nhân quả – nhiều nhất nó [chỉ] cung cấp một manh mối về loại nào đó của quan hệ nhân quả mà không cho biết chiều của nó. Các số liệu của Lipset để hoàn toàn ngỏ, chẳng hạn, liệu các công dân giàu có và có học có tạo ra các nhà dân chủ tốt hơn; liệu các nền dân chủ cung cấp các trường học tốt hơn và một bầu không khí thuận lợi hơn cho sự tăng trưởng kinh tế; liệu có loại nào đó của mối quan hệ qua lại sao cho một sự tăng lên cho trước về sự giàu có hay về học thức và về dân chủ sẽ tạo ra sự gia tăng tương ứng về thứ khác; hay liệu có các tập hợp thêm nào đó của các nhân tố, như có lẽ nền kinh tế công nghiệp, mà gây ra cả nền dân chủ lẫn sự giàu có và sự biết đọc biết viết hay không. Một sự bác bỏ tương ứng có thể được nêu ra chống lại các khám phá của Almond, Verba, và những người khác mà dựa chủ yếu vào các điều tra ý kiến hay thái độ. Chỉ sự khảo sát thêm nữa mới có thể cho thấy liệu các thái độ như “văn hóa công dân,” một sự háo hức tham gia, một sự đồng thuận về những nguyên tắc cơ bản, hay một sự thỏa thuận về các thủ tục có là nguyên nhân hay kết quả của nền dân chủ, hay cả hai, hay cả hai đều không.

Tít bài của Lipset là đúng với sự quan tâm chức năng của ông. Ông nói cẩn trọng về “Vài Điều kiện Xã hội cần thiết,” không phải các điều kiện tiên quyết, “của nền Dân chủ,” và như thế thừa nhận sự khác biệt giữa sự tương quan và nguyên nhân. Nhưng sự tinh tế đã thoát khỏi nhiều bạn đọc mà không suy nghĩ kỹ để chuyển “requites-các điều kiện cần thiết” thành “predonditions-các điều kiện tiên quyết.” 4 Ngoài ra, văn bản của bài báo cổ vũ cùng sự thay thế, vì nó nhiều lần trượt từ ngôn ngữ tương quan sang ngôn ngữ nhân quả. Đáng chú ý, trong tất cả các dịp đó các điều kiện kinh tế và xã hội trở thành biến số độc lập, và dân chủ thành biến số phụ thuộc.

Một lý thuyết nguồn gốc sẽ phải dứt khoát về sự phân biệt tương quan khỏi nguyên nhân. Việc này không giao chúng ta cho bất cứ cách nhìn lỗi thời hay đơn giản nào về nhân quả, theo đó mỗi kết quả có chỉ một nguyên nhân và mỗi nguyên nhân chỉ có một kết quả. Nó không loại trừ cách nhìn “xác suất” được Almond biện hộ gần đây và, quả thực, được mọi nhà thống kê xã hội theo từ Emile Durkheim và trước đó.15 Nó không loại trừ các khái niệm nhân quả hơi tinh vi hơn như sự xoắn ốc của Gunnar Myrdal, túc số (quorum) các điều kiện tiên quyết của Karl W. Deutsch, tương quan phi tuyến của Hayward R. Alker, hay quan niệm ngưỡng mà gần đây Deane Neubauer đã áp dụng cho các mệnh đề của Lipset và Cutright.16 Trên hết, một sự quan tâm về nhân quả là tương thích với – và quả thực không thể thiếu được đối với – một cách nhìn nghi ngờ, quy các sự kiện con người cho một sự pha trộn của quy luật và sự tình cờ. Chủ nghĩa nửa tất định như vậy là ngang với sự thú nhận rằng nhà khoa học xã hội sẽ chẳng bao giờ biết đủ để cho một sự giải thích đầy đủ, rằng chí ít ông ta cũng không chắc như nhà khoa học tự nhiên để đối địch với con Quỷ của Laplace. Các học giả mà lập lý thuyết về sự hình thành của nền dân chủ cũng chẳng cần đồng ý về tất cả nhận thức luận và siêu hình học của họ. Nhưng để là nhà nghiên cứu nguồn gốc chút nào họ phải thẩm tra các nguyên ngân. Chỉ bằng sự thẩm tra như vậy, tôi có thể nói thêm, nhà khoa học xã hội mới có thể hoàn thành phận sự đúng của mình về sự thăm dò các biên (margin) của sự lựa chọn con người và về sự làm sáng tỏ các hậu quả của các lựa chọn trong biên đó.17

Có lẽ không có sự lẫn lộn đơn giản giữa thế tương quan và nguyên nhân mà dẫn các bạn đọc của Lipset, và, thi thoảng, cả tác giả nữa, lạc lối. Đúng hơn có vẻ là một giả định ngầm rằng các điều kiện xã hội và kinh tế chẳng hiểu sao là cơ bản hơn, và rằng chúng ta phải tìm các mối quan hệ quan trọng trong tầng sâu hơn này hơn là trong “thượng tầng kiến trúc” của các hiện tượng phụ chính trị. Sự nhấn mạnh hiện thời của chúng ta trong khoa học chính trị đến các nhân tố kinh tế và xã hội là một sự hiệu chỉnh cần thiết nhất cho chủ nghĩa hợp pháp cằn cỗi của một thế hệ trước. Nhưng, như bản thân Lipset (cùng với Bendix) đã cảnh báo trong bối cảnh khác, nó có thể dễ dàng “thanh minh chính các sự thực của đời sống chính trị.” 18 Chúng ta bị nguy hiểm về việc vứt đi đứa trẻ chính trị với nước tắm định chế.

Lưu ý rằng chủ nghĩa [trọng] kinh tế (economicism) Mỹ phổ biến này vượt quá đáng kể Marx and Engels, mà đã xem nhà nước được tạo ra bởi sự chinh phục quân sự, các chế độ kinh tế được xác định bởi các mối quan hệ pháp lý về sở hữu, và các sự thay đổi từ chế độ này sang chế độ tiếp theo do cách mạng chính trị gây ra. Nếu họ đã tuyên bố mình là những người duy vật hay nói giống các nhà tất định kinh tế, đã chủ yếu để phản đối chống lại các đàn hoang dại hơn của “chủ nghĩa duy tâm” Hegelian.

Bất cứ lý thuyết nào về sự hình thành dân chủ sẽ phát đạt để giả định một dòng hai chiều của tính nhân quả, hay dạng nào đó của sự tương tác vòng, giữa một mặt là chính trị và mặt khác là những điều kiện kinh tế và xã

hội. Nơi nào các điều kiện nền xã hội hay kinh tế bước vào lý thuyết, nó phải cố chỉ rõ các cơ chế, có lẽ một phần chính trị, mà theo đó các điều kiện này lọt vào mặt nổi dân chủ. Vả lại, nhà khoa học chính trị được các quyền của mình bên trong sự phân công lao động nói chung và có thể muốn tập trung vào vài nhân tố chính trị mà không phủ nhận tầm quan trọng của các nhân tố xã hội hay kinh tế. Với Truman, Dahl, và những người khác, tôi có chiều hướng thấy các hình mẫu về xung đột và về những sự liên kết tái diễn hoặc thay đổi như một trong các nét đặc trưng chính của bất cứ hệ thống chính trị nào. Với Apter, tôi coi sự lựa chọn như một trong những sự quan tâm chính của quá trình chính trị. 19

Cái xảy ra với kinh tế học và xã hội học cũng xảy ra với tâm lý học nữa. Ở đây cũng thế, mối quan hệ với chính trị là quan hệ tương tác và phụ thuộc lẫn nhau, cho nên các hiện tượng chính trị có thể có các hậu quả tâm lý và ngược lại. Trong giải thích các nguồn gốc của dân chủ chúng ta không cần giả định – như phần lớn tài liệu nghiên cứu điều tra hiện thời giả định – rằng các niềm tin ảnh hưởng một chiều đến các hành động. Đúng hơn, chúng ta có thể nhận ra với Leon Festinger và các nhà tâm lý học xã hội khác của trường phái “bất hòa nhận thức” rằng có những ảnh hưởng qua lại giữa các niềm tin và các hành động.20  Nhiều lý thuyết hiện thời về dân chủ có vẻ ngụ ý rằng để thúc đẩy dân chủ đầu tiên bạn phải cổ vũ các nhà dân chủ – có lẽ bằng thuyết giáo, tuyên truyền, giáo dục, hay có lẽ như một sản phẩm phụ tự động của sự giàu có tăng lên. Thay vào đó, chúng ta phải cho phép khả năng rằng hoàn cảnh có thể buộc, lừa, quyến rũ, hay tán tỉnh những người không dân chủ theo ứng xử dân chủ và rằng các niềm tin của họ có thể điều chỉnh trong chính tiến trình bởi quá trình duy lý hóa hay thích nghi nào đó.

Để tìm những diễn giải nguyên nhân, như tôi đã nhấn mạnh ở trước, không ngụ ý sự ngây thơ. Một cách cụ thể, chúng ta không cần giả định rằng sự chuyển đổi sang dân chủ là một quá trình đồng đều khắp thế giới, rằng nó luôn dính đến cùng các giai cấp xã hội, cùng loại vấn đề chính trị, hay thậm chí cùng phương pháp giải quyết. Ngược lại, có thể là hay để giả định với Harry Eckstein rằng một sự đa dạng rộng của các xung đột xã hội và nội dung chính trị có thể được kết hợp với nền dân chủ. 21 Điều này, tất nhiên, là phù hợp với sự thừa nhận chung rằng dân chủ là một vấn đề chủ yếu về thủ tục hơn là về thực chất. Nó cũng ngụ ý rằng, như giữa các nước khác nhau mà đã tiến hành chuyển đổi, có thể có nhiều con đường đến dân chủ.

Một mô hình chuyển đổi cũng chẳng cần xác nhận rằng sự tiến hóa dân chủ là một quá trình đều đặn, đồng đều theo thời gian. Một quan niệm như vậy về tính liên tục theo thời gian và có lẽ tương quan tuyến tính có vẻ ẩn náu đằng sau phần lớn tài liệu thuộc loại Lipset-Cutright. Tính gián đoạn theo thời gian, ngược lại, là ngầm định trong sự phân biệt cơ bản được rút ra ở trước trong bài báo này giữa các câu hỏi chức năng và nguồn gốc. Cùng tính gián đoạn có thể được mang vào bản thân sơ đồ nguồn gốc. Thí dụ, có thể hữu ích để lựa ra các chi tiết nào đó như các nhân tố nền và để tiếp tục từng bước đến các nhân tố khác mà có thể trở nên cốt yếu trong các pha chuẩn bị, quyết định, và củng cố của quá trình.

