Hồ Sơ Dân Oan tuần 21

danoan-120x80VRNs(02.09.2013) – Sài Gòn – Tuần thứ 21 (Tuần lễ từ 26/8 đến 30/8/2013), Văn phòng nhận được hồ sơ của Dân Oan các Tỉnh, Thành: Tiền Giang, Kiên Giang, Đak- Lak, Tây Ninh. Ngoài ra còn rất nhiều hồ sơ bổ sung, yêu cầu soạn thảo đơn… Văn Phòng sẽ lần lượt giải quyết…

1. Tiền Giang:

Bà Lê Thị Lang, Huyện Cái Bè: Bà yêu cầu cất nhà Đại Đoàn kết ngay trên nền nhà cũ của Bà; bồi thường giải tỏa; yêu cầu xác nhận giám hộ cho Anh là bệnh binh; yêu cầu công nhận người có công… VP sẽ làm đơn cho Bà theo yêu cầu của Bà.

2. Kiên Giang:

Bà Trần Thị Phượng, ở Sài Gòn: Vụ kiện “tranh chấp HĐ chuyển nhượng QSD đất” tại Phú Quốc, Kiên Giang giữa Bà và Ông Diệp Thế Lữ, Bà Lê Thị Hiện đã được Tòa án Huyện Phú Quốc xử sơ thẩm và TAND Tỉnh Kiên Giang xử phúc thẩm. Tòa Dân sự TAND Tối cao đã có Quyết định Giám đốc thẩm hủy cả hai Bản án sơ thẩm và phúc thẩm để xét xử lại từ sơ thẩm. Hồ sơ có Thông báo thụ lý vụ án sơ thẩm (lần 2). Bà có thể yêu cầu LS đã bảo vệ quyền lợi hợp pháp tại phiên Tòa phúc thẩm giúp đỡ. VP sẵn sàng giới thiệu Luật sư cho Bà, nhưng chi phí đi lại sẽ tốn kém…

 

3. Đak- Lak:

Ông Lê Văn A, Thị Xã Buôn Hồ: “Nhà cầm quyền TX Buôn Hồ không tuân thủ pháp luật, không thi hành những quyết định cấp trên yêu cầu giải quyết đất của Tôi công bằng …”. Vụ việc của Ông nhiều nội dung phức tạp, tuy nhiên nội dung rõ ràng nhất Văn phòng nhận thấy đúng là “UBND TX Buôn Hồ hành xử như kẻ cướp” (theo đơn khởi kiện của Ông). Và “thể hiện sự thù vặt của chính quyền đối với công dân Lê Văn A” (theo Tự khai của Luật sư đại diện cho Ông tại Tòa). Và nổi bật hơn cả là UB TX Buôn Hồ đã bất chấp chỉ đạo của UB Tỉnh, bất chấp Bản án Tỉnh… xem thường pháp luật và ngu dốt… 4.275 m2 đất của Ông (Lê Văn A) khai hoang từ năm 1976. Đến năm 1989, UB Huyện thỏa thuận đổi đất cho Ông để lấy đất làm Bệnh viện. Ông đồng ý, và UB Tỉnh đã có QĐ thu hồi đất. Nhưng sau đó, Bệnh viện xây dựng xong mà không sử dụng đất của Ông. Năm 2007, UB Tỉnh hủy bỏ QĐ thu hồi đất của Ông và giao lại cho UB Huyện. Lưu ý là suốt trong quá trình từ 1976 đến nay, hộ Ông Lê Văn A vẫn sử dụng ổn định đất này (37 năm). Năm 2007, Ông A xin cấp Giấy CN QSD đất này, và được UB Huyện cấp Giấy CN không thu tiền sử dụng đất, vì đất sử dụng ổn định từ trước ngày 15/10/1993. Bắt đầu quá trình dài làm Dân oan của Ông. Huyện bắt Ông đóng tiền sử dụng đất với lập luận ngu dốt: Tuy đất Ông khai hoang từ 1976, nhưng có giai đoạn UB thu hồi để làm Bệnh viện. Sau không làm BV nữa giao cho Huyện. Mặc dù suốt trong quá trình này Ông vẫn sử dụng đất. Nên nay, UB Huyện cấp Giấy cho Ông là lấy đất NN cấp cho Ông nên Ông phải đóng tiền sử dụng đất. Việc các cán bộ xác nhận đất khai hoang, và không thu tiền sử dụng… sẽ bị xem xét. Đáng chú ý là lập luận ngu dốt này được TA Huyện đồng tình. Trước đó, Bản án Phúc thẩm của Tỉnh đã buộc UB phải cấp Giấy cho Ông… Chủ tịch UB Tỉnh và Thị Ủy Buôn Hồ chỉ đạo… đều không được UB huyện nghe. Đến nay, mới nhất 12/8/2013, Ông lại bị TA Huyện “bác đơn…”. Theo VP, Ông cần làm đơn yêu cầu cơ quan THA thi hành Bản án phúc thẩm ngày 30/7/2012. Ông trao đổi và tư vấn thêm với Luật sư của Ông để được bảo vệ quyền lợi hợp pháp.

