Tìm hiểu cách đọc Kinh Thánh (23)

01758-120x80VRNs (09.07.2013) – Hà Nội - NGHĨA VĂN TỰ[1]

Một câu truyện vui kể rằng sau khi học xong bài học Kinh Thánh về truyện ông Môsê dẫn dân Do-thái vượt qua Biển Đỏ, một em thiếu nhi về nhà kể lại cho mẹ em như sau:

Dân Do-thái lao động cải tạo tại xứ Ai-cập quá khổ cực nên kêu cầu cùng Đức Chúa Trời. Ngài bèn sai tướng Môsê đến dùng quyền năng làm cho Pharaô khiếp sợ và tha dân Do-thái đi. Mới vừa ra khỏi thủ đô, dân Do-thái đang đối diện với Biển Đỏ, thình lình quay lại thấy quân đội Ai-cập đang rượt theo. Xe tăng với đại pháo trực xạ dẫn đường, bộ binh tiến theo sau rầm rập. Dân Do-thái bị vây chặt trong tình thế hết sức hiểm nghèo. Phía trước là biển, phía sau là xe tăng của Ai-cập. Tướng Môsê liền dùng máy truyền tin cực mạnh liên lạc khẩn cấp với không quân, yêu cầu tiếp cứu. Trong vòng tích tắc, không lực hùng hậu của Do-thái với các vũ khí tối tân trang bị trên máy bay F.16, bay đến dội bom và bắn tan nát các xe tăng của Ai-cập. Môsê cũng yêu cầu công binh làm một chiếc cầu nổi vĩ đại xuyên qua eo Biển Đỏ, nhờ đó dân Do-thái thoát nạn.

Nghe đến đây, bà mẹ ngạc nhiên hỏi: Có phải các cha dạy con như vậy không?

Em thiếu nhi thản nhiên trả lời: Dĩ nhiên là không phải, nhưng nếu con kể hết những gì các cha dạy, chắc chắn mẹ còn ngạc nhiên hơn nữa.

Đây là câu truyện vui nhưng nó cũng cho thấy phần nào một thực tế là có tín hữu hiểu không đúng ý nghĩa các câu truyện trong Kinh Thánh. Truyền thống Hội Thánh dạy rằng bản văn Kinh Thánh có hai nghĩa căn bản là nghĩa văn tự và nghĩa thiêng liêng.[2] Hai nghĩa này tương ứng với hai bản tính của Kinh Thánh, vì Kinh Thánh được định nghĩa là Lời Thiên Chúa trong ngôn ngữ loài người. Bài này xin trình bày nghĩa văn tự.

Định nghĩa

Nghĩa văn tự là nghĩa được các tác giả nhân loại được linh hứng diễn tả ra trực tiếp.

Tầm quan trọng

Có thể nói định nghĩa về nghĩa văn tự là một trong những phần quan trọng nhất của giáo huấn Hội Thánh Công giáo về việc giải thích Kinh Thánh. Văn kiện Việc Giải Thích Kinh Thánh Trong Hội Thánh nói rằng công việc chính của ngành chú giải Kinh Thánh là tìm nghĩa văn tự của bản văn. Được tác giả nhân loại diễn tả, nhưng bởi vì là hoa trái của ơn linh hứng, nghĩa này cũng được Thiên Chúa, là tác giả chính, nhắm tới. Nghĩa văn tự không những là hợp pháp, nhưng còn tuyệt đối cần thiết và có tầm quan trọng căn bản. Các nghĩa thiêng liêng đều phải dựa trên nghĩa văn tự. “Thiêng liêng” không có nghĩa là “tùy tiện” theo ý chủ quan của mình. Ví dụ có người giải thích cách “thiêng liêng” câu Đức Mẹ nói không biết đến việc vợ chồng có nghĩa là Đức Mẹ khấn giữ đồng trinh như các nữ tu hôm nay.