Ngay cả trong cùng nước và trong cùng pha của quá trình, các thái độ chính trị không chắc được trải đều trong dân cư. Dahl, McClosky, và những người khác đã thấy rằng trong các nền dân chủ chín muồi có những khác biệt rõ rệt trong thái độ của các chính trị gia chuyên nghiệp và của các công dân thường.22 Chúng ta cũng chẳng coi là nghiễm nhiên rằng tất cả các chính trị gia sẽ có chung cùng thái độ. Tới một chừng mực mà nền dân chủ dựa trên xung đột, có thể cần có hai thái độ để tạo ra một sự cãi nhau. Hơn nữa, tất cả những sự bất đồng này chắc bị làm cho tồi tệ thêm trong giai đoạn hình thành khi một phần của sự cãi cọ ex hypothesi (theo giả thuyết đã đưa ra) phải là giữa các nhà dân chủ và các nhà không dân chủ. Cuối cùng, một mô hình động về chuyển đổi phải cho phép khả năng rằng các nhóm khác nhau – thí dụ, lúc là các công dân và lúc là các nhà cai trị, lúc là các lực lượng ủng hộ sự thay đổi và lúc là những người hăm hở để duy trì quá khứ – có thể cung cấp xung lực quyết định hướng tới nền dân chủ.

III

Lý lẽ phương pháp luận tôi đã đưa ra có thể được cô đọng vào một số định đề ngắn gọn.

  1. Các nhân tố mà giữ một nền dân chủ ổn định có thể không là các nhân tố mà đã sinh ra nó: Những giải thích về dân chủ phải được phân biệt giữa chức năng và sự hình thành.
  2. Sự tương quan không là cùng như tính nhân quả: một lý thuyết nguồn gốc phải tập trung vào cái sau.
  3. Không phải tất cả các liên kết nhân quả chạy từ các nhân tố xã hội và kinh tế đến các nhân tố chính trị.
  4. Không phải tất cả các liên kết nhân quả chạy từ các niềm tin và thái độ đến các hành động.
  5. Sự hình thành nền dân chủ không cần là đồng đều về địa lý: có thể có nhiều con đường tới dân chủ.
  6. Sự hình thành nền dân chủ không cần là đồng đều về thời gian: các nhân tố khác nhau có thể trở thành cốt yếu trong các pha kế tiếp.
  7. Sự hình thành dân chủ không cần là đồng đều về xã hội: ngay cả trong cùng chỗ và thời gian các thái độ thúc đẩy nó có thể không như nhau đối với các chính trị gia và đối với các công dân thường.

 Điệp khúc của tôi, giống của Sportin’ Life, đã là, “không nhất thiết như vậy.” Mỗi định đề biện hộ cho việc bỏ sự hạn chế theo tập quán nào đó, cho việc buông rơi giả định đơn giản hóa nào đó được đưa ra trong văn liệu trước, cho sự đưa vào các nhân tố gây phức tạp, đa dạng hóa. Nếu giả như sự tranh luận để kết luận về ghi chú hoài nghi này, nó sẽ để nhà nghiên cứu hoàn toàn phiêu bạt và làm cho nhiệm vụ xây dựng một lý thuyết về sự hình thành dân chủ hầu như không thể quản lý được.

May thay, viễn cảnh nguồn gốc cần đến hay làm cho có thể một số hạn chế mới mà nhiều hơn sự đền bù cho sự mất mát bảy hạn chế khác. Chúng ta có thể tiếp tục liệt kê các định đề tóm tắt trước khi trau chuốt phần thứ hai này của lý lẽ phương pháp luận.

  1. Dữ liệu kinh nghiệm để ủng hộ một lý thuyết nguồn gốc phải phủ, đối với bất kể nước cho trước nào, một giai đoạn từ đúng trước cho đến đúng sau sự đến của nền dân chủ.
  2. Để xem xét logic của sự biến đổi bên trong các hệ thống chính trị, chúng ta có thể bỏ sang một bên các nước nơi một sự thúc đẩy lớn đã đến từ nước ngoài.
  3. Một mô hình hay type lý tưởng của sự chuyển đổi có thể được suy ra từ một sự xem xét kỹ lưỡng hai hay ba trường hợp kinh nghiệm và được kiểm chứng bằng việc áp dụng cho số còn lại.

 Rằng dữ liệu lịch đại, phủ nhiều hơn một điểm duy thất trong thời gian, là cốt yếu đối với bất kỳ lý thuyết nguồn gốc nào phải là hiển nhiên. Một lý thuyết như vậy, hơn nữa, phải dựa vào các trường hợp nơi quá trình hoàn thành về căn bản. Mặc dù dữ liệu kiểm tra về các chế độ không dân chủ và về các trường hợp chết yểu và phôi thai có thể trở thành quan trọng vào giai đoạn muộn hơn của việc lập lý thuyết, tiện lợi hơn để bắt đầu tiến hành bằng việc nghiên cứu một hiện tượng nơi nó thực sự đã hình thành. “Sự đến” của nền dân chủ, tất nhiên, không được hiểu như xảy ra trong một năm duy nhất. Vì dính đến sự nổi lên của các nhóm xã hội mới và sự hình thành các thói quen mới, một thế hệ có lẽ là giai đoạn tối thiểu của sự chuyển đổi. Trong các nước mà đã không có các mô hình sớm hơn nào để bắt chước, sự chuyển đổi chắc là phải đến thậm chí chậm hơn. Ở Anh, chẳng hạn, có thể cho rằng nó đã bắt đầu trước 1640 và đã không hoàn thành cho đến 1918. Cho một tập hợp ban đầu của các giả thuyết, tuy vậy, có thể tốt nhất để quay về các nước nơi quá trình đã xảy ra tương đối nhanh.

Việc nghiên cứu sự chuyển đổi dân chủ sẽ dẫn nhà khoa học chính trị vào lịch sử sâu hơn mức người đó thường đã muốn. Điều này ngụ ý nhiều sự thay đổi về phương pháp, bắt đầu với những sự thay thế phù hợp cho dữ liệu điều tra và các cuộc phỏng vấn. Thậm chí là khó hơn để sớm kiếm được dữ liệu thống kê đáng tin cậy trong bất cứ thử nghiệm dân chủ nào. Hiến pháp Hoa Kỳ (Điều 1, Đoạn 2) nhắc nhở chúng ta rằng sự đồng thuận kéo dài mười năm của chúng ta được đưa vào chính lúc đó sao cho chúng ta có thể bắt đầu cai quản mình bằng một sự đếm chính xác số đầu người.

Bất kể những khó khăn trong việc các nhà khoa học xã hội sử dụng tăng thêm rất nhiều dữ liệu lịch sử, chí ít ba lý lẽ có thể được đưa ra về sự giảm và sự cổ vũ. Con người đã không trở thành một sinh vật chính trị trong năm 1960 hay năm 1945, như phần lớn văn liệu gần đây làm ra vẻ giả định. Lịch sử, để diễn giải Georges Clemenceau, là một chủ đề quá quan trọng để phó mặc chỉ cho các sử gia. Và gần đây các học giả trong chính trị học so sánh đã quay lại các chủ đề lịch sử với sự say mê ngày càng tăng. Danh sách bao gồm Almond, Leonard Binder, Dahl, Samuel P. Huntington, Lipset, Robert E. Ward, và Myron Weiner – không nói đến những người như Friedrich và Deutsch mà đối với họ một viễn cảnh chính trị-lịch sử đã là tự nhiên lúc bắt đầu.23

Sự hạn chế tiếp theo – việc bỏ qua ban đầu trong điều tra các trường hợp nơi xung lực lớn đối với dân chủ hóa đã đến từ bên ngoài – là phù hợp với sự phân công lao động quy ước giữa các lĩnh vực con của chính trị học so sánh và các quan hệ quốc tế. Có các chủ đề như lý thuyết hiện đại hóa nơi sự phân công đó phải được vượt quá từ lúc bắt đầu.24 Trong việc lần dấu vết các nguồn gốc của nền dân chủ, cũng thế, cả hai viễn cảnh có thể được áp dụng cùng một lúc, như công trình gợi ý của Louis Hartz, sự tổng hợp bậc thầy của Robert Palmer, và nghiên cứu hiện thời của Robert Ward về tương tác Nhật-Mỹ trong định hình hiến pháp 1947, chứng tỏ.25 Nhưng đối với một cố gắng đầu tiên tới một lý thuyết tổng quát có thể thích hợp hơn để bám vào các nước nơi sự chuyển đổi đã xảy ra chủ yếu bên trong một hệ thống duy nhất.

Để nói về “các xung lực lớn từ bên ngoài” hay những sự chuyển đổi “chủ yếu bên trong hệ thống,” thừa nhận rằng những ảnh hưởng nước ngoài là hầu như luôn hiện diện. Suốt lịch sử, chiến tranh đã là một lực lượng dân chủ hóa chính, bởi vì nó đã làm cho việc điều phối thêm các nguồn lực con người là cần thiết.26 Các ý tưởng dân chủ, hơn nữa, đã tỏ ra lây nhiễm dù trong những ngày của Rousseau hay của John F. Kennedy. Và việc lật đổ bằng bạo lực một chính thể đầu sỏ (thí dụ, Pháp trong năm 1830, Đức năm 1918) thường đã làm kẻ khác khiếp sợ phải đầu hàng một cách hòa bình (thí dụ, Anh trong năm 1832, Thụy Điển năm 1918). Từ những ảnh hưởng quốc tế chưa từng có như vậy chúng ta có thể phân biệt tình hình nơi những người đến từ nước ngoài đã tham gia tích cực vào quá trình chính trị trong nước của sự dân chủ hóa. Một lý thuyết về các nguồn gốc dân chủ, nói cách khác, lúc bắt đầu phải để sang một bên các nước nơi sự chiếm đóng quân sự đã đóng vai trò chính (Đức và Nhật sau chiến tranh), nơi các định chế hay thái độ dân chủ được mang theo cùng bởi những người di cư (Australia và New Zealand), hoặc nơi bằng cách này hay cách khác sự di cư đã đóng một vai trò chính (Canada, Hoa Kỳ, và Israel).