4. Tây Ninh:

Ông Nguyễn Văn Long, và một số người lao động khác, ở Tân Châu: Căn cứ Bản án sơ thẩm ngày 20/8/2013 của TA Huyện Tân Châu xét xử vụ kiện lao động “đơn phương chấm dứt HĐLĐ và tranh chấp tiền lương” giữa Ông Nguyễn Văn Hải với Cty TNHH MTV Cao su 30/4 Tây Ninh (Hồ sơ không có Bản án sơ thẩm của Ông Nguyễn Văn Long), sơ bộ, ngoài những lý do nêu tại Đơn kháng cáo, và nhiều chi tiết khác, Văn phòng cho rằng “Bản án sơ thẩm đã quyết định không đúng pháp luật”. Cụ thể, Bản án sơ thẩm đã căn cứ khoản 1 Điều 8 Bộ luật Lao động (cũ), nhưng chỉ trích ra một đoạn nguyên văn là: “Người sử dụng lao động có quyền… bố trí, điều hành lao động theo nhu cầu sản xuất kinh doanh” (trang 8) để cho rằng Cty có quyền bố trị lại địa điểm làm việc của người lao động (cạo mủ cao su ban đêm) cách địa điểm làm việc đã thỏa thuận tại HĐLĐ hơn 90 km (HĐLĐ đã thực hiện hơn 10 năm). Rõ ràng, TA Huyện đã nhận định sai pháp luật. Vì lẽ, bỏ sót cụm từ ở khoản 1 Điều 8 là “Người sử dụng lao động có quyền…theo qui định của pháp luật lao động”. Thứ hai là, ngay tại Điều 8 Bộ luật Lao động (cũ), khoản 3 qui định: “Người sử dụng lao động có nghĩa vụ thực hiện Hợp đồng lao động…”. Khoản 1 Điều 29 Bộ luật Lao động (cũ) qui định “địa điểm làm việc” là một trong những nội dung chủ yếu của HĐLĐ. Như vậy, Cty có nghĩa vụ phải thực hiện HĐLĐ, tức phải tuân thủ nội dung về “địa diểm làm việc” trong HĐLĐ. Cty chỉ có thể bố trí người lao động làm việc tại “địa điểm làm việc” theo HĐLĐ. “Địa điểm làm việc” là nội dung Hợp đồng lao động như khoản 1 Điều 29 Bộ luật Lao động (cũ) qui định, nên muốn thay đổi nội dung HĐLĐ (tức thay đổi địa điểm làm việc), Cty phải báo trước 3 ngày và thỏa thuận với người lao động. Trường hợp hai bên không thỏa thuận được “thì phải thực hiện theo HĐLĐ đã giao kết…” như qui định tại Điều 33 Bộ luật Lao động (cũ); Điều 8 Nghị định 44/2003/NĐ-CP của Chính phủ; mục 3 Phần II Thông tư 21/2003/TT-BLĐTBXH, chứ không phải “không chấp nhận điều động của công ty… như vậy là Anh Hải không tiếp tục làm việc với công ty” (trang 5 Bản án sơ thẩm).

Văn phòng Công lý – Hòa bình

DCCT Sài Gòn

About these ads

Gửi phản hồi

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s