Đừng lẫn lộn nghĩa văn tự với lối giải thích của phái bảo thủ (fundamentalism).[3]

Cách xác định nghĩa văn tự (x. Dei Verbum 12)

Muốn có được nghĩa văn tự, không phải cứ dịch bản văn từng chữ là đủ, nhưng cần phải hiểu bản văn theo những quy ước văn chương của thời đại, nghĩa là cần phân tích kỹ lưỡng bản văn bên trong bối cảnh văn chương và lịch sử của nó. Nói cách khác, cần xác định thể văn cũng như nghiên cứu lịch sử văn chương và lịch sử công trình biên soạn. Khi gặp một bản văn ám dụ, nghĩa văn tự của bản văn không phải là nghĩa trực tiếp phát xuất từ việc dịch từng chữ một (ví dụ: “Hãy thắt lưng” Lc 12,25), nhưng là nghĩa tương ứng với cách dùng các từ theo ám dụ (“Hãy sẵn sàng hành động”). Khi bản văn là một câu truyện, nghĩa văn tự không nhất thiết là các sự kiện được thuật lại đã xảy ra thực sự như thế, bởi vì một câu truyện có thể không thuộc loại lịch sử, nhưng là một tác phẩm do trí tưởng tượng mà ra.[4]

Bản văn có một hay nhiều nghĩa văn tự?

Phải chăng một bản văn chỉ có một nghĩa văn tự duy nhất? Nói chung thì đúng như thế. Nhưng đó không phải là một nguyên tắc tuyệt đối, vì hai lý do? Thứ nhất, một tác giả loài người có thể đồng thời muốn nhắm đến nhiều cấp độ của thực tại. Đây là trường hợp thường xảy ra trong văn thể thi ca. Ơn linh hứng Kinh Thánh không khinh thường khả năng tâm lý và ngôn ngữ của nhân loại này. Sách Tin Mừng thứ tư cho ta nhiều ví dụ về khía cạnh này, hạn như “sinh lại” (3,3.4.7), “nước hằng sống” (4,10-14), “đi lên” (7,8). Thứ hai, ngay cả khi một thành ngữ của con người chỉ có duy nhất một ý nghĩa, ơn linh hứng vẫn có thể hướng thành ngữ ấy cách nào đó để nó nảy sinh ra hơn một thứ nghĩa. Đó là trường hợp lời tuyên bố của thượng tế Cai-pha trong Ga 11,50. Lời tuyên bố của ông vừa nói lên một sự tính toán chính trị vô luân lại vừa cho thấy một mạc khải của Thiên Chúa. Cả hai phương diện này đều thuộc về nghĩa văn tự, bởi vì cả hai đều nổi rõ lên nhờ văn mạch. Dù đây có thể là trường hợp hy hữu, nhưng vẫn là trường hợp tiêu biểu nhắc nhở ta phải coi chừng thái độ quá hẹp hòi về nghĩa văn tự của các bản văn được linh hứng.

Khía cạnh năng động của bản văn

Đây có lẽ là phần thú vị và ý nghĩa nhất của văn kiện nói về nghĩa văn tự.

Đặc biệt cần lưu ý các nghĩa văn tự của nhiều bản văn có một khía cạnh năng động khiến ta có thể đọc lại chúng sau này trong những hoàn cảnh mới. Chẳng hạn không nên giới hạn quá chặt chẽ ý nghĩa của các Thánh Vịnh nói về ông vua vào những hoàn cảnh chính trị khi các Thánh Vịnh ấy ra đời. Các Thánh Vịnh ấy vừa nói đến một thể chế thực sự vừa cho thấy một cái nhìn lý tưởng về vương quyền, phù hợp với kế hoạch của Thiên Chúa, đến nỗi bản văn ông viết ra vượt quá thể chế vương quyền thời bấy giờ. Chúng ta có thể so sánh khía cạnh năng động của bản văn với tia sáng của chiếc đèn pin. Tia sáng của đèn pin càng ở phía xa thì sẽ càng rộng lớn hơn tia sáng ở ngay tại bóng đèn.