Sở thích được bày tỏ sớm hơn về các trường hợp chuyển đổi tương đối nhanh và sự bỏ qua các nước di cư thực chất là một sự hạn chế rất nghiêm trọng, vì chúng bỏ sót không tính đến, tại giai đoạn đầu tiên của việc lập lý thuyết, tất cả các nền dân chủ nói tiếng Anh. Các lý do, tuy vậy, có vẻ có sức thuyết phục. Quả thực, có thể hợp lý rằng các nhà khoa học xã hội Mỹ đã thêm vào những khó khăn của họ trong hiểu biết những sự chuyển đổi sang dân chủ bằng việc chú ý thái quá đến Anh và Hoa Kỳ, mà vì các lý do vừa được gợi ý tỏ ra là những trường hợp khó nhất để phân tích về mặt nguồn gốc. Toàn bộ tám sự loại trừ tạm thời vẫn để lại khoảng hai mươi ba trường hợp (giữa các nền dân chủ hiện có) mà trên đó để tạo cơ sở phân tích so sánh, trong đó mười ba là ở Âu châu: Áo, Bỉ, Ceylon, Chile, Colombia, Costa Rica, Đan Mạch, Phần Lan, Pháp, Iceland, Ireland, Ấn Độ, Italy, Lebanon, Luxembourg, Hà Lan, Na Uy, Philippines, Thụy Điển, Thụy Sỹ, Thổ Nhĩ Kỳ, Uruguay, Venezuela.27

Giữa hơn hai mươi nền dân chủ này, đề xuất phương pháp luận sau cùng cố thuyết phục một sự chọn lọc thậm chí hẹp hơn tại giai đoạn mở đầu này của sự lập lý thuyết. Những gì dính líu đến ở đây là một sự lựa chọn giữa ba chiến lược nghiên cứu: sự bao hàm tất cả các trường hợp xác đáng, tập trung vào một nước duy nhất, hay con đường trung gian nào đó.

Tính đầy đủ tất nhiên là đáng mong muốn, và thậm chí còn nhiều hơn nơi “vũ trụ” gồm không nhiều hơn hai mươi hay ba mươi trường hợp. Nhưng sự bao phủ càng gần trọn vẹn, nó sẽ phải càng nông cạn. Số các biến số khả dĩ là khổng lồ (các điều kiện kinh tế, các sự chia tách xã hội, các sự liên kết chính trị, các thái độ tâm lý) mà chúng đã có thể được xử lý chỉ bằng loại của những giả định đơn giản hóa mà chúng ta đã loại tra ở trước vì những lý do logic. Một test (sự kiểm tra), dẫu đầy đủ đến thế nào, của một tập hợp sai lầm của những đề xuất sẽ hầu như không mang lại những kết quả thuyết phục.

Chuyên khảo (monograph) quốc gia sẽ tránh được mối nguy hiểm này. Nó cũng chẳng cố ý phải là phản lý thuyết hay “mô tả đơn thuần.” Bất kỳ sự nghiên cứu quốc gia nào tuy nhiên hy sinh những lợi thế so sánh, sự thay thế gần nhất của nhà khoa học xã hội cho một phòng thí nghiệm. Không nghiên cứu như vậy nào có thể nói cho chúng ta bộ phận nào trong một mớ lộn xộn các nhân tố tiêu biểu cho sự phát triển của nền dân chủ và bộ phận nào cho các biểu hiện quốc gia riêng của Monographistan (Quốc gia chuyên khảo).

Con đường ở giữa tránh cặp đôi nguy hiểm của triết học kinh viện bỏ lửng và của sự lục tìm sự thực. Thay vào đó, nó có chể đưa ra một sự pha trộn cân bằng hơn và vì thế có kết quả hơn của lý thuyết và chủ nghĩa kinh nghiệm. Nhiều biến số khả dĩ mà có thể làm ảnh hưởng đến các nguồn gốc của nền dân chủ và các mối quan hệ còn phức tạp hơn giữa chúng có thể được phân loại tốt nhất bằng cách ngó tới cấu hình toàn bộ của chúng trong một số hạn chế các trường hợp – có lẽ không nhiều hơn hai hoặc ba lúc bắt đầu. Cái sẽ nổi lên từ việc làm này là một mô hình, hay như Weber đã quen gọi nó, một “type lý tưởng,” của sự chuyển đổi từ chế độ đầu sỏ sang chế độ dân chủ. Do là một type lý tưởng, nó nêu bật một cách cố ý các nét đặc trưng nào đó của thực tế kinh nghiệm và cố ý làm méo, đơn giản hóa, hay bỏ qua các nét đặc trưng khác. Giống bất cứ kiến tạo nào như vậy, ban đầu nó phải được đánh giá bởi sự cố kết bên trong và sự hợp lý của nó nhưng cuối cùng bởi tính hữu ích của nó trong việc gợi ý các giả thuyết có thể áp dụng cho đủ loại trường hợp kinh nghiệm khác đa dạng.28 Chính tại giai đoạn thêm này của sự kiểm thử mà sự đòi hỏi cho tính đầy đủ lại lần nữa trở nên rất hữu ích.

Mô hình tôi muốn phác họa trong vài trang tiếp theo dựa chủ yếu vào những nghiên cứu của tôi về Thụy Điển, một nước phương Tây mà đã tiến hành chuyển đổi sang chế độ dân chủ trong giai đoạn từ 1890 đến 1920, và về Thổ Nhĩ Kỳ, một nước đang Tây phương hóa nơi quá trình đã bắt đầu khoảng năm 1945 và vẫn đang thực hiện. Việc chọn hai trường hợp này là tình cờ – trừ về mặt lý do tự truyện mà đối với nó điều này không là ngẫu nhiên. Bây giờ tôi đang trong các giai đoạn đầu của một nghiên cứu mà sẽ tìm cách để trau chuốt cùng bộ các giả thuyết dưới ánh sáng của các tài liệu từ một sự chọn lọc lớn hơn một chút và ít tùy ý hơn của các nước.

IV

Điều kiện Nền

Mô hình bắt đầu với một điều kiện nền duy nhất – sự thống nhất quốc gia. Điều này ngụ ý không gì bí ẩn vềBlut und Boden hay những lời hứa hàng ngày về lòng trung thành, về bản sắc cá nhân theo nghĩa của nhà phân tâm học, hay về một mục tiêu chính trị lớn được toàn bộ công dân như một tổng thể theo đuổi. Nó đơn giản có nghĩa rằng tuyệt đại đa số công dân trong một nước sắp là dân chủ phải không có sự nghi ngờ nào hay các sự e dè tinh thần về cộng đồng chính trị nào họ thuộc về. Điều này loại trừ các tình huống ly khai tiềm tàng, như tại các Đế chế Habsburg và Ottoman đã qua hay ở nhiều nhà nước Phi châu ngày nay, và, ngược lại, các tình huống của những khát vọng nghiêm túc cho sự sáp nhập như ở nhiều nước Arab. Dân chủ là một hệ thống cai trị bởi các đa số nhất thời. Để cho các nhà cai trị và các chính sách có thể thay đổi một cách tự do, các đường biên giới phải tồn tại, thành phần cấu tạo của toàn bộ công dân phải liên tục. Như Ivor Jennings đã diễn đạt nó một cách súc tích, “nhân dân không thể quyết định cho đến khi ai đó quyết định ai là nhân dân.” 29

Sự thống nhất quốc gia được liệt kê như một điều kiện nền theo nghĩa nó phải có trước tất cả các pha khác của dân chủ hóa nhưng mặt khác sự định thời gian của nó thì không liên quan. Nó đã có thể đạt được trong thời tiền sử, như ở Nhật Bản hay Thụy Điển; hay nó đã đi trước các pha khác hàng thế kỷ, như ở Pháp, hoặc hàng thập kỷ, như ở Thổ Nhĩ Kỳ. Cũng chẳng quan trọng sự thống nhất quốc gia được thiết lập bằng cách nào. Tình hình địa lý có thể đến mức không lựa chọn khả dĩ nghiêm túc nào đã từng nổi lên – Nhật Bản lại lần nữa là thí dụ hay nhất. Hoặc một ý thức về tính quốc gia có thể là sản phẩm của của một sự tăng cường đột ngột của truyền thông xã hội trong cách diễn đạt mới được phát triển có ý định. Mặt khác, nó có thể là di sản của quá trình triều đại hay hành chính nào đó của sự thống nhất. Các giả thuyết khác nhau được Deutsch đề xuất rõ ràng trở nên xác đáng ở đây.30

Tôi đã chỉ rõ ở nơi khác rằng trong một thời đại hiện đại hóa, con người không chắc cảm thấy một cảm giác trội hơn của lòng trung thành trừ đối với một cộng đồng chính trị đủ lớn để đạt được mức độ hiện đại đáng kể nào đó trong cuộc sống xã hội và kinh tế của nó.31 Loại giả thuyết này phải được xem xét như phần của một lý thuyết về tính chất là một quốc gia, không phải của một lý thuyết về phát triển dân chủ. Điều quan trọng trong ngữ cảnh hiện tại chỉ là kết quả.

Tôi do dự để gọi kết quả này là một sự đồng thuận, vì chí ít hai lý do. Đầu tiên, sự thống nhất quốc gia, như Deutsch chỉ rõ, là sản phẩm của các thái độ và ý kiến chung ít hơn là của sự sẵn sàng đáp lại và tính bổ sung. Thứ hai, “sự đồng thuận” có nghĩa là ý kiến được theo đuổi một cách có ý thức và sự đồng ý có tính toán. Điều kiện nền, tuy vậy, được thỏa mãn tốt nhất khi sự thống nhất quốc gia được chấp nhận một cách không cân nhắc, được coi là nghiễm nhiên một cách thầm lặng. Bất kể sự đồng thuận lớn tiếng nào về sự thống nhất quốc gia, thực ra, phải khiến chúng ta cảnh giác. Hầu hết rhetoric (lối nó khoa trương) của chủ nghĩa dân tộc đã được tuôn ra từ môi của những người mà cảm thấy ít an toàn nhất theo nghĩa của bản sắc quốc gia của họ – những người Đức và Ý trong thế kỷ vừa qua và những người Arab và Phi châu hiện tại, đã chẳng bao giờ là những người Anh, Thụy Điển, hay Nhật Bản.

Để chọn sự thống nhất quốc gia như điều kiện nền đơn nhất ngụ ý rằng không có mức tối thiểu nào về sự phát triển kinh tế hay sự phân biệt xã hội là cần thiết như một điều kiện tiên quyết cho dân chủ. Các nhân tố xã hội và kinh tế này chỉ gián tiếp bước vào mô hình như một trong vài cơ sở lựa chọn khả dĩ cho sự thống nhất quốc gia hay một xung đột ăn sâu (xem B dưới đây) Các chỉ số xã hội và kinh tế mà các tác giả thích trích dẫn như “các điều kiện nền” có vẻ hơi đáng ngờ dù sao đi nữa. Luôn luôn có các chế độ phi dân chủ mà xếp hạng cao một cách đáng ngờ, như Kuwait, nước Đức Nazi, Cuba, hay Congo-Kinshasa. Ngược lại, hoa Kỳ trong năm 1820, Pháp năm 1870, và Thụy Điển trong năm 1890 đã chắc chắn không vượt qua được test này hay test khác trong các test về đô thị hóa hay thu nhập đầu người – nói chi đến số báo được lưu hành, hay số bác sĩ, phim, và điện thoại sẵn có cho mỗi ngàn dân cư.

Mô hình như thế cố ý để ngỏ khả năng của các nền dân chủ (được gọi một cách đúng như thế) trong các thời trước hiện đại, trước dân tộc chủ nghĩa và ở các mức phát triển kinh tế thấp. Để tìm một định nghĩa có ý nghĩa về dân chủ mà có thể phủ các hệ thống nghị viện hiện đại cùng với các bang vùng rừng núi trung cổ và các thành bang cổ xưa (nơi đã không có cảnh nô lệ và các metic [người bị coi là ngoại kiều]), và một số thổ dân Indian trước- Colombus có thể tỏ ra là khó. Nó không phải là một nhiệm vụ tạo thành một phần của dự án hiện tại; tuy nhiên, tôi không muốn tước quyền thử.

Pha chuẩn bị

Tôi đưa ra giả thuyết rằng, dựa vào điều kiện nền duy nhất này, bản thân quá trình động của sự dân chủ hóa được khởi động bởi một cuộc đấu tranh chính trị kéo dài và không mang lại kết quả cuối cùng. Để cho nó các tính chất đó, những người giữ vai trò chủ đạo phải đại diện cho các lực lượng được thiết lập tốt (điển hình là các giai cấp xã hội), và các vấn đề phải có ý nghĩa sâu sắc đối với họ. Một cuộc đấu tranh như vậy chắc bắt đầu như kết quả của sự nổi lên của một elite (giới ưu tú) mới mà đánh thức một nhóm xã hội bị thất vọng và trước không có người lãnh đạo vào hành động phối hợp. Thế mà thành phần xã hội cá biệt của các lực lượng ganh đua, cả các nhà lãnh đạo lẫn người đi theo, và bản chất cụ thể của các vấn đề sẽ thay đổi nhiều từ nước này sang nước kia và từ giai đoạn này sang giai đoạn khác trong cùng nước.

Tại Thụy điển vào lúc chuyển giao thế kỷ, nó đã là một cuộc đấu tranh đầu tiên của các nông dân rồi của một giai cấp trung lưu thấp đô thị và lao động chống lại một liên minh bảo thủ của các nhà quan liêu, các địa chủ lớn, và các nhà tư bản công nghiệp; và các vấn đề đã là thuế quan, sự đánh thuế, quân dịch, và quyền đi bầu. Tại Thổ Nhĩ Kỳ trong hai mươi năm vừa qua nó đã chủ yếu là một đấu tranh của nông thôn đối lại thành thị, chính xác hơn của các chủ trang trại cỡ lớn và vừa (được hầu hết cử tri nông dân ủng hộ) chống lại những người kế tục của giới quyền uy quan liêu-quân sự Kemalist; vấn đề trung tâm đã là công nghiệp hóa đối lại sự phát triển nông nghiệp. Trong cả hai thí dụ này, các nhân tố kinh tế có tầm quan trọng hàng đầu, thế nhưng chiều nhân quả đã thay đổi. Ở Thụy Điển, một giai đoạn phát triển kinh tế mạnh tạo ra những căng thẳng chính trị mới; tại một điểm cốt yếu, lương tăng đã cho phép các công nhân Stockholm vượt qua trở ngại thuế hiện tồn cho quyền bầu cử. Ở Thổ Nhĩ Kỳ, ngược lại, đòi hỏi phát triển nông thôn đã là hệ quả, không phải nguyên nhân, của sự bắt đầu dân chủ hóa.32

Có thể có các tình huống nơi các nhân tố kinh tế đã đóng một vai trò nhỏ hơn nhiều. Ở Ấn Độ và Philippines cuộc đấu tranh kéo dài giữa các lực lượng dân tộc chủ nghĩa và bộ máy quan liêu đế quốc về vấn đề chính quyền tự quản có thể đã phục vụ cùng chức năng chuẩn bị như xung đột giai cấp ở nơi khác. Ở Lebanon cuộc đấu tranh liên miên chủ yếu là giữa các nhóm giáo phái và sự đánh cược chủ yếu là các chức vụ chính phủ. Mặc dù các cuộc đấu tranh chính trị loại này có các chiều kinh tế của chúng, chỉ một nhà tất định kinh tế cố chấp mới suy ra chủ nghĩa thực dân hay những sự chia rẽ tôn giáo từ chỉ các nguyên nhân kinh tế.

James Bryce đã thấy trong nghiên cứu so sánh kinh điển của ông rằng, “Một con đường duy nhất trong quá khứ đã dẫn đến dân chủ, tức là, mong ước được thoát khỏi những cái xấu hiển nhiên.”33 Dân chủ đã không là mục tiêu ban đầu hay hàng đầu; nó được tìm như một phương tiện cho mục tiêu khác hay nó đã đến như một sản phẩm phụ tình cờ của cuộc đấu tranh. Nhưng, vì những cái xấu hữu hình xảy ra với các xã hội người là nhiều vô kể, con đường duy nhất của Bryce hòa tan nhiều con đường riêng biệt. Không hai nền dân chủ hiện tồn nào đã trải qua một cuộc đấu tranh giữa chính cùng các lực lượng về cùng các vấn đề và với cùng các kết cục định chế. Vì thế, có vẻ không chắc rằng bất kể nền dân chủ tương lai nào sẽ đi theo các bước chân chính xác của bất kể nền dân chủ nào trước. Như Albert Hirschman đã cảnh báo trong thảo luận của ông về phát triển kinh tế, việc tìm các điều kiện tiên quyết nhiều hơn bao giờ hết có thể kết thúc bằng sự chứng tỏ cuối cùng rằng sự phát triển luôn sẽ là không thể – và đã luôn thế.34

Tích cực hơn, Hirschman và các nhà kinh tế học khác đã cho rằng một nước có thể lao tốt nhất vào một pha tăng trưởng không phải bằng bắt chước mù quáng tấm gương của các quốc gia đã công nghiệp hóa rồi, mà đúng hơn bằng việc đạt được nhiều nhất từ các nguồn lực tự nhiên và con người cá biệt của nó và bằng việc làm cho các nguồn lực này ăn khớp chính xác với sự phân công lao động quốc tế.35 Tương tự, một nước chắc đạt được dân chủ không phải bằng sao chép các luật hiến pháp hay các tập quán nghị viện của nền dân chủ trước nào đó, mà đúng hơn bằng sự đối mặt thành thật với các xung đột riêng của nó và bằng nghĩ ra hay thích nghi các thủ tục hữu hiệu cho việc dàn xếp chúng.

Tính chất nghiêm trọng và kéo dài của cuộc đấu tranh chắc sẽ buộc những người giữ vai trò chính tập hợp lại xung quanh hai ngọn cờ. Vì thế, sự phân cực, hơn là sự đa nguyên, là dấu hiệu phân biệt của pha chuẩn bị này. Tuy nhiên có các hạn chế ngầm trong đòi hỏi về sự thống nhất quốc gia – mà, tất nhiên, không phải chỉ tồn tại trước mà cũng tiếp tục. Nếu sự chia rẽ là về đường lối vùng gay gắt, thì chắc kết quả là sự ly khai hơn là nền dân chủ. Ngay cả giữa các đối thủ nằm rải rác về địa lý phải có ý thức nào đó về cộng đồng hoặc sự cân bằng ngang nhau nào đó của các lực lượng mà làm cho sự trục xuất hàng loạt hay sự diệt chủng là không thể. Những người Thổ Nhĩ Kỳ đang bắt đầu phát triển một bộ các thói quen dân chủ giữa chính họ, nhưng năm mươi năm trước họ đã không đối xử một cách dân chủ với những người Armenia hay Hy Lạp. Những sự chia tách cắt chéo có chỗ của chúng trong pha chuẩn bị này như một phương tiện khả dĩ của việc tăng cường hay duy trì ý thức đó về cộng đồng.

Dahl buồn bã lưu ý rằng “một vấn đề luôn tái diễn của sự đối lập là, hoặc quá nhiều hay quá ít.” 36 Hai yếu tố đầu tiên của mô hình giữa chúng sẽ đảm bảo rằng có số lượng thích hợp. Nhưng sự đấu tranh và sự thống nhất quốc gia không thể đơn giản được tính trung bình, vì chúng không được đo theo cùng thang. Các liều mạnh của cả hai phải được kết hợp, hệt như có thể có khả năng để kết hợp sự phân cực sắc nét với những sự chia tách cắt chéo. Hơn nữa, như Mary Parker Follett, Lewis A. Coser, và những người khác đã nhấn mạnh, các loại nào đó của xung đột bản thân chúng tạo thành các quá trình sáng tạo của sự hợp nhất.37 Cái nền dân chủ phôi thai cần không phải là một cuộc đấu tranh hờ hững mà là một mối hận thù gia đình gay gắt.

Sự kết hợp tế nhị này ngụ ý, tất nhiên, rằng nhiều thứ có thể hỏng trong thời gian pha chuẩn bị. Cuộc chiến đấu có thể tiếp tục và tiếp tục cho đến khi những người giữ vai trò chủ chốt mệt lử và các vấn đề biến đi mà không có sự nổi lên của giải pháp dân chủ nào dọc đường. Hoặc một nhóm rốt cuộc có thể tìm được cách đè bẹp các đối thủ. Trong những cách này và cách khác một sự tiến hóa rõ ràng đến dân chủ có thể bị trệch hướng, và không lúc nào dễ hơn trong thời gian pha chuẩn bị.