Một ngành của khoa giải thích hiện đại nhấn mạnh đến sự khác biệt quan hệ ảnh hưởng đến lời nói của con người khi nó được viết ra. Một bản văn có khả năng được đặt vào những hoàn cảnh mới. Những hoàn cảnh mới sẽ soi sáng bản văn theo cách khác, bằng cách thêm những nghĩa mới vào nghĩa nguyên thủy. Khả năng của những bản văn viết này đặc biệt hữu hiệu trong trường hợp bản văn Kinh Thánh, được nhìn nhận là Lời của Thiên Chúa. Ngay từ đầu, nghĩa văn tự đã mở ra những phát triển xa hơn, theo từng thế hệ nối tiếp nhau. Những phát triển này có được là nhờ những “việc đọc lại” trong bối cảnh mới.

“Nhiều” nhưng không “tùy tiện”

Nhưng không vì thế mà ta có thể gán cho bản văn Kinh Thánh bất kỳ nghĩa nào ta thích bằng cách giải thích bản văn đó cách chủ quan. Trái lại, cần phải loại bỏ, phải coi là không thuần nhất bất cứ lối giải thích nào khác xa nghĩa đã được tác giả loài người diễn tả trong bản văn viết của họ. Ví dụ có người giải thích chữ “Lời” trong Ga 1,1 là “lời lãi” kiếm được trong kinh doanh và coi đó là mục tiêu hàng đầu (“Lúc khởi đầu”). Bó tay!

Tương quan nghĩa văn tự và nghĩa thiêng liêng (x. Verbum Domini 37)

Dù nghĩa văn tự rất quan trọng nhưng vẫn chưa phải là tất cả “bữa tiệc” Thiên Chúa muốn nuôi dưỡng con của Người. Hội Thánh nhấn mạnh các tín hữu còn cần tìm hiểu nghĩa thiêng liêng nữa. Truyền thống Giáo phụ và Trung cổ đã để lại những gương mặt bậc thầy và gương mẫu về sự hòa hợp giữa nghĩa văn tự và nghĩa thiêng liêng, cụ thể qua xe “tứ mã” (bài 22). “Dây cương” các ngài dùng để cưỡi xe “tứ mã” chính là đức tin. Tất cả các nghĩa đều được hướng dẫn dựa trên căn bản đức tin. Như vậy, một mặt các tín hữu vẫn cần coi trọng giá trị và sự cần thiết của phương pháp phê bình lịch sử (để xác định nghĩa văn tự), nhưng mặt khác, cũng cần học nơi các Giáo phụ để nối kết thực tại mà bản văn Kinh Thánh nói tới với kinh nghiệm đức tin trong đời sống hằng ngày hôm nay. Chỉ khi đó, dưới tác động của Chúa Thánh Thần, Lời Chúa mới thực sự trở nên sống động và ngỏ lời với mỗi người, trong hoàn cảnh sống, và dẫn đưa họ vào bàn tiệc đời sống mới trong Chúa Kitô.

LM. JM. Mười Một, CSsR


[1] Hoặc nghĩa đen, nghĩa theo chữ. Bài này dựa trên văn kiện Việc Giải Thích Kinh Thánh Trong Hội Thánh và quyển Catholic Principles for Interpreting Scripture của Peter S. Williamson,163-188.

[2] X. các nghĩa của bản văn Kinh Thánh được linh hứng ở bài số 22.

[3] X. các bài số 14-17 trước đây về lối giải thích bảo thủ này.

[4] Xét về khía cạnh thuần túy lịch sử hay văn chương, Kinh Thánh không đơn giản là một quyển sách duy nhất nhưng là một “thư viện”, một bộ sưu tập trải dài hàng ngàn năm. Trong quyển Kinh Thánh có nhiều thể văn, mỗi thể văn có cách diễn tả chân lý khác nhau, hạn như thi phú, sấm ngôn, khải huyền, lịch sử, Tin Mừng, chuyện hư cấu, dụ ngôn, cách ngôn, chuyện tình ái,…

About these ads

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s