 Pha quyết định

Robert Dahl đã viết rằng, “đảng đối lập hợp pháp … là một sáng chế gần đây và bất ngờ.” 38 Điều này phù hợp với sự nhấn mạnh của Bryce về sự uốn nắn những lời kêu ca cụ thể bởi vì phương tiện truyền bá của nền dân chủ và với giả thiết ở đây rằng sự chuyển đổi sang dân chủ là một quá trình phức tạp trải dài ra nhiều thập kỷ. Nhưng nó không loại trừ quyền bầu cử hay quyền tự do đối lập như các mục tiêu có ý thức trong cuộc chiến đấu chuẩn bị. Nó cũng không gợi ý rằng một nước có bao giờ trở thành một nền dân chủ trong một đợt đãng trí. Ngược lại, cái kết thúc pha chuẩn bị là một quyết định có cân nhắc về phía các nhà lãnh đạo chính trị để chấp nhận sự tồn tại của sự đa dạng trong sự thống nhất và, cho mục tiêu đó, để thể chế hóa khía cạnh cốt yếu nào đó của thủ tục dân chủ. Đó đã là quyết định trong năm 1907, mà tôi đã gọi là “Thỏa hiệp Vĩ đại” của nền chính trị Thụy Điển, để chấp nhận quyền bầu cử phổ quát kết hợp với sự đại diện tỷ lệ.39 Thay cho một quyết định duy nhất đã có thể có vài quyết định. Tại Anh, như ai cũng biết, nguyên lý về chính phủ hạn chế đã được xác nhận trong sự thỏa hiệp năm 1688, nội các chính phủ đã tiến hóa trong thế kỷ thứ mười tám, và cải cách quyền bầu cử đã được khởi động muộn đến mãi 1832. Ngay cả tại Thụy Điển, sự thay đổi đột ngột của năm 1907 đã tiếp theo cải cách quyền bầu cử thêm của năm 1918 mà cũng đã xác nhận nguyên tắc nội các chính phủ.

Dù nền dân chủ giành được cả gói như ở Thụy Điển năm 1907 hay theo kế hoạch từng phần như ở Anh, nó đạt được bởi một quá trình quyết định có chủ ý chí ít về phần ban lãnh đạo chính trị chóp bu. Các chính trị gia là các chuyên gia về quyền lực, và một sự thay đổi quyền lực căn bản như sự thay đổi từ chế độ đầu sỏ sang chế độ dân chủ sẽ không thoát khỏi sự chú ý của họ.

Quyết định có nghĩa là sự lựa chọn, và trong khi sự lựa chọn dân chủ không xuất hiện cho đến khi điều kiện nền và điều kiện chuẩn bị có trong tay, nó là một sự lựa chọn thật và không bắt nguồn tự động từ hai điều kiện đó. Lịch sử Lebanon minh họa các khả năng của chế độ chuyên quyền nhân từ hay của sự cai trị nước ngoài như các giải pháp thay thế khả dĩ cho các cuộc đấu tranh ăn sâu bên trong một cộng đồng chính trị.40 Và tất nhiên một quyết định ủng hộ dân chủ, hay thành phần cốt yếu nào đó của nó, có thể được đề xuất và bị bác bỏ – như thế dẫn đến sự tiếp tục của pha chuẩn bị hay đến loại nào đó của kết cục chết yểu.

Quyết định ủng hộ dân chủ là kết quả của sự tương tác của một số lực lượng. Vì các điều khoản chính xác phải được thương lượng và phải lấy các rủi ro lớn liên quan đến tương lai, một nhóm nhỏ các lãnh đạo chắc đóng một vai trò không cân đối. Giữa các nhóm thương lượng và các nhà lãnh đạo của chúng có thể là những người đóng vai trò chủ chốt của cuộc đấu tranh chuẩn bị. Những người tham gia khác có thể gồm các nhóm mà được tách ra từ một bên hay bên kia hoặc những người mới đến trên vũ đài chính trị. Ở Thụy Điển các nhóm mới và trung gian này đã đóng một vai trò cốt yếu. Các nhà Bảo thủ và các nhà Cấp tiến (dẫn đầu bởi các nhà tư bản công nghiệp ở một bên và các trí thức ở bên kia) đã làm sâu sắc thêm và đã kết tinh các vấn đề suốt các năm 1890. Rồi đến một giai đoạn bế tắc khi kỷ luật trong tất cả các bên nghị viện được hình thành mới đây đã đổ vỡ – một loại quá trình ngẫu nhiên hóa mà trong đó nhiều thỏa hiệp, sự kết hợp, và sự hoán vị đã được nghĩ ra và được thăm dò. Công thức, mà đã thành công trong năm 1907, đã bao gồm cả những đóng góp cốt yếu từ một giám mục bảo thủ vừa phải và một chủ trang trại tự do ôn hòa, chẳng ai trong số họ đã đóng vai trò rất nổi bật trong chính trị trước hay sau pha quyết định này.

Hệt như có thể có các loại người đỡ đầu khác nhau và các nội dung khác nhau của quyết định, vì thế các động cơ mà từ đó nó được đề xuất và chấp nhận sẽ thay đổi từ trường hợp này sang trường hợp khác. Các lực lượng của chủ nghĩa bảo thủ có thể chịu thua từ sự sợ hãi rằng sự kháng cự tiếp tục cuối cùng có thể làm họ mất thậm chí nhiều địa vị hơn. (Những suy nghĩ như vậy đã có trong đầu các đảng viên đảng Whig ở Anh năm 1832 và các nhà bảo thủ Thụy Điển năm 1907.) Hoặc họ có thể muốn một cách muộn màng để thực hiện các nguyên tắc được tuyên bố từ lâu; đó đã là sự chuyển đổi Thổ Nhĩ Kỳ sang một hệ thống đa đảng được Tổng thống Inonu công bố trong năm 1945. Những người cấp tiến có thể chấp nhận sự thỏa hiệp như một phần trả góp đầu tiên, tự tin rằng thời gian ở phía họ và rằng các khoản trả góp tương lai nhất định xảy ra. Cả những người bảo thủ lẫn những người cấp tiến có thể cảm thấy kiệt sức từ một cuộc đấu tranh dài hay sợ một cuộc nội chiến. Sự cân nhắc này chắc hiện ra lù lù nếu họ đã trải qua một cuộc chiến tranh như vậy theo ký ước gần đây. Như Barrington Moore đã khéo léo đề xuất, cuộc nội chiến Anh đã là một “sự đóng góp” cốt yếu “của bạo lực ban đầu cho phương pháp tiệm tiến sau này.” 41 Nói ngắn gọn, dân chủ, giống bất kỳ hoạt động tập thể con người nào, chắc là xuất phát từ một sự đa dạng lớn của những động cơ hỗn tạp.

Pha quyết định rất có thể được xem như một hành động của sự đồng thuận có chủ ý, dứt khoát. Nhưng, lại lần nữa, cụm từ hơi âm u này phải được xem xét cẩn trọng và có lẽ phải được thay thế bằng các từ đồng nghĩa ít mơ hồ hơn. Trước tiên, như Bryce gợi ý, nội dung dân chủ của quyết định có thể là phụ đối với các vấn đề thực chất khác. Thứ hai, trong chừng mực mà nó là một sự thỏa hiệp thật nó sẽ có vẻ là cái tốt thứ nhì đối với tất cả các bên liên quan – nó chắc chắn không đại diện cho bất cứ sự đồng ý nào về các nguyên tắc cơ bản. Thứ ba, ngay cả về các thủ tục chắc là có những sự khác biệt tiếp tục về sở thích. Quyền bầu cử phổ quát với sự đại diện tỷ lệ, nội dung của sự thỏa hiệp Thụy Điển năm 1907, đã đáng ghét gần ngang nhau đối với các nhà bảo thủ (những người đã thích tiếp tục hệ thống bỏ phiếu tài phiệt cũ) và đối với các nhà tự do và xã hội (những người đã muốn quy tắc đa số không bị pha loãng bởi sự đại diện tỷ lệ). Cái có ý nghĩa tại giai đoạn quyết định không phải là các giá trị nào các nhà lãnh đạo cho là đáng quý trong sự trừu tượng, mà là những bước cụ thể nào họ sẵn sàng tiến  hành. Thứ tư, sự thỏa thuận vạch ra bởi các nhà lãnh đạo là còn xa mới phổ quát. Nó phải được truyền cho các chính trị gia chuyên nghiệp và cho toàn bộ công dân nói chung. Đấy là hai khía cạnh của pha cuối cùng, hay pha tập cho quen của mô hình.

 Pha Tập làm quen

Một quyết định đáng ghét, một khi được đưa ra, chắc là có vẻ có thể chấp nhận được hơn khi người ta buộc phải sống với nó. Kinh nghiệm hàng ngày có thể cung cấp những minh họa cụ thể về khả năng có thể xảy ra này cho mỗi chúng ta. Lý thuyết về “bất hòa nhận thức” của Festinger cung cấp một sự giải thích kỹ thuật và sự xác minh thực nghiệm.42 Dân chủ, vả lại, theo định nghĩa là một quá trình cạnh tranh, và sự cạnh tranh này cung cấp một lợi thế cho những người mà có thể duy lý hóa sự cam kết của họ cho nó, và một lợi thế còn lớn hơn cho những người mà chân thành tin vào nó. Sự biến đổi của Đảng Bảo thủ Thụy Điển từ 1918 đến 1936 minh họa sinh động điểm cốt yếu này. Sau hai thập niên các nhà lãnh đạo, mà đã miễn cưỡng kiên nhẫn chịu đựng dân chủ hoặc đã chấp nhận nó một cách thực dụng, đã về hưu hay đã chết và đã được thay thế bằng những người khác mà đã chân thành tin vào nó. Tương tự, tại Thổ Nhĩ Kỳ có một sự thay đổi đáng chú ý từ sự lãnh đạo của Ismet Inonu, người đã thúc đẩy dân chủ từ một ý thức nghĩa vụ, và Adnan Menderes, người đã thấy trong nó một phương tiện chưa từng có cho tham vọng của ông, đến các nhà lãnh đạo trẻ hơn trong mỗi đảng của họ những người hiểu dân chủ đầy đủ hơn và đi theo nó toàn tâm toàn ý hơn. Nói tóm lại, chính quá trình dân chủ tạo ra một quá trình kép của sự chọn lọc Darwinian ủng hộ các nhà dân chủ tin chắc: một quá trình giữa các đảng trong các cuộc tổng tuyển cử và quá trình khác giữa các chính trị gia ganh đua nhau vì sự lãnh đạo bên trong các đảng này.

Song chính trị gồm không chỉ sự cạnh tranh vì chức vụ. Trên hết, nó là một quá trình cho sự giải quyết xung đột bên trong các nhóm người – dù các xung đột này nảy sinh từ sự va chạm các lợi ích hay từ sự không chắc chắn về tương lai. Một chế độ chính trị mới là một sự quy định mới cho việc nắm các cơ hội chung về điều chưa biết. Với tập quán cơ bản của nó về tranh luận đa biên, đặc biệt dân chủ gồm một quá trình thử và sai, một kinh nghiệm học tập chung. Sự thỏa hiệp lớn đầu tiên mà thiết lập nền dân chủ, nếu nó tỏ ra có thể tồn tại được chút nào, bản thân nó là một bằng chứng về tính có hiệu lực của nguyên tắc hòa giải và thích nghi. Thành công đầu tiên, vì thế, có thể cổ vũ các lực lượng chính trị ganh đua và các nhà lãnh đạo của chúng để đưa các vấn đề lớn khác ra giải quyết bằng các thủ tục dân chủ.

Tại Thụy Điển, chẳng hạn, đã có một sự bế tắc chính trị chung trong phần ba cuối cùng của thế kỷ thứ mười chín về các vấn đề hàng đầu của thời cuộc – các hệ thống thuế và cưỡng bách tòng quân được kế thừa từ thế kỷ thứ mười sáu. Nhưng trong hai thập niên sau 1918, khi dân chủ được những người Thụy Điển chấp nhận hoàn toàn, một loạt các vấn đề hắc búa đã được giải quyết một cách có ý thức hay không có ý thức. Các nhà Dân chủ Xã hội đã từ bỏ chủ nghĩa hòa bình, thuyết chống giáo hội, và chủ nghĩa cộng hòa, cũng như đòi hỏi quốc hữu hóa công nghiệp trước đây của họ (mặc dù họ đã thấy khó để thú nhận điểm cuối cùng này). Các nhà bảo thủ, một thời dân tộc chủ nghĩa kiên định, đã tán thành việc Thụy Điển tham gia vào các tổ chức quốc tế. Trên hết, các nhà bảo thủ và nhà khai phóng đã chấp nhận hoàn toàn việc chính phủ can thiệp vào nền kinh tế và nhà nước phúc lợi.

Tất nhiên, đường xoáy trôn ốc mà Thụy Điển đã đi lên đến những thành công lớn hơn và lớn hơn cho quá trình dân chủ cũng có thể đi xuống. Một sự thất bại dễ thấy để giải quyết vấn đề chính trị khẩn cấp nào đó sẽ làm tổn hại đến các triển vọng của nền dân chủ; nếu một sự thất bại như vậy đến sớm trong pha tập làm quen, nó có thể tỏ ra tai họa.

Việc nghiên cứu sự tiến hóa của tranh luận chính trị và xung đột trong các nền dân chủ Tây phương trong thế kỷ vừa qua, là nổi bật để nhận thấy sự khác nhau giữa các vấn đề xã hội và kinh tế, mà các nền dân chủ đã giải quyết tương đối dễ dàng, và các vấn đề cộng đồng, mà đã tỏ ra rắc rối hơn nhiều.43 Với lợi thế của sự nhận thức muộn của một thế kỷ, là dễ để thấy rằng đánh giá của Marx đã sai ở những điểm cốt yếu. Trong tính dân tộc ông đã thấy cái lốt cho các lợi ích của giai cấp tư sản. Ông đã lăng mạ tôn giáo như thuốc phiện của quần chúng. Trong kinh tế học, ngược lại, ông đã tiên đoán các cuộc đấu tranh rất thực và ngày càng gay gắt mà sẽ chấm dứt bằng cách làm cho nền dân chủ tư sản sụp đổ. Nhưng trên thực tế dân chủ đã tỏ ra hữu hiệu nhất trong giải quyết các vấn đề chính trị nơi các sự chia rẽ chính đã mang tính xã hội và kinh tế, như ở Anh, Australia, New Zealand, và các nước Scandinavia. Chính cuộc đấu tranh giữa các nhóm tôn giáo, dân tộc, và sắc tộc đã tỏ ra dai dẳng nhất và đã gây ra sự cay đắng thường tái diễn, như ở Bỉ, Hà Lan, Canada, và Hoa Kỳ.

Không khó để tìm ra các lý do. Trên mặt trận xã hội kinh tế bản thân chủ nghĩa Marx đã trở thành một lực đủ ở châu Âu để ở chừng mực nào đấy dùng như một lời tiên tri tự-chứng minh là không đúng. Nhưng vượt quá điều này có một sự khác biệt cơ bản về bản chất của các vấn đề. Về các vấn đề chính sách kinh tế và chi tiêu xã hội bạn có thể luôn luôn thỏa hiệp. Trong một nền kinh tế mở rộng, thậm chí bạn có thể có nó cả hai cách: đấu tranh cho lương, lợi nhuận, tiết kiệm tiêu dùng, và các khoản chi trả phúc lợi xã hội cao hơn có thể trở thành một trò chơi có tổng dương. Nhưng không có lập trường giữa nào giữa tiếng Flemish và tiếng Pháp với tư cách các ngôn ngữ chính thức, hay giữa thuyết Calvin, Công giáo, và chủ nghĩa thế tục với tư cách các nguyên lý giáo dục. Điều tốt nhất bạn có thể đạt được ở đây là một “sự thỏa hiệp bao gồm” 44: một cách đối xử đổi chác bằng cách một số cơ quan chính phủ nói tiếng Pháp và một số nói tiếng Flemish, hay một số trẻ em được dạy theo Aquinas, một số, theo Calvin, và một số, theo Voltaire. Một giải pháp như vậy có thể phi chính trị hóa một phần vấn đề. Tuy nhiên nó cũng đào sâu các mâu thuẫn thay cho loại bỏ chúng, và do đó nó có thể biến xung đột chính trị thành một dạng chiến tranh chiến hào.

Sự khó khăn mà dân chủ thấy trong việc giải quyết các vấn đề cộng đồng nhấn mạnh tầm quan trọng của sự thống nhất quốc gia như điều kiện nền của quá trình dân chủ hóa. Các cuộc đấu tranh khó nhất trong một nền dân chủ là các cuộc chống lại các khuyết tật sinh nở của cộng đồng chính trị.

Sự chuyển đổi sang dân chủ, được gợi ý sớm hơn, có thể đòi hỏi những thái độ chung nào đó và thái độ khác biệt nào đó về phần chính trị gia và công dân bình thường. Sự phân biệt là hiển nhiên rồi trong pha quyết định khi các nhà lãnh đạo tìm kiếm sự thỏa hiệp còn những người đi theo họ mệt mỏi giữ các ngọn cờ của cuộc chiến đấu cũ. Nó còn bày tỏ ra ngoài dễ dàng hơn trong pha tập làm quen, khi ba loại quá trình hoạt động. Thứ nhất, cả các chính trị gia lẫn các công dân học từ việc giải quyết thành công một số vấn đề để đặt niềm tin của họ vào các quy tắc mới và để áp dụng chúng cho các vấn đề mới. Sự tin cậy của họ sẽ tăng nhanh nếu, trong các thập niên đầu của chế độ, các xu hướng chính trị đa dạng có thể tham gia vào sự quản lý công việc, hoặc bằng cách tham gia vào các liên minh khác nhau hay bằng cách luân phiên như chính phủ và phe đối lập. Thứ hai, như chúng ta đã vừa thấy, kinh nghiệm với các kỹ thuật dân chủ và sự tuyển người cạnh tranh sẽ làm cho các chính trị gia nhiễm sâu vào các tập quán và lòng tin dân chủ. Thứ ba, dân cư nói chung sẽ trở nên khớp vững vàng vào cấu trúc mới bằng cách rèn các mối liên kết hữu hiệu của tổ chức đảng mà kết nối các chính trị gia ở thủ đô với khối cử tri trên khắp nước.

Các tổ chức đảng này có thể là sự tiếp tục trực tiếp của các đảng đã hoạt động tích cực trong pha chuẩn bị hay xung đột của dân chủ hóa, và một sự mở rộng quyền bầu cử tại thời gian “quyết định” dân chủ bây giờ có thể đã trao cho họ một sân chơi tự do. Mặt khác, là có thể rằng không đảng nào với một cơ sở đại chúng rộng đã nổi lên trong pha xung đột và rằng sự mở rộng quyền bầu cử đã là rất hạn chế. Ngay cả dưới các điều kiện như vậy của dân chủ hóa một phần của cấu trúc chính trị, một động lực cạnh tranh mà hoàn tất quá trình có thể đã được khởi hành. Các đảng nghị trường sẽ tìm kiếm sự ủng hộ từ các tổ chức cử tri để đảm bảo một sự cung cấp đều đặn các thành viên của nhóm họ trong các quốc hội tương lại. Khi thì nhóm chính trị này lúc thì nhóm chính trị nọ có thể thấy một cơ hội để giành được một lợi thế trước các đối thủ của nó bằng việc mở rộng khối cử tri hay bằng việc dỡ bỏ các trở ngại khác đối với việc kiểm soát đa số. Đấy, đại thể, đã có vẻ là bản chất của những diễn tiến ở Anh giữa 1832 và 1918. Sự dân chủ hóa hoàn toàn, tất nhiên, là điểm dừng có logic duy nhất cho một động lực như vậy.

V

Mô hình được trình bày ở đây đưa ra ba khẳng định khái quát. Thứ nhất, nó nói rằng những thành phần nào đó là không thể thiếu được cho sự sinh ra của nền dân chủ. Trước hết, phải có một ý thức về sự thống nhất quốc gia. Tiếp đến, phải có xung đột ăn sâu và nghiêm trọng. Rồi, phải có một sự chấp nhận có ý thức các quy tắc dân chủ. Và, cuối cùng, cả các chính trị gia lẫn cử tri phải tập làm quen với các quy tắc này.

Thứ hai, mô hình khẳng định rằng các thành phần này phải được tập hợp từng thứ một kế tiếp nhau. Mỗi công việc có logic riêng của nó và mỗi việc có những người giữ vai trò chủ đạo tự nhiên của nó – một mạng các nhà quản lý hay một nhóm các nhà trí thức dân tộc chủ nghĩa cho nhiệm vụ thống nhất, một phong trào quần chúng giai cấp dưới, có lẽ được lãnh đạo bởi các nhà bất đồng chính kiến tầng lớp trên, cho nhiệm vụ của cuộc đấu tranh chuẩn bị, một giới nhỏ của các nhà lãnh đạo chính trị có kỹ năng thương lượng và thỏa hiệp cho việc trình bày có hệ thống các quy tắc dân chủ, và đủ loại nhà tổ chức và các tổ chức của họ cho nhiệm vụ tập làm quen. Như thế mô hình từ bỏ sự truy tìm “các điều kiện chức năng cần thiết” của nền dân chủ; vì một sự truy tìm như vậy chất đống tất cả các nhiệm vụ này lại với nhau và như thế làm cho toàn bộ công việc dân chủ hóa hoàn toàn không thể quản lý được. Lý lẽ ở đây là tương tự như lý lẽ được đưa ra bởi Hirschman và những người khác chống lại lý thuyết tăng trưởng kinh tế cân đối. Các nhà kinh tế học này không phủ nhận rằng sự chuyển đổi từ một nền kinh tế sinh kế thô sơ sang một xã hội công nghiệp chín muồi dính đến những thay đổi trên mọi mặt trận – trong các kỹ năng làm việc, trong hình thành tư bản, trong hệ thống phân phối, trong các thói quen tiêu dùng, trong hệ thống tiền tệ, và vân vân. Nhưng họ khăng khăng rằng bất cứ nước nào mà thử làm tất cả các nhiệm vụ này cùng một lúc trong thực tế sẽ thấy mình hoàn toàn bị tê liệt – rằng sự cân bằng ổn định nhất là sự cân bằng của sự đình trệ. Vì thế, vấn đề của nhà phát triển kinh tế, theo ý kiến họ, trở thành vấn đề về tìm “các liên kết” ngược và xuôi, tức là, về nghĩ ra một chuỗi có thể quản lý được của các nhiệm vụ.

Thứ ba, mô hình có gợi ý một chuỗi như vậy từ sự thống nhất quốc gia như nền, qua cuộc đấu tranh, sự thỏa hiệp và sự tập làm quen, đến nền dân chủ. Sức thuyết phục của chuỗi này được hiểu rõ bởi một sự phát triển lầm lạc ở Thổ Nhĩ Kỳ trong những năm sau 1945. Sự cam kết Thổ Nhĩ Kỳ đối với dân chủ đã được tạo ra trong sự thiếu vắng của xung đột công khai trước giữa các nhóm xã hội chủ yếu hay các elite dẫn đầu của chúng. Trong năm 1950 đã có sự thay đổi đầu tiên của chính phủ như kết quả của một đa số bầu cử mới, nhưng trong thập niên tiếp theo đã có một sự trôi dạt quay lại các tập quán độc tài về phần đảng mới thắng cử này, và trong các năm 1960 – 1961 thử nghiệm dân chủ đã bị gián đoạn bởi một cuộc đảo chính quân sự. Những sự phát triển này đã không phải không có quan hệ: Thổ Nhĩ Kỳ đã trả giá trong năm 1960 vì đã nhận được chế độ dân chủ đầu tiên của nó như một món quà không mất tiền từ tay của một nhà độc tài. Nhưng sau 1961 đã có một sự tiến hóa thêm trong chuỗi thích hợp hơn. Cuộc khủng hoảng 1960 – 1961 đã làm cho xung đột xã hội và chính trị có thể được chấp nhận hơn, và đủ loại vấn đề xã hội và kinh tế đã được tranh luận lần đầu tiên. Cuộc xung đột mà thành hình đã là giữa quân đội ở một bên và bên kia là các nhà phát ngôn của đa số người làm ruộng – và sự thỏa hiệp giữa hai bên này đã cho phép việc thử nghiệm lại dân chủ trên một cơ sở chắc chắn hơn vào năm 1965.

Vì lợi ích của tính tằn tiện, các thành phần cơ bản của mô hình được giữ là bốn, và hoàn cảnh xã hội hay các động cơ tâm lý mà có thể trang bị cho mỗi trong số chúng được để mở toang. Đặc biệt mô hình bác bỏ cái đôi khi được đề xuất như các điều kiện tiên quyết của dân chủ, thí dụ, các mức cao của sự phát triển kinh tế và xã hội hay một sự đồng thuận trước hoặc về các nguyên tắc cơ bản hoặc về các quy tắc. Tăng trưởng kinh tế có thể là một hoàn cảnh tạo ra những căng thẳng thiết yếu cho pha chuẩn bị hay xung đột – nhưng hoàn cảnh khác mà cũng có thể đáp ứng. Giáo dục đại chúng và các dịch vụ phúc lợi xã hội chắc có vẻ hơn là kết quả của dân chủ hóa.

Sự đồng thuận về các nguyên tắc cơ bản là một điều kiện tiên quyết có vẻ hợp lý. Một dân tộc mà đã không trong xung đột về các vấn đề khá cơ bản nào đó thì ít có nhu cầu để nghĩ ra các quy tắc tinh vi của nền dân chủ cho việc giải quyết xung đột. Và sự chấp nhận các quy tắc đó về mặt logic là một phần của quá trình chuyển đổi hơn là điều kiện tiên quyết của nó. Mô hình hiện thời chuyển các khía cạnh khác nhau của sự đồng thuận từ trạng thái tĩnh của các điều kiện tiên quyết sang trạng thái của các yếu tố tích cực trong quá trình. Ở đây tôi đi theo sự dẫn đầu của Bernard Crick, người đã viết một cách nổi bật:

. . . Thường được nghĩ rằng để cho “khoa học bậc thầy” này (tức là, chính trị học dân chủ) hoạt động, phải có rồi ý tưởng chung nào đó về một “lợi ích chung,” “sự đồng thuận” nào đó hay sự đồng thuận pháp lý. Nhưng lợi ích chung này bản thân nó là quá trình hòa giải thực tiễn các lợi ích của các khối tập hợp, hay các nhóm . . . khác nhau mà tạo thành một quốc gia; nó không phải là chất dính tinh thần mơ hồ và bên ngoài nào đó. . . . Các nhóm khác nhau gắn bó với nhau, trước hết, bởi vì họ có một lợi ích chung vì sự sống sót đơn thuần, và, thứ hai, bởi vì họ thực hành chính trị – không phải bởi vì họ đồng ý về “các nguyên tắc cơ bản,” hay khái niệm quá mơ hồ, quá cá nhân, hay quá thiêng liêng nào đó như vậy từ trước đến giờ để làm công việc chính trị vì nó. Sự đồng thuận đạo đức của một quốc gia tự do không phải là cái gì đó bí ẩn trước hay trên chính trị: nó là sự hoạt động (sự hoạt động khai hóa) của bản thân chính trị. 45

Cơ sở của nền dân chủ không phải là sự đồng thuận tối đa. Nó là vị trí trung gian giữa tính đồng đều bị áp đặt (mà sẽ dẫn đến loại nào đó của chế độ chuyên chế) và sự thù địch không thể làm dịu được (thuộc loại mà sẽ phá vỡ cộng đồng trong nội chiến hay sự ly khai). Trong quá trình sinh ra nền dân chủ, một yếu tố của cái có thể được gọi là sự đồng thuận bước vào chí ít tại ba điểm. Phải có một ý thức trước về cộng đồng, tốt nhất là một ý thức về cộng đồng được coi là nghiễm nhiên một cách thầm lặng mà chỉ là trên ý kiến và sự đồng ý. Phải có một sự chấp nhận có ý thức các quy tắc dân chủ, nhưng chúng không phải được tin mà đúng hơn là được áp dụng, đầu tiên có lẽ do sự bắt buộc và dần dần do thói quen. Chính sự hoạt động của các quy tắc này sẽ mở rộng phạm vi của sự đồng thuận từng bước một khi dân chủ chuyển chương trình nghị sự dày đặc của nó xuống.

Nhưng các vấn đề mới sẽ luôn luôn nổi lên và các xung đột mới đe dọa các thỏa thuận mới đạt được. Các thủ tục đặc trưng của nền dân chủ bao gồm nghệ thuật diễn thuyết vận động, sự bầu chọn các ứng viên, sự chia làm hai phe nghị trường, bỏ phiếu tín nhiệm và khiển trách – một loạt các công cụ, nói tóm lại, cho việc bày tỏ xung đột và bằng cách ấy giải quyết nó. Bản chất của nền dân chủ là thói quen bất đồng và sự hòa giải các vấn đề thay đổi liên tục và giữa những sự liên kết thay đổi liên tục. Các nhà cai trị toàn trị phải bắt buộc sự nhất trí về các nguyên tắc cơ bản và về các thủ tục trước khi họ có thể bắt đầu công việc khác. Ngược lại, dân chủ là dạng chính phủ mà nhận được các quyền hạn chính đáng của nó từ sự bất đồng ý kiến của cho đến một nửa của những người bị cai trị.

Dankwart A. Rustow

 CHÚ THÍCH

 Bài báo này được trình bày tại cuộc họp hàng năm của Hội Khoa học Chính trị Mỹ, New York City, Tháng Chín 1969. Tác giả biết ơn sự hỗ trợ tài chính tại các giai đoạn khác nhau của những nghiên cứu của ông về dân chủ từ Quỹ John Simon Guggenheim, Quỹ Ford, và Quỹ Khoa học Quốc gia. Tác giả ganh tị nhận trách nhiệm về các lỗi, các nhược điểm và sự điên rồ được bộc lộ trong tiểu luận này.

  1. Ernest Barker, Reflections on Government (Oxford, 1942). p. 63; Daniel Lerner et al. The Passing of Traditional Society (Glencoe, 1958). pp 49ff, 60ff. Gabriel Almond and Sidney Verba, The Civic Culture(Princeton, 1963).
  2. Carl J. Friedrich, The New Belief in the Common Man (Boston, 1942). E. E.

Schattschneider, The Semi-Sovereign People (New York, 1960); Bernard Crick, In Defence of Politics, rev. ed. (Penguin Books, 1964); Ralf Dahrendorf, Class and Class Conflict in Industrial Society (Stanford, 1959); Arend Lijphart, The Politics of Accommodation (Berkeley and Los Angeles, 1968).

  1. David B. Truman, The Governmental Process (New York, 1951), p. 514. S. M.

Lipset, Political Man (New York, 1960), pp. 88ff. Already, A. Lawrence Lowell had spoken of the need for a party alignment where ‘‘the line at division is vertical,’’ cutting across the horizontal division of classes.Government and Par- ties in Continental Europe (Boston, 1896), vol. 2, pp. 65ff.

  1. Robert A. Dahl, Who Governs? (New Haven, 1961); Herbert McClosky, ‘‘Con- sensus and Ideology in American Politics,’’ American Political Science Review, LVIII (June 1964); James W. Prothro and Charles M. Grigg, ‘‘Fundamental Principles of Democracy: Bases of Agreement and Disagreement,’’Journal of Politics, XXII (May 1960).
  2. Harry Eckstein, The Theory of Stable Democracy (Princeton, 1961) and Divi- sion and Cohesion in a Democracy (Princeton, 1965).
  3. Robert A. Dahl, A Preface to Democratic Theory (Chicago, 1956).
  4. Lijphart, Eckstein; Dahl, Pluralist Democracy in the United States: Conflict and Consent (Chicago, 1967).
  5. Almond and Verba; Eckstein; Dahl, Who Governs? and ed. Political Opposi- tions in Western Democracies (New Haven, 1966).
  6. Xem Thomas Kuhn, The Structure of Scientific Revolutions (Chicago, 1962).
  7. Herbert A. Simon, Models of Man Social and Rational (New York, 1957) p. 65.
  8. Về một thảo luận tổng quát về vấn đề của nền dân chủ trong bối cảnh của các nước mới hiện đại hóa, xem Rustow, A World of Nations: Problems of Political Modernization (Washington, 1967), Ch. 7, mà phát biểu vài lý lẽ hiện tại ở dạng tóm tắt.
  9. “ . . . một hình thức chính trị có thể vẫn tồn tại dưới các điều kiện thường bất lợi cho sự nổi lên của hình thức đó” (Lipset, p. 46).
  10. Seymour Martin Lipset, ‘‘Some Social Requisites of Democracy: Economic Development and Political Legitimacy,’’ American Political Science Review. LIII (March 1959); cùng tác giả ấy, Political Man; Philips Cutright. ‘‘National Political Development: Measurement and Analysis,’’ American Sociological Review, XXVIII (April 1963).
  11. Rupert Emerson, From Empire to Nation (Cambridge, 1960), p. 278, diễn đạt lại Lipset cho tác động này. M. Rejai, trong hợp tuyển và bình luận hữu ích của ông, Democracy: The Contemporary Theories (New York, 1967), gồm một phần trích từ bài báo dưới tiêu đề , “Socioeconomic Preconditions’’ (pp. 242 –247).
  12. Gabriel A. Almond and James S. Coleman, eds. The Politics of Developing

Areas (Princeton, 1960), Introduction.

  1. Gunnar Myrdal, An American Dilemma (New York, 1944), Appendix; Hayward R. Alker, Jr., ‘‘The Long Road to International Relations Theory: Problems of Statistical Non-Additivity,’’ World Politics XVIII (July 1966); Deane Neubauer,

‘‘Some Conditions of Democracy,’’ American Political Science Review LXI (De- cember 1967).

  1. Tuyên bố này về chức năng của nhà khoa học xã hội được lấy từ Rustow A World of Nations, p. 17; hai đoạn tiếp theo diễn giải dài dòng ibid., pp. 142ff.
  2. Reinhard Bendix and Seymour Martin Lipset, ‘‘Political Sociology,’’ Current Sociology, VI, No. 2 (1957), p. 85.
  3. David E. Apter, The Politics of Modernization (Chicago, 1965).
  4. Leon Festinger, A Theory of Cognitive Dissonance (Stanford, 1957).
  5. Eckstein, Division and Cohesion, pp. 183 – 85.
  6. Dahl, Who Governs?; McClosky; Prothro and Grigg.
  7. Almond, current study on nineteenth-century Britain; Leonard Binder, ed. Politics in Lebanon (New York, 1966); Dahl, xem nn. 4, 7, và 8; Karl W. Deutsch, Nationalism and Social Communication (New York, 1953) and Deutsch et al., Political Community and the North Atlantic Area (Princeton,1957: Carl J. Friedrich, Constitutional Government and Democracy (Boston, 1950): Samuel P. Huntington, ‘‘Political Modernization: America vs. Europe.’’ World Politics, XVIII (April 19661; S. M. Lipset, The First New Nation (New York, 1963), and Lipset and Stein Rokkan, eds. Party Systems and Voter Align- ments(New York, 1967); Robert E. Ward and D. A. Rustow, eds. Political Modernization in Japan and Turkey(Princeton, 1964); Myron Weiner, current study on nineteenth-century social history of the Balkans.
  8. Sức mạnh của Dynamics of Modernization (New York, 1966) của Cyril E. Black nằm trong sự kết hợp này so với hầu hết tài liệu khác về chủ đề này.
  9. Louis Hartz et al., The Founding of New Societies (New York, 1964); R. R. Palmer, The Age of Democratic Revolution, 2 vols. (Princeton, 1959 – 64).
  10. Xem, thí dụ, Bertrand de Jouvenel, On Power (New York, 1948).
  11. Danh sách này, cùng với tám sự bỏ đi được lưu ý (Australia, Canada, Đức, Israel, Nhật Bản, New Zealand, Vương quốc Anh, Hoa Kỳ), tương ứng với danh sách tôi đã đưa ra trong A World of Nations, pp. 290ff., với những ngoại lệ sau đây: Hy Lạp đã bị bỏ đi bởi vì nền dân chủ đã bị thay thế bởi một cuộc đảo chính quân sự trong năm 1967; Mexico bị bỏ đi bởi vì, sau khi suy đi tính lại, tôi không tin rằng nó thỏa mãn tiêu chuẩn của một chính phủ dựa trên “ba hoặc hơn ba cuộc bầu cử liên tiếp, phổ cập, và cạnh tranh” – các vấn đề tất nhiên là những hạn chế de facto khắt khe về cạnh tranh; Thổ Nhĩ Kỳ và Venezuela đã được đưa thêm vào bởi vì chúng bây giờ đã bắt đầu thỏa mãn tiêu chuẩn.
  12. Về một sự tuyên bố lại sáng sủa, mới đây về lý do căn bản cho các mô hình hay các type lý tưởng như vậy, xem T. H. Bottomore, Elites and Societies (New York, 1965), p. 32.
  13. W. Ivor Jennings, The Approach to Self-Government (Cambridge, 1956), p. 56
  14. Deutsch Nationalism and Social Communication; Deutsch et al., Political Community and the North Atlantic Area.
  15. Rustow, A World of Nations, pp. 30ff. và International Encyclopedia of the Social Sciences, s.v. ‘‘Nation.’’
  16. Về những tiến triển ở Thụy Điển xem Rustow, The Politics of Compromise: A Study of Parties and Cabinet Government in Sweden (Princeton, 1955), Chs.1 – 3. và Douglas A. Verney, Parliamentary Reform in Sweden, 1866 – 1921 (Oxford, 1957). Về Thổ Nhĩ Kỳ xem Ward and Rustow và các tiểu luận sau đây của Rustow: ‘‘Politics and Islam in Turkey,’’ trong R. N. Frye, ed. Islam and the West (The Hague, 1957), pp. 69 – 107; ‘‘Turkey: The Tradition of Modernity,’’ trong Lucian W. Pye and Verba, eds.Political Culture and Political Development (Princeton, 1965), pp. 171 – 198; ‘‘The Development of Parties in Turkey,’’ trong Joseph LaPalombara and Myron Weiner, eds. Political Parties and Political Develop- ment (Princeton, 1966), pp. 107 – 133; và ‘‘Politics and Development Policy,’’ in F. C. Shorter, ed. Four Studies in the Economic Development of Turkey (London, 1967), pp. 5 – 31.
  17. James Bryce, Modern Democracies (London, 1921), vol. 2, p. 602.
  18. Albert O. Hirschman, Journeys Toward Progress (New York, 1963), pp. 6ff.
  19. Ibid., and Hirschman, The Strategy of Economic Development (New Haven, 1958) and Hirschman, ‘‘Obstacles to Development: A Classification and a Quasi-Vanishing Act,’’ Economic Development and Cultural Change, XllI (July 1965), 385 – 393.
  20. Dahl et al., Political Opposition in Western Democracies, p. 397.
  21. Mary Parker Follett, The New State (New York, 1918), and Creative Experience (New York, 1924); Lewis A. Coser, The Function of Social Conflict (Glencoe,1956), p. 121 và đây đó. Một lập trường trái ngược phổ biến mới đây đã được tuyên bố lại bởi Edward Shils, người viết dẫn chiếu đến Lebanon: “sự văn minh [sự lịch sự] sẽ không được tăng cường bởi khủng hoảng. Nó chỉ có thể phát triển chậm và trong một bầu không khí yên lặng. Sự tăng lên của sự văn minh là một điều kiện cần cho sự phát triển của Lebanon . . . thành một hệ thống dân chủ thật sự” (trong Binder et al., Politics in Lebanon, p. 10). Tôi thấy khó để nghĩ về các tình huống nơi đã có bất kể sự tiến bộ đáng kể nào về hoặc sự văn minh hoặc dân chủ trừ như kết quả của sự khủng hoảng.
  22. Dahl et al., Political Oppositions in Western Democracies, p. xi.
  1. Rustow, The Politics of Compromise, p. 69.
  2. Binder, ed. Politics in Lebanon.
  3. Barrington Moore, Jr., Social Origins of Dictatorship and Democracy (Boston, 1966). p. 3
  4. Festinger, A Theory of Cognitive Dissonance.
  5. Sự tương phản nổi lên một cách ngấm ngầm từ các nghiên cứu quốc gia trong Dahl, ed. Political Opposition in Western Democracies.
  6. Rustow, Politics of Compromise, p. 231.
  7. Crick, In Defence of Politics, p. 24.

 (Transitions to Democracy

Biên tập: Lisa Anderson

Dịch: Nguyễn Quang A

Thuộc tủ sách SOS2)

* Polyarchy (nhiều người cai trị) khái niệm do Dahl tạo ra để chỉ các chính thể được coi là các nền dân chủ hiện đại đương thời và để cho khái niệm dân chủ có những khả năng rộng hơn.